.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn XUÂN QUỲNH-LƯU QUANG VŨ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn XUÂN QUỲNH-LƯU QUANG VŨ. Hiển thị tất cả bài đăng

Sự ám ảnh về cái chết trong cuộc đời và tác phẩm của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ

Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012 | 03:43


Sự ám ảnh về cái chết trong cuộc đời và tác phẩm của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ

Written By kinhtehoc on Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012 | 23:57

Sự ám ảnh về cái chết trong cuộc đời và tác phẩm của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ

Phạm Ngọc Hiền

Có một câu danh ngôn rất hay: “Sự chết là con lạc đà đen quỳ đợi ngay trước cổng nhà của tất cả mọi người” (Abe- el -Kader). Không ai tránh khỏi cái chết, bởi vậy không ai là không nghĩ đến nó. Nhưng vấn đề là quan tâm nhiều hay ít và bộc lộ sự ám ảnh đó dưới hình thức nào. Đối với nhiều văn nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật là nơi thăng hoa và giải thoát thích hợp nhất cho những dự cảm và triết lý của họ về cái chết. Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ cũng vậy, cái chết của hai người dường như đã được báo trước trong những tác phẩm của họ.
Trước tiên, ta hãy nói đến Xuân Quỳnh (1942 – 1988). Phải nói, đại đa số thơ của chị (viết cho người lớn) mang nặng nỗi ám ảnh về cái chết, sự chia lìa, tàn tạ. Thống kê 6 tập thơ mà chị công bố lúc còn sống, ta thấy số lượng và tỷ lệ bài đề cập đến nội dung này như sau: Chồi biếc (in năm 1963) : 9 (50%); Hoa dọc chiến hào (1968) : 21 (75%); Gió Lào cát trắng (1974) : 31 (86%); Lời ru trên mặt đất (1978) : 24 (75%); Sân ga chiều em đi (1983) : 44 (71%); Tự hát (1984) : 31 (89%). Tổng cộng các tập, ta có tỷ lệ 76%. Đó là hiện tượng hy hữu trong thơ ca cách mạng Việt Nam. Và đó cũng là bản lĩnh của Xuân Quỳnh vì trong bối cảnh thời đó, người ta không khuyến khích viết về nỗi buồn và cái chết, sợ nó ảnh hưởng không tốt đến lòng tin và sức chiến đấu của mọi người. Nhưng biết làm sao được, vốn là người đa cảm, Xuân Quỳnh không thể thờ ơ được trước cái chết của đồng bào mình sau “Mười hai ngày” gánh chịu những trận mưa bom B.52 của giặc: “Mười hai ngày cùng tận của lòng đau/Cô Ngọc Tường chết ở Bạch Mai/Chiếc áo cưới thay cho vải liệm/ Gió đông bắc thổi qua nền gạch vụn/ Trên máu người bị giết ở Khâm Thiên”. Những câu thơ đó gợi lên lòng căm thù giặc hơn là bi lụy. Dành hết trí lực để quan tâm nhiều đến cái chết của đồng bào, cho nên có lúc, chị sẵn sàng xoá tên người yêu ra khỏi bộ nhớ của mình: “Dẫu trong em một tình yêu đã mất/ Em không còn đủ sức nghĩ về anh”. Riêng “Vết đạn trên tường” thì cứ ám ảnh chị, bởi nó hiện thân cho sự chết chóc : “Nhiều việc quá, khó ai mà nhớ hết. Riêng vết đạn trên tường không dễ nào quên”. Không riêng gì Xuân Quỳnh mà bất cứ ai thời đó cũng bị ám ảnh bởi cái chết, bởi “Các bãi sông đầy bom nổ chậm”, “Mọi con đường mang nỗi đau đạn lửa…” .Sự hiểm nguy và chết chóc đã trở nên quá quen thuộc với mọi người : “Đã quen nhiều gian khổ/ đã quen nhiều hy sinh”. Trong “ngàn cái chết” mà Xuân Quỳnh gặp, có nhiều đồng đội vừa mới kề vai sát cánh với chị “Các anh nằm bên những ngã ba./ Nơi bom dội không còn ngọn cỏ” , “Dòng nước lợ mang máu anh về bể” , “Máu của cô nhuộm đỏ bờ lau” … Xuân Quỳnh không hề dùng biện pháp nhã ngữ để làm giảm bớt tính khốc liệt của cuộc chiến. Chị cứ nói thật những nỗi đau mà chính chị cũng đã từng trải “Máu đồng đội và máu tôi đã đổ/ Trên cát này mà gió quạt vừa se” (Gió Lào cát trắng); “Máu của em, máu của anh/ Thấm bên góc phố, chân thành ngày xưa” (Lai lịch một tình yêu). Thơ Xuân Quỳnh đề cập quá nhiều đến cái chết, mặc dù chị vẫn biết rằng “Người chết sẽ chẳng bằng lòng nếu chúng tôi quá đau thương”.Bởi vậy, chị cũng biết “Hát với con tàu” nhưng tiếng hát ấy vẫn không át được tiếng gầm thét của con tàu lao ra trận tuyến. Và vẫn không xua tan được nổi ám ảnh về cái chết vì chính chị cũng đang xông xáo lao vào những nơi ác liệt nhất: “Tôi sẵn sàng đem hiến cả đời tôi/ Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa”, “Sống đất này, chết cũng đất này thôi”… Mặc dù sống trong bom đạn suốt 30 năm, nhưng may thay chị đã không chết vì bom đạn.
Chiến tranh không phải là nguyên nhân duy nhất làm cho Xuân Quỳnh luôn bị ám ảnh về cái chết. Từ ngàn xưa, con người đã lo nghĩ về nó, như một nhà nghiên cứu văn học đã nhận định: “Nỗi day dứt vào bậc nhất trong suy cảm trữ tình của con người bao đời nay là day dứt về chuyện CÒN – MẤT của những gì với mình là quý giá thiêng liêng. Người càng giàu tiên cảm, giàu dự cảm lo âu về mất mác rủi ro, thì day dứt càng ám ảnh hơn” (I, tr 26). Thơ Xuân Quỳnh tràn ngập những suy tư, trăn trở về việc sống – chết. Vì sao mà hình thành một cái tôi Xuân Quỳnh mang nhiều ám ảnh về cái chết như vậy?. Hãy đi ngược dòng thời gian để tìm về thời thơ ấu của chị. Mẹ Xuân Quỳnh mất khi chị còn quá nhỏ, cha liền lấy vợ khác rồi vào Nam sinh sống. Suốt đời Xuân Quỳnh thiếu thốn tình cảm của cha mẹ. Theo lời Đông Mai (Chị ruột Xuân Quỳnh) “Nỗi đau mất mẹ đã ám ảnh suốt một đời Quỳnh” (II, tr 278). Chị đã sớm hình thành nỗi đau của một đứa trẻ bơ vơ côi cút giữa dòng đời “Tuổi thơ tôi lạc lõng giữa đời/ Như một cánh chim bơ vơ mất tổ” (Tiếng mẹ). Mới “Mười bảy tuổi”, đã sớm lo âu trăn trở về lẽ sinh – diệt của vạn vật. Trong bài “Chồi biếc”, cô thiếu nữ Xuân Quỳnh đã dự cảm về cái chết : “Này anh, em biết/ Rồi sẽ có ngày/ Dưới hàng cây đây/ Ta không còn bước/ Như người lính gác/ Đã hết phiên mình/ Như lá vàng rụng/ Cho trời thêm xanh”. Thơ Xuân Quỳnh thường mang nặng nỗi ám ảnh tàn phai, tiêu biểu là bài “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ đã được phổ nhạc và được giới trẻ rất yêu thích: “Cuối trời mây trắng bay/ Lá vàng thưa thớt quá/ Phải chăng lá về rừng/ Mùa thu đi cùng lá”… Xuân Quỳnh thường ví mình với những sự vật nhỏ nhoi, yếu ớt : Lá vàng, hoa rơi, hoa dại, cây tứ quý đất nghèo, cây kinh giới bùn lầy, hoa cỏ may dân dã, hoa cúc nhỏ nhoi, hoa tường vi nhỏ nhắn … Chị còn ví mình như “Hoa Ti gôn” : “Cánh hoa như lệ vỡ/ Như máu vừa mới sa/ Như hàng vạn giọt mưa/ Của nỗi buồn không dứt”. Nói chung đó là những bông hoa buồn nhỏ bé tội nghiệp nép mình “Trong mảnh vườn đã tối”. Chị cũng dùng rất nhiều hình tượng con tàu – sân ga (và thuyền – biển) để thể hiện sự chia ly, cách trở. Chị có rất nhiều câu thơ thể hiện nỗi buồn đau day dứt như : “Tránh sao khỏi sầy da rớm máu” , “Áo em rộng, lòng em tan nát”, “Xém lòng một vết đau”, “Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều” , “Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư” … Và có thể còn rất nhiều câu thơ buồn hơn thế nữa nhưng không được công bố. Trong số bảy tập thơ của chị đã công bố, nỗi buồn thể hiện rõ nhất ở hai tập cuối : Tự hát (1984) và Hoa cỏ may (1989). Trong tập Hoa cỏ may (Giải thưởng văn học 1990 của Hội nhà văn), trái sầu đã đạt đến độ chín mùi, khi nỗi “nhức nhối đắng cay” đã “đến tận cùng đau đớn”. Lúc mà ở ngoài đời chị càng lặng lẽ thì trong thơ chị chứa “Bão táp ở từng trang” Chị như con “Chuồn chuồn báo bão” đã biết trước được cơn bão tố sắp ập đến, và nạn nhân sẽ là nó nhưng cánh chuồn yếu ớt, bơ vơ làm sao chạy trốn khỏi định mệnh.
Thần Chết thường là bạn đồng hành với Thời Gian. Những người đa tình, ham sống thường rất ghét Thời Gian. Nữ sĩ Xuân Hương than thở “Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại”, Xuân Diệu cũng chua chát thốt lên : “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất” . Vốn cũng mang trong mình chữ “Xuân” nên Xuân Quỳnh cũng không khỏi lo âu và tự hỏi “Mùa xuân sẽ về đâu/ Khi nơi này xuân hết?” (Mười bảy tuổi). Khi thấy “Thoáng sợi bạc trên mái đầu bỡ ngỡ”, chị càng lo cho sự phai tàn của xuân sắc, vì rằng số lượng nếp nhăn và sợi tóc trắng bao giờ cũng tỷ lệ nghịch với số lần hôn nhau và nhìn nhau say đắm. Là một người nhạy cảm, Xuân Quỳnh rất lo sợ cho thân phận tình yêu : “Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn/ Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi/ Niềm đau đớn tưởng như vô tận” (Nói cùng anh). Rồi chị lại lo cho một ngày “Cuộc sống trở về bình yên”, con người sẽ tha hoá, không còn giàu cảm xúc để yêu nhau và để làm thơ : “Và trong em không thể còn anh/ Nếu ngày mai em không làm thơ nữa”. Yêu nhiều và lo lắng quá nhiều thứ trong cuộc sống đời thường như vậy đã làm cho con tim Xuân Quỳnh mệt mỏi. Chị đã cảm nhận điều đó trong bài “Tự hát” : “Em lo âu trước xa tắp đường mình/ Trái tim đập những điều không thể nói/ Trái tim đập cồn cào cơn đói/ Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn”. Chị đã biết trước đời mình như một ngọn đèn le lói sắp tắt. Tháng 6/1988, Xuân Quỳnh bị đau tim nặng phải vào bệnh viện. Trên giường bệnh, chị làm bài thơ “Thời gian trắng” thể hiện rõ sự ám ảnh về cái chết : “Em ở đây không sớm không chiều/ Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng/ Trái tim đập sau làn áo mỏng/ Từng đập vì anh, vì những trang thơ/ Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ/ Chỉ có đập cho mình em đau đớn/ Trái tim này chẳng còn có ích/ Cho anh yêu, cho công việc, bạn bè”. Chị đã nhìn thấy rõ ràng Thần Chết đang đợi chị. Theo lời thuật của bà Vũ Thị Khánh (mẹ chồng Xuân Quỳnh) : “Bác sĩ bảo bệnh của Quỳnh rất nặng, chỉ sống được vài năm nữa thôi” [I, tr 272]. Nhưng Xuân Quỳnh đã không chết vì bệnh tim .
Chồng chị, Lưu Quang Vũ (1948-1988) cũng giống chị ở chỗ, có một giọng thơ buồn ám ảnh và nhìn chung là lạc điệu giữa môi trường văn học thời ấy. Trong cảnh chiến tranh, mối quan tâm hàng đầu của anh vẫn là cái chết của đồng loại. Anh đã “Nói với con cuối năm”: “Thành phố vừa trải qua/ Những trận bom huỷ diệt/ Lòng cha giờ dập nát/ Những xác người máu loang/ (…) Cha làm sao nói được/ Những nỗi đau lầm lạc đợi trên đường/ Cái ác đen sì trong mỗi quả bom”. [V] Bên cạnh nỗi đau chung của cả thời đại, anh cũng có nỗi buồn mang tính cá nhân: “Anh là con ong bay giữa trời lận đận”, “Đã chết rồi ơi chú ong nâu” (Bầy ong trong đêm sâu). Nhà phê bình Vương Trí Nhàn nhận xét: “Thơ anh có phần ngả sang giọng xót xa, tê tái (…) đôi khi, người ta còn bắt gặp nơi anh một nỗi buồn mạnh mẽ, gần giống như sự phẫn uất” [VI, Tr.11]. Như vậy, ta có thể nói rằng: “Sự buồn rầu và chán đời luôn thường trực trong tâm trạng anh”, đến khi nổi tiếng trong làng kịch “Anh vẫn buồn. Phải chăng là định mệnh” (Nguyễn Thị Hồng Ngát) [I, tr 230]. Vào những năm 1980, Lưu Quang Vũ trở thành ngôi sao sáng trên sân khấu kịch trường Việt Nam. Anh đã thổi một luồng gió mới vào đời sống nghệ thuật nước nhà và nhiều vở kịch của anh đã có tác dụng rất lớn đến xã hội Việt Nam lúc đó. Tên tuổi lừng danh như vậy đáng lẽ anh phải vui nhưng rất nhiều vở kịch của anh vẫn thể hiện sự ám ảnh về cái chết. Trong bài “Phép ứng xử với cái chết trong kịch Lưu Quang Vũ”, nhà phê bình Phan Trọng Thưởng viết : “Hầu như ít vở kịch nào của Lưu Quang Vũ cái chết không được nhắc đến” (I, tr 134), “Sự ra đi của anh có gì như huyền bí, như là có sự chuẩn bị trước ở đâu đó rồi, ngay cả trong linh cảm của anh” (I, tr 138). Tác phẩm cuối cùng mà anh đang viết dở dang là “Chim sâm cầm đã chết”, anh ví mình như một loài chim quý hiếm, tuy đã được hoá thân nhưng những gì đã làm được cho đời vẫn còn sống mãi. Đấy là “Điều không thể mất” (tên vở kịch hoàn chỉnh cuối cùng của đời anh). Vâng, “Cái chết sẽ không tồn tại khi một người đã hoàn thành tốt đẹp sự nghiệp của cuộc sống” (Hô-xê mác-ti)
Sự ra đi đột ngột của một nhà thơ và một nhà soạn kịch nổi tiếng đã gây chấn động cả nước. Hàng triệu con tim yêu thích nghệ thuật đã thổn thức đau buồn và luyến tiếc cho hai tài năng lớn đã ra đi trong khi sức sáng tạo vẫn còn dồi dào và hứa hẹn sẽ cống hiến nhiều hơn cho đất nước. “Sự phi thường và tài năng nở rộ như huyền thoại đã đem đến sự giải thích về cái chết của anh màu sắc huyền bí” (Phạm Thị Thành) [I, tr. 223]. Ta hãy theo dòng dư luận để thử xem cái chết của họ có được báo trước hay không. Theo Lưu Quang Định, thì thời còn đi học phổ thông, Lưu Quang Vũ đã ghi nhật ký (ngày 8/11/1964) như sau : “Thần chết ơi, ta chẳng cần nhiều đâu. Độ 20 năm nữa, khi ta đã trả nợ xong, khi có thể coi là đã làm được chút gì đó cho đời, ta sẽ chẳng ân hận gì khi nhắm mắt. Đấy, chỉ tiêu của ta có ngắn ngủi không ? ”. [I, tr. 242]. Trước khi chết mấy ngày, Lưu Quang Vũ có tâm sự với nhà phê bình Phan Trọng Thưởng : “Người ta bảo mình không thọ lâu, chẳng biết đúng hay sai” [I, tr.138]. Còn Nguyễn Thuỵ Kha thì kể lại : “Hôm được tin Vũ mất, trước nửa giờ, ở giữa sân khấu lớn Hà Nội, cả một tràng pháo dài trang trí cho kịch “Bệnh sĩ” của Vũ đã rơi xuống tôi và nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc. Cái áo trắng tôi mặc bị hoen đầy màu đỏ, đỏ như máu (…) tôi vẫn nghĩ đó là thông báo cuối cùng của Vũ với bạn bè trước lúc đi xa mãi mãi” [IV, tr.175]. Họa sĩ Doãn Châu, người thân cuối cùng chứng kiến cái chết của họ, đã kể lại như sau : Hôm ấy là ngày 29/8/1988, tức là tháng 7 âm lịch (tháng cao điểm của tai nạn giao thông hàng năm), và chỉ sau ngày rằm xá tội vong ân có mấy hôm (rất tiếc là hiện nay, có quá nhiều người thờ ơ với lễ tục đầy tính nhân văn này). Chiếc Com-măng-ca chở 6 người : Vũ – Quỳnh và cháu Lưu Quỳnh Thơ (13 tuổi), Doãn Châu cùng vợ và con nhỏ. Xe đang đi từ Hải Phòng về Hà Nội, ngang qua địa phận Hải Dương thì bị chiếc xe ô tô chở than phóng với tốc độ lớn đâm vào phía sau. Điều lạ thường là gia đình hoạ sĩ Doãn Châu đều bình yên vô sự. “Hình như số phận đã sẵn lòng ghen ghét, đố kỵ với tài hoa nên cả 6 người cùng ngồi trên một xe, cùng một khoảnh khắc nghiệt ngã mà Vũ, Quỳnh, cháu Mí thì đã vĩnh viễn bị cướp đi…” (Doãn Châu – “Niềm bí ẩn của sáng tạo và sự chết”) [I, tr. 202].
Sau tai nạn thảm khốc đó, người ta đã đưa ra nhiều giả thiết khác nhau để chứng minh rằng, số phận nghiệt ngã của Xuân Quỳnh đã được báo trước trong cuộc đời và tác phẩm của chị. Có người đã “xem tướng số” qua đôi mắt và giọng nói của chị như sau: Đôi mắt “Vừa chăm chắm, vừa phiền muộn và đâu đó hình như có những giọt nước mắt ngấp nghé chỉ muốn trào qua bờ mi. Đặc biệt nhất là giọng nói, bao giờ giọng nói của Quỳnh cũng run rẩy nghẹn ngào như có tiếng khóc ở bên trong. Bằng vào hai thông số đặc biệt ấy của chân dung, người ta không thể đoán định một số phận tốt hơn cho Xuân Quỳnh” (Nguyễn Thị Minh Thái – “Một giọng thơ tình ám ảnh”) [I, tr. 46]. Vì sao Xuân Quỳnh phải chịu một số phận nghiệt ngã như vậy, bởi chị có tài sắc hơn người. “Thật hiếm có người đàn bà vừa có tài, có sắc đẹp, lại có trí tuệ sắc sảo như Xuân Quỳnh” (Nguyễn Thị Như Trang) [II, tr. 349]. Bởi vậy, nói như Nguyễn Du : “Chữ tài liền với chữ tai một vần” , “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”, “Rằng hồng nhan tự nghìn xưa/ Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu” … Có lẽ dự cảm được số phận của mình như vậy nên Xuân Quỳnh đến với thơ để giải thoát bớt niềm đau: “Cuộc đời và thơ Xuân Quỳnh là một nỗ lực thoát khỏi chơ vơ định mệnh (…) và phải đến khi tai nạn phủ phàng ập xuống quá bất ngờ, người đời mới thấy rằng những dự cảm lo âu suốt một đời người, một đời thơ ấy sao mà linh nghiệm” (Chu Văn Sơn) [I, tr. 30]. Còn Lưu Khánh Thơ cũng thừa nhận : “Có cái gì như là định mệnh khi chị kết thúc cuộc đời cùng chồng con vào một ngày tháng 8 đau xót. Chị vĩnh biệt chúng ta vào mùa thu. Những bông hoa cúc vàng mà chị đã từng yêu, từng nói đến trong các bài thơ đã phủ kín ngôi mộ. Những bông hoa phúng điếu, tưởng niệm rồi sẽ tàn” [I, tr. 41] .
Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ có nhiều điểm tương đồng nhau: từng có một lần hôn nhân dang dở và mỗi người có một con riêng. Từng đứng trên trận tuyến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc và đối diện thường xuyên với cái chết. Thơ của hai người đều thể hiện sự ám ảnh về cái chết và mang âm hưởng buồn. Từ khi hai người đến với nhau, hai nỗi buồn được cộng lại tạo ra nỗi buồn lớn hơn, và cũng từ đây, sự nghiệp của họ đạt tới đỉnh cao. Nói như thi sĩ Pháp Muytxê : “Không có gì làm cho ta lớn bằng một nỗi đau lớn. Tiếng hát tuyệt vọng là tiếng hát tuyệt vời nhất”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1- Xuân Quỳnh –Lưu Quang Vũ, tình yêu và sự nghiệp – Lưu Khánh Thơ biên soạn – NXB hội nhà văn – H.1994
2- Nữ sĩ Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại – Ngân Hà biên soạn – NXB Văn hoá thông tin, H. 2001.
3- Xuân Quỳnh, thơ và đời, Vân Long biên soạn – NXB Văn hoá, 1995.
4- Phê bình, bình luận văn học : Quang Dũng, Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh – Vũ Tiến Quỳnh biên soạn – NXB Văn nghệ, 1995.
5- Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại – Hội văn học nghệ thuật Đà Nẵng – 1989.
6- Thơ Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ – Vương Trí Nhàn giới thiệu, tuyển chọn – NXB Giáo dục – 2002.
* Có thể đặt lại tên tác phẩm là :
- Dự cảm về cái chết trong sáng tác của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.
- Xuân Quỳnh- Lưu Quang Vũ và cái chết đã được báo trước.
- Có phải chăng : Cái chết của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ đã được báo trước trong những sáng tác của họ?

Trước tờ giấy trắng

Written By kinhtehoc on Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012 | 00:18

Trước tờ giấy trắng
Chị ngồi trước tờ giấy trắng
Hàng giờ không viết một câu
Bóng cây ngắn dầu theo nắng
Đàn trâu chậm chạp qua cầu

Mái tôn nóng bừng ngột ngạt
Trán con lấm tấm mồ hôi
Cổng đồn mấy tên lính gác
Đứng im như chết lâu rồi

Con bé nhay nháy vú mẹ
Bàn tay nhỏ xíu mân mê
Chum chúm môi hồng nở hé
Chói chang nắng lửa trưa hè

Có gì cay cay trong mắt
Có gì mằn mặn trên môi
Không, không thể là nước mắt
Cắn răng quyết giữ cuộc đời!

Vụt hiện những ngày kháng chiến
Giành từng góc ruộng bờ ao
Vụt hiện những ngày trên bến
Vẫy khăn anh bước xuống tàu

Chúng muốn em cầm dao cắt ruột
Xẻo từng thớ thịt, đường gân
Cả biển rộng và trời xanh bát ngát
Của đôi ta và Tổ quốc yêu thân.

Anh ơi anh, anh có nghe con khóc
Đôi tay gầy cuống quýt bíu vai em
Em điên mất, kìa làn môi mọng ướt
Rời vú em vẫn còn nút còn thèm

Có nên viết để con ta được sống
Dù một ngày, một buổi nữa rồi thôi
Đứt ruột sinh con, đêm nào mình mẹ
Lẽ nào giọt nắng chết trong nôi..

Chị bỗng giật mình nhìn con trông nuối
Đôi mắt con như hờn dỗi nghẹn ngào
Con không nói nhưng chị nghe tiếng nói
Có thể nào như thế được, mẹ ơi!

Thoáng bóng ai về bên cạnh chị
Mào áo quen quen, mắt sáng ngời
Da sém nắng, mặt buồn nghiêm nghị
Có thể nào như thế được, em ơi!

Chị bỗng vùng lên, tưởng đang nắm tay chồng
Day dứt quá giữa buồn vui mừng giận
Lũ quỉ ập vào, dí súng bên hông
Chị vẫn ngồi nghiêm trước tờ giấy trắng.

Lá thư thành phố

Lá thư thành phố
Ôi dòng chữ tím nghiên nghiên nét
Mảnh giấy vàng hoe chẳng kẻ dòng
Anh nghe hơi ấm bàn tay nhỏ
Trên phong bì đậm dấu quê hương

Thư em đến giữa mùa mưa gió
Hé một trời xuân nắng hừng lên
Mưa vẫn rơi nhiều trên đất đỏ
Quê nhà em ở, nhớ mông mênh

Con vẫn ăn chơi, em vẫn khỏe
Anh yên lòng nhé chốn xa xăm
Dãy bầu sai trái bên đầu ngõ
Vẫn đợi anh về hái nấu canh

Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ
Nó khóc làm em cũng khóc theo
Anh gởi về em manh áo cũ
Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều !

Nhà ta mấy bận mưa hư nát
Mái lá tơi bời lạnh gối chăn
Em không buồn lắm vì em biết
Anh khổ nơi xa gấp mấy lần

Cao su.. rừng núi sương rưng lệ
Trời! Những đêm dài lạnh cắn răng
Em thương anh khổ vì con, vợ
Đem giọt mồ hôi đổi miếng ăn

Em biết anh không ngừng chiến đấu
Muôn ngàn anh chị ở bên anh
Bao giờ em được lên trên ấy
Vá áo cho anh rách lại lành

Anh gục đầu trên dòng chữ nhỏ
Mà lòng thổn thức suốt canh thâu
Tưởng thấy bóng em sau cánh liếp
Đêm đêm nghe gió rít qua đầu

Nửa căn nhà trống, vài phiên chợ
Đôi cánh tay gầy, một mụn con
Mưa nắng đã phai màu áo cưới
Giấc mơ còn lại: một lưng cơm

Vì ai em khổ, con ta khổ
Đây đó tuy gần vẫn quá xa
Mủ cao su chảy đông thành máu
Tức nước ngày mai phải vỡ bờ

Em thấy không em trời hửng sáng
Từng đêm rồi cũng sẽ qua nhanh
Một vùng thành phố thân yêu ấy
Đang ở nơi này, ở với anh.

Anh

Anh
Cây bút gẫy trong tay
Cặn mực khô đáy lọ
Ánh điện tắt trong phòng
Anh về từ đường phố
Anh về từ trận gió
Anh về từ cơn mưa
Từ những ngày đã qua
Từ những ngày chưa tới
Từ lòng em nhức nhối...

Thôi đừng buồn nữa anh
Tấm rèm cửa màu xanh
Trang thơ còn viết dở
Tách nước nóng trên bàn
Và lòng em thương nhớ...

Ở ngoài kia trời gió
Ở ngoài kia trời mưa
Cây bàng đêm ngẩn ngơ


Nước qua đường chảy xiết
Tóc anh thì ướt đẫm
Lòng anh thì cô đơn
Anh cần chi nơi em
Sao mà anh chẳng nói

Anh, con đường xa ngái
Anh, bức vẽ không màu
Anh, nghìn nỗi lo âu
Anh, dòng thơ nổi gió...
Mà em người đời thường
Biết là anh có ở !

19-7-1973
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Bàn tay em

Bàn tay em
Gia tài em chỉ có bàn tay,
Em trao tặng cho anh từ ngày ấy,
Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy
Quá khứ dài là mái tóc em đen .
Vui, buồn trong tiếng nói, nụ cười em,
Qua gương mặt anh hiểu điều lo lắng,
Qua ánh mắt anh hiểu điều mong ngóng ,
Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay ?

Bàn tay em ngón chẳng thon dài
Vết chai cũ, đường gân xanh vất vả .
Em đánh chắt, chơi thuyền thưở nhỏ ,
Hái rau dền, rau rệu nấu canh,
Tập vá may, tết tóc một mình,
Rồi úp mặt lên bày tay khóc mẹ

Đường tít tắp không gian như bể,
Anh chờ em, cho em vịn bàn tay
Trong tay anh, tay của em đây
Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ .
Trời mưa lạnh, tay em khép cửa ,
Em phơi mền, vá áo cho anh .
Tay cắm hoa, tay để treo tranh,
Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc .
Năm tháng đi qua, mái đầu cực nhọc ,
Tay em dừng trên vầng trán lo âu .
Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau .
Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngã .
Khi anh vắng, bàn tay em biết nhớ
Lấy thời gian đan thành áo mong chờ .
Lấy thời gian em viết những dòng thơ
Để thấy được chúng mình không cách trở .

Bàn tay em, gia tài bé nhỏ ,
Em trao anh cùng với cuộc đời em
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Chồi biếc

Chồi biếc
Dưới hai hàng cây
Tay ấm trong tay
Cùng anh sóng bước
Nắng đùa mái tóc
Chồi biếc trên cây
Lá vàng bay bay
Như ngàn cánh bướm

(Lá vàng rụng xuống
Cho đất thêm màu
Có mất đi đâu
Nhựa lên chồi biếc)

Này anh, em biết
Rồi sẽ có ngày
Dưới hàng cây đây
Ta không còn bước
Như người lính gác
Đã hết phiên minh
Như lá vàng rụng
Cho chồi thêm xanh

Và đời mai sau
Trên đường này nhỉ
Những đôi tri kỷ
Sóng bước qua đây
Lá vàng vẫn bay
Chồi non lại biếc
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Chuồn chuồn báo bão

Chuồn chuồn báo bão
Con chuồn ngô hay làm dáng
Chao mình soi mặt ao trong
Đốt cháy lòng một nét chờ mong
Con chuồn đỏ thân ngời như ngọn lửa
Con chuồn vằn mang những điều kì lạ
Với đứa trẻ nào chưa biết bơi
Ơi cánh chuồn gợi những buồn vui
Cánh chuồn nào bay vào những nỗi nhớ?
Ngon sào thưa cánh buồm ai ngái ngủ
Những cánh buồm mỏng mảnh như tình yêu!
Gió heo may hôm nay về chăng
Mà chuồn chuồn bay về dăng dăng
Báo cơn bão phương nào thổi tới?

Đường sẽ vắng nếu trời bão nổi
Cánh cửa nhà sập lại trước khi mưa
Con chim tìm tránh bão sẽ về xa
Con kiến nhỏ cũng ẩn mình trong tổ
Không còn trời xanh chỉ mưa và gió
Những dòng sông không nhà cửa miên man
Và mây, mây khắp chốn lang thang
Chặn bốn phía những cỏ cây tội nghiệp
Cho cơn lốc dữ tợn về bẻ nát
Trái đất này sẽ nhấn chìm trong mưa
Không tìm đâu một chỗ nương nhờ!
Mỏng manh thế chịu làm sao nổi
Chuồn chuồn ơi báo làm chi bão tới
Trời bão lên rồi mày ở đâu ?
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Cỏ dại

Cỏ dại
“Cỏ dại quen nắng mưa
Làm sao mà giết được
Tới mùa nước dâng
Cỏ thường ngập trước
Sau ngày nước rút
Cỏ mọc đầu tiên"

Câu thơ nào trong ý nghĩ vụt lên
Khi tôi bước giữa một rừng cỏ dại
Không nhà cửa. không bóng cây. Tim lối
Cứ cường hào rẽ cỏ mà đi.

Người dân quân tì súng lắng nghe
Bài hát nói về khu vườn đầy trái
Anh bỗng nghĩ đến một vùng cỏ dại
Nỗi nhớ đầu anh nhớ quê anh

Mảnh đạn bom và chất lân tinh
Đã phá sạch không còn chi nữa
Chỉ có sắt chỉ còn có lửa
Và cuối cùng còn có đất mà thôi

Thù trong lòng và cây súng trên vai
Cùng đồng đội anh trở về làng cũ
Anh nhận thấy trư­ớc tiên là cỏ
Sự sống đầu anh gặp ở quê hư­ơng

Có một lần anh tìm đến bà con
Khi xúm xít quanh anh thăm hỏi
Giữa câu chuyện có điều này đau nhói:
- Đất quê mình cỏ đã mọc lên chư­a?

Trong cuộc đời bình yên tựa nghìn x­ưa
Gần gũi nhất vẫn là cây lúa
Trư­a nắng khát ­ước về vư­ờn quả
Lúc xa nhà nhớ một dáng mây
Một dòng sông, ngọn núi, rừng cây
Một làn khói, một mùi h­ương trong gió...

Có mấy ai nhớ về ngọn cỏ
Mọc vô tình trên lối ta đi
Dẫu nhỏ nhoi không đáng nhớ làm chi
Không nghĩ đến như­ng mà vẫn có

Vĩnh Linh 1969
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Cố đô

Cố đô
Với vết chân của bầy dã thú
In trên nền gạch cũ trước lăng vua
Với dòng sông như không chảy bao giờ
Vẫn mờ ảo ngàn năm màu sương khói
Tà áo trắng bay về đâu vời vợi
Con thuyền khuya trăng gọi phía nguồn xa
Màu nắng in trong mắt tự ngàn xưa
Căn nhà cũ, mảnh vường hương ngày cũ
Dẫu hiện tại mà như quá khứ
Là quê hương dù không phải quê hương.

Dường như đây, tôi có nỗi buồn
Có hạnh phúc, có một thời thơ bé
Có khát vọng những năm còn rất trẻ
Tôi thuộc từ ngọn cỏ đến nhành cây
Tôi thương về vời vợi những trời mây
Nhịp tim đập tiếng chuông ngày nắng xế.

Đường xa ngái cho lòng da diết thế
Con nước nào ra bể chiều nay
Đến nao lòng là giờ phút chia tay
Con sông cũ mảnh vườn xưa ngày cũ
Như vĩnh biệt tuổi thơ và quá khứ
Bạn bè ơi dẫu tôi sẽ quay về
Nhưng chắc rằng tất cả chẳng như xưa
Tôi sẽ khác, cố đô rồi cũng khác.

Huế, 11-1984
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Cơn mưa không phải của mình

Cơn mưa không phải của mình
Giếng cũ cạn rồi - gần ba tháng nắng
Cổ chúng tôi khô cây cỏ úa vàng
Bốn xung quanh chỉ toàn nước mặn
Dưới chân người cát bỏng như rang
Không rừng cây làm sao có nước nguồn
Những dòng sông biển ngăn không tới đảo
Đám mây khô trên đầu cũng héo
Trời hút xanh. Đâu rồi cơn mưa!

Ở chân trời đã sấm chớp rồi kia
Mây đen đến, gió xanh mặt biển
Sóng reo mừng, chúng tôi chờ đón
Nhưng mưa chẳng tới đây mưa rất xa
Cơn mưa kia nào phải của ta!

Sao mẹ chẳng sinh con ở dưới những cơn mưa
Lại sinh con nơi đảo khô cằn thế
Lòng khắc nghiệt đôi khi thầm trách khẽ
Nhưng mẹ tôi cũng đang khát kia mà
Biết nước đâu mà đợi mà chờ
Chỉ có nắng bốn bề nắng... nắng...
Con đư­ờng dư­ới chân tôi rạn nứt
Con đư­ờng tôi đi từ những b­ước đầu tiên
Con đư­ờng đi đến tuổi thanh niên
Cùng đồng chí, bạn bè thân thuộc
Và cây lúa nuôi tôi từ trứng nư­ớc
Biết bao năm đội đất nảy mầm
Giờ úa vàng không kịp trổ bông
Dứa dại bao đời chắn bão dông
Cho cuộc sống đảo này yên ổn
Giờ bàng gai nhìn tôi trách móc
Rặng phi lao chẳng còn reo hát
(Hàng cây mà anh đi dạo cùng em)
Cây giận rồi gió cũng lặng im

Biết chạy đâu chạy đâu cho yên
Giữa mảnh đất của mình sinh đẻ
Tôi chợt nghĩ đến bàn tay và xấu hổ
Đã lâu rồi tôi quên có bàn tay !

Chúng tôi đào, đào suốt đêm ngày
Moi đất đá để tìm ra nư­ớc
Đào bằng nỗi đau của con đư­ờng rạn nứt
Bằng sự trả ơn cây lúa nuôi mình
Bằng màu xanh đời đ­ược hồi sinh
Bằng lời trách cây dứa gai thiếu nư­ớc
Bằng nỗi giận hàng phi lao không hát
Chúng tôi đào bằng nỗi khát lòng tin

Nước đây rồi ơi bạn bè anh em!
Chúng tôi vục trăm gầu nước mát
Trận mưa này mưa từ lòng đất
Trận mư­a này, mưa của chúng tôi
Đằng xa kia sấm chớp ở chân trời
Cơn mưa đến gió xanh mặt biển
Cơn mưa đến - nào cần chi biết
Cơn mưa kia không phải của mình

25-11-1970
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Em có đem gì theo đâu

Em có đem gì theo đâu
Em có đem gì theo đâu
Em để lại cho anh tất cả
Thành phố tuổi thơ gạch vĩa hè đã cũ
Thành phố tuổi thanh niên hầm hố mới đào
Còi báo động len vào từng ngõ nhỏ
Phút lặng im trên các nóc nhà cao
Người thủ đô gặp nhau ít hỏi chào
Nhưng ai đó cũng đều quen cả
Với người này cùng xếp hàng mua cá
Với người kia cãi vã lúc đâm xe…

Em có đem gì theo đâu
Em để lại cho em tất cả
Bóng cây thưa đường Quang Trung
Phố Nguyễn Du nồng nàn hoa sữa
Ngọn gió hồ Tây làm cánh hoa me rơi nhẹ
Chúng ta nói về tương lai
Trước vắng lặng ngôi chùa đã cổ
Trong ồn ào phố xá đông người

Em có đem gì theo đâu
Em để lại cho anh tất cả
Doi cát vàng với dòng sông đỏ
Bờ bãi quanh năm xanh mướt màu xuân
Những làng hoa hương thoáng xa gần
Vườn hoa trẻ như thuở mười sáu tuổi
Cọng rơm mới tháng mười thơm trải
Trên con đường nắng sáng ta đi
Những con đường ngoại ô
So với tình yêu con đường ngắn quá
Tất cả những buồn vui
Em để lại cho anh tất cả

Chỉ một chiếc ba lô thôi
Em đi trên con đường của em
Con đường luôn thay thay sau mỗi lần giặc phá
Con đường đi trong đêm nhiều những cầu phà
Con đường dẫn tới miền đất đỏ
Đất thì đỏ tiếng nói thì rất lạ
Miền đất chưa có gì kỷ niệm của chúng ta
Màu lá sắn xanh, xanh đến ngẩn ngơ
Trong những hố bom giặc phá
Hạt tiêu non vị cay chưa đến độ
Những cây hồ tiêu mới trồng
Những năm chiến tranh người đi biển đi sông
Sau mỗi trận bom trở về không nhận ra nơi mình đã ở
Trong ác liệt bỗng biết ơn màu cỏ

Cỏ làm bớt hoang tàn
Cỏ làm bớt thương đau
Người chống giặc bốn năm ở dưới hầm sâu
Vẫn mong ước cháy lòng: được đi trên mặt đất
Đó miền đất nơi em tìm đến
Đã có gì kỷ niệm của ta đâu
Thành phố chúng ta em để lại đằng sau
Em để lại cho anh tất cả
Nhưng em biết là anh chẳng đủ
Anh lại thiếu những miền đất đỏ
Những con đường hôm nay em qua.

Vĩnh Giang, 1970
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Gió Lào cát trắng

Gió Lào cát trắng
Ngọn gió lào cát trắng của đời tôi
Tôi của cát của gió Lào khắc nghiệt

Trong gió nóng những trưa hè ngột ngạt
Mẹ ru tôi hạt cát sạn hàm răng
Vừa lớn khôn tôi đã biết đào hầm
Dưới bom đạn gió lào vẫn thổi
Và trên cát lại thêm cồn cát mới
Cỏ mặt trời lăn như bánh xe
Cuộc đời tôi có cát chở che
Khi đánh giặc cát lại làm công sự
Máu đồng đội và máu tôi đã đổ
Trên cát này mà gió quạt vừa se
Cây tôi trồng chưa đủ bóng che
Bom giặc cắt lá cành tơi tả
Củ khoai ở đây nhỏ hơn củ khoai cánh đồng màu mỡ

Trái mãng cầu rám vỏ - gió đi qua
Đọng nắng thôi, cát chẳng đọng mưa
Bàn chân lún bàn chân thêm bỏng rát
Giữa gió cát, giữa những ngày ác liệt
Tôi nghĩ về tha thiết một màu xanh
Một rừng cây trĩu quả trên cành
Tôi vun gốc và tay tôi sẽ hái
Nhà của tôi, tôi sẽ về dựng lại
Ánh ngói hồng những gương mặt mai sau

Em mới về em chua thấy gì đâu
Chỉ có cát và gió lào quạt lửa
Ngọn gió bỏng khi đi thành nỗi nhớ
Cát khô cằn ở mãi hóa yêu thương
Dẫu đôi khi tôi chẳng bằng lòng
Với cái cát làm bàn chân rát bỏng
Với cái gió làm chín lừ da mặt
Mảnh đất cằn khoai sắn ít sinh sôi
Tôi sẳn lòng đem hiến cả đời tôi
Cho cát trắng và gió lào quạt lửa
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Hát ru chồng những đêm khó ngủ

Hát ru chồng những đêm khó ngủ
Anh không ngủ được ư anh?
Để em mở quạt quấn mành lên cho
Lặng sao cái gió mặt hồ
Ghét sao cái nóng đầu mùa đã ghê!
Đoàn thương binh mới trở về
Đánh nhau trước cửa hàng bia lúc chiều

Anh không ngủ được anh yêu?
Nghe chi con lũ đang chiều nước dâng
Ngày mai cây lúa lên đòng
Lại xanh như đã từng không mất mùa
Con sông bạn với con đò
Con người bạn với câu hò trên sông.

Ngủ đi, em khép cửa phòng
Để em lên gác em trông xem nào
Ai đồn rằng cọ cháy cao
Người dân Vĩnh Phú đốt bao nhiêu đồi
Hình như lửa đã tắt rồi
Gió không thổi nữa anh ơi yên lòng

Thương gì người đói lang thang
Xin ăn trên khắp phố phường ngoài kia
Ngủ đi anh hãy ngủ yên
Rồi mai họ sẽ trở về quê thôi
Lòng thương chỉ nói bằng lời
Lấy đâu ra gạo cho người được no

Khuya rồi anh hãy ngủ đi
Để em trở dậy em che bớt đèn
Đứa nào nó nói cùng anh
Cái tin chết của bạn mình vừa xong
Chắc là đường đất khó khăn
Nên thư từ chẳng thể năng gửi về
Anh ơi anh hãy ngủ đi
Thằng con ta nó nằm mê đó mà
Ngày chơi súng giả ba lô
Làm anh giải phóng hét hò suốt thôi
Mười năm sau lớn lên rồi
Sẽ quên đi những trò chơi bây giờ

Ngủ đi anh, hãy ngủ đi...
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Hát ru chồng những đêm khó ngủ

Hát ru chồng những đêm khó ngủ
Anh không ngủ được ư anh?
Để em mở quạt quấn mành lên cho
Lặng sao cái gió mặt hồ
Ghét sao cái nóng đầu mùa đã ghê!
Đoàn thương binh mới trở về
Đánh nhau trước cửa hàng bia lúc chiều

Anh không ngủ được anh yêu?
Nghe chi con lũ đang chiều nước dâng
Ngày mai cây lúa lên đòng
Lại xanh như đã từng không mất mùa
Con sông bạn với con đò
Con người bạn với câu hò trên sông.

Ngủ đi, em khép cửa phòng
Để em lên gác em trông xem nào
Ai đồn rằng cọ cháy cao
Người dân Vĩnh Phú đốt bao nhiêu đồi
Hình như lửa đã tắt rồi
Gió không thổi nữa anh ơi yên lòng

Thương gì người đói lang thang
Xin ăn trên khắp phố phường ngoài kia
Ngủ đi anh hãy ngủ yên
Rồi mai họ sẽ trở về quê thôi
Lòng thương chỉ nói bằng lời
Lấy đâu ra gạo cho người được no

Khuya rồi anh hãy ngủ đi
Để em trở dậy em che bớt đèn
Đứa nào nó nói cùng anh
Cái tin chết của bạn mình vừa xong
Chắc là đường đất khó khăn
Nên thư từ chẳng thể năng gửi về
Anh ơi anh hãy ngủ đi
Thằng con ta nó nằm mê đó mà
Ngày chơi súng giả ba lô
Làm anh giải phóng hét hò suốt thôi
Mười năm sau lớn lên rồi
Sẽ quên đi những trò chơi bây giờ

Ngủ đi anh, hãy ngủ đi...
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Hoa cỏ may

Hoa cỏ may
Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá
Lối cũ em về nay đã thu.

Mây trắng bay đi cùng với gió
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ
Thơ viết đôi dòng theo gió xa.

Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm dầy
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay ?
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Hoa dại núi Hoàng Liên

Hoa dại núi Hoàng Liên
Một ngày đường từ miền đất trung du
Tôi chỉ gặp bụi bay và nắng gắt
Sang thu rồi gió vẫn nồng da mặt
Tiếng ve nào còn sót trong lùm cây
Nghe nhói lòng nỗi nhớ cuối tình yêu
Chợt thấy lạc giữa bốn bề vắng ngắt
Lên cao... lên cao nắng như dần nhạt
Bỗng vui mừng bắt gặp một nhành hoa...
Một nhành hoa rồi lại một nhành hoa
Khắp Hoàng Liên trên một ngàn thước núi
Hoa nếp mỏng manh trước tầm gió thổi
Hoa diếp vàng cô độc giữa thâm u
Và bên đường hoa nghệ dại ngẩn ngơ
Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã
Hoa lay ơn góc vườn xưa còn nhớ
Mà thấy người cành lá khẽ lung lay
Hoa mọc dưới chân người, hoa mọc đến chân mây
(Có nhiều thứ hoa còn chưa biết rõ…)
Anh đừng hỏi tên hoa làm chi nữa
Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi!
Không phải hoa được ở cùng người
Được chăm sóc trong mảnh vườn sạch cỏ
Được khoe đến muôn màu sắc lá
Và được đời chiêm ngưỡng mùi hương
Không phải hoa đư­ợc cắm trên bàn
Trong ngày hội của những miềm vui mới
Những hoa này lại nở cho triền núi
Lại nở cho vẻ đẹp của rừng chu­ng
Nên ít ai để ý sắc từng bông
Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ
Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng nhớ…

Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi.
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Không đề

Không đề
Sắc lá phong rực vàng lên lần cuối
Trái mùa thu chín vội trước khi xa
Như ngọn đèn lửa bùng lên rực rỡ
ánh hoàng hôn rực cháy trước hiên nhà

Cũng có thể mùa thu chưa hết
Vẫn còn đang lưu luyến khách đi qua
Cũng có thể là tôi đến chậm
Thấy màu mây rừng lá tưởng còn thu
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )

Lại bắt đầu

Lại bắt đầu
Lại bắt đầu từ những trang giấy trắng
Lại ngọn đèn, màu mực những câu thơ
Lại nhịp đập bắt đầu, tim rạo rực
Trước biết bao nao nức với mong chờ

Một con tàu chuyển bánh ngoài ga
Làn nước mới, trời xanh và mây trắng
Ngô non mướt, bãi cát vàng đầy nắng
Như chưa hề có mùa lũ đi qua.

Như chưa hề có nỗi đau xưa
Lòng thanh thản trong tình yêu ngày mới.
Một quá khứ ra đi cùng gió thổi
Thời gian trôi, kí ức sẽ phai nhoà.

Những mùa sen, mùa phượng đã xa
Trên khắp nẻo lại bắt đầu mùa cúc
Rồi hoa đào lại tươi hồng nô nức
Như chưa hề biết đến tàn phai.

Tay trong tay tôi đã bên người
Tôi chẳng nói điều chi về vĩnh viễn
Vì mỗi sáng khi mặt trời hiển hiện
Là một ngày tôi lại bắt đầu yêu

11-1986

Lời ru trên mặt đất

Lời ru trên mặt đất
Rào rào tiếng những bầy ong
Chuyên cần là tiếng cái tằm nhả tơ
Mẹ còn đang bận đưa ru
Cái hoa bận đỏ cái hồ bận xanh
Hạt cây đang bận nảy mầm
Con quay quay có một mình ngoài kia
Ngủ đi con hãy ngủ đi
À ơi... cái ngủ đang về cùng con
Từ trong lá cỏ tươi non
Vượt lên mặt đất vẫn còn mảnh bom
Từ ngôi nhà mới vừa làm
Nghe trong cái ngủ nồng nàn mùi vôi
Ngủ đi qua suối qua đồi
Qua trong lòng đất, những lời ru qua...
Đây dòng sữa trắng như ngà
Dẫu thôi hạt sạn, dẫu xa cửa hầm
Vẫn còn bùn lấm đôi chân
Tuy nguồn nước đã trong ngần lời ru
À ơi... ngọn lửa ngày xưa
Mẹ nuôi dưới đất bây giờ về đâu?
Nhìn lên rực rỡ trên đầu
Lửa hôm qua đã trong màu cờ bay
Đất chung sống với ban ngày
Người chung sống với hàng cây người trồng
Lại thương con dế dưới hầm
Những năm bom đạn sống cùng lời ru
Đã tan những đám mây mù
Ông trăng tròn giữa đêm thu mát lành
Cái nôi thôi mắc cửa hầm
Trắng tinh cái tã, xanh trong bầu trời
"Ba tháng lẫy, bảy tháng ngồi"
Con đường xa tắp đất thời mênh mông
Gió lên từ những khu rừng
Mùi hương thơm tự trong lòng của hoa
Bốn phương đâu cũng quê nhà
Như con tàu với những ga dọc đường
Đất qua rồi những đau thương
Có chăng lời hát vẫn còn mà thôi
À ơi... con ngủ... à ơi....
( Trích từ tập thơ Thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ )
 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved