.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯ ĐỊA CHÍ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DƯ ĐỊA CHÍ. Hiển thị tất cả bài đăng

Một ngày như trong mơ

Written By kinhtehoc on Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012 | 21:50


Một ngày như trong mơ
SGTT.VN - Một ngày như trong mơ là một ngày bạn có thể sử dụng câu thần chú “Apparition” của Harry Potter để hô biến và xuyên đất, xuất hiện ở một vùng đất xa hàng vạn dặm, ăn sáng, rồi lại hô biến, chui lên ở một góc trái đất xa tít mù tắp để uống càphê. Nếu tôi có một ngày như thế, tôi sẽ bắt đầu bằng:

8 "Kiệt Tác" của Thiên Nhiên

Written By kinhtehoc on Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012 | 23:50


8 "Kiệt Tác" của Thiên Nhiên
 

1. Ruộng bậc thang Yuanyang
Người Hani cổ đã đến dốc núi này từ 2.500 năm trước. Bởi địa hình khó khăn cho việc trồng trọt, họ đã tạo những ruộng bậc thang trù phú như thế này để trồng lúa. Việc canh tác trên ruộng bậc thang dần dần lan sang các nước Đông Nam Á và Trung Quốc nhanh chóng. Sự sáng tạo của người Hani đã biến núi rừng thành một trong những vẻ đẹp nghệ thuật.


2. Hồ Trăng Lưỡi Liềm

Hồ Lưỡi Liềm ở phía Tây Trung Quốc nằm trong ốc đảo tuyệt vời ở sa mạc Gobi. Hồ Lưỡi Liềm là kết quả của sự biến đổi địa chất. Cả ốc đảo này nổi bật lên giữa sa mạc mênh mông.

3. Thác Thiên Thần

Thác Thiên Thần là thác nước cao nhất thế giới với độ cao 1.002 m, nằm ở Công viên quốc gia Canaima, Bolivar, dọc biên giới Venezuela và Brazil. Thác nước này cao hơn thác Niagara 19 lần.
 

4. Hồ Mono

Hồ được tạo thành vào năm 1941 bởi sự suy giảm nước ngọt, lượng nước hồ Mono giảm đi một nửa trong khi độ mặn của nó tăng gấp đôi. Không thể thích nghi với những điều kiện thay đổi trong thời gian ngắn như vậy, cảnh quan và các công trình thiên nhiên bắt đầu sụp đổ. Nhưng vô tình điều đó lại tạo thành dãy núi đá tuyệt đẹp như bây giờ.

5. Pamukkale

Pamukkale nghiã là “lâu đài bông” theo tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là một cảnh quan tự nhiên ở tỉnh Denizli, tây nam Thổ Nhĩ Kỳ. Thành phố cổ Hieraplis được xây trên đỉnh tòa “lâu đài” trắng có chiều cao khoảng 2.700 m này.
 

6. Thác đá Hierve el Agua

Hierve el Agua ở Oaxaca, Mexico trông như một thác nước tuyệt đẹp vậy nhưng thực tế chúng là những tảng đá khổng lồ tạo thành. Màu trắng của đá vôi khiến chúng ta liên tưởng đến những ngọn thác.

7. Đảo Enchanted

Hòn đảo Enchanted (mê hoặc) này nằm ở Yakushima, Nhật Bản đã được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1993. Yakushima là vùng ẩm ướt nhất Nhật Bản, người ta thường nói rằng mỗi tháng ở đây thì mưa hết 30 ngày. Do vậy mà sinh vật ở Yakushima rất phong phú.
 


8. Sa mạc “trắng”

Sa mạc trắng nằm ở Mexico nổi tiếng với những cồn cát trắng như tuyết. Ở độ cao hơn 1.185 m trên mực nước biển, các cánh đồng cát ở đây ước tính có tổng diện tích khoảng 442 km vuông và được coi là sa mạc cát trắng lớn nhất thế giới.

Kẻ Chợ - Kattigara xa xăm thân yêu

Written By kinhtehoc on Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012 | 13:17

Kẻ Chợ - Kattigara xa xăm thân yêu

Ngô Đức Thọ

1. Để mở đầu bài viết tôi xin trích Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích địa danh Kẻ Chợ như sau: Ngoài một cụm từ khá mới: “Hạt nhân kinh tế -xã hội”, mấy thông tin chủ yếu trong mục từ nói trên đại thể cũng giống như Lịch sử Việt Nam Tập I đã viết ngót 30 năm trước:“Thăng Long bấy giờ quen gọi là kinh kỳ hay Kẻ Chợ, là một thành thị vào loại lớn ở Á Đông. Người phương Tây đến nước ta hồi thế kỷ XVII đều nhận xét Thăng Long là một thành thị lớn ở châu Á…” Nói tóm gọn thì cả hai tài liệu dẫn trên đều cho rằng:-Từ Kẻ Chợ do người phương Tây thường gọi kinh thành Thăng Long mà có.-Thời gian xuất hiện và quen dùng chỉ trong khoảng hai thế kỷ 17 -18.Càng gần đến Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, trên các trang báo giấy báo mạng xuất hiện nhiều bài viết về Kẻ Chợ, nhiều chi tiết bình luận, dẫn chứng ca dao tục ngữ v.v.., nhưng chủ yếu vẫn chỉ có hai thông tin như trên. Đáng chú ý có bài của tác giả Phan Văn Tình phát hiện tên “người phương tây”đã ghi về địa danh Kẻ Chợ: Đó là Alexandre de Rhodes: Trong Từ điển Việt - Bồ - La (1651), ở mục từ Kẻ, soạn giả giả thích: "Những người, chỉ dùng nói về người ta khi nói cách không kính trọng. Kẻ chợ: Những người ở trong chợ, nghĩa là những người ở kinh đô Đông Kinh" (tr.123, phần Phụ lục tiếng Việt).
Bài sưu tầm của ông Tình[1]được nhiều báo chuyển tải, cho là “thông tin rất độc đáo”. Đáng tiếc đó là một mục từ đã bị A.de Rhodes định nghĩa và giải thích sai (xin xem ở dưới)

2.Tôi không có nhiệm vụ chuyên trị địa danh “Kẻ Chợ”, nhưng một dịp cách đây 6-7 năm có bạn nghiên cứu là một giáo sư người Pháp bất ngờ hỏi tôi: trong tài liệu Hán Nôm có chỗ nào có từ Kẻ Chợ không? Câu hỏi thật bất ngờ nhưng thú vị. Điểm nhanh quả thật thấy chưa có bài viết nào nói đến từ Kẻ Chợ trong thư tịch bi ký Hán Nôm, đành trả lời không với câu hỏi của người bạn. Nhưng vì câu hỏi đó, hễ có dịp là tôi tìm đọc trong các sách của Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ, Phan Huy Chú v.v…, cả nhiều thác bản văn bia mà tôi thường xem đọc: Tịnh vô không một tài liệu nào có từ Nôm cổ quý thân yêu đó. Bây giờ tôi đã có cả “ lô sêcxông” tư liệu từ Kẻ Chợ trong sách Hán Nôm. Hân hạnh trích ảnh dẫn ra đây một số để quý vị và các bạn tham dự Hội thảo tận mắt nhìn thấy từ Nôm đặc sắc này:
Q.1-61a Q.1-66a Q.1- 67a
-Sơ thụ Kinh quan giáo chức = Mơi sơ chịu làm chịu làm quan giáo chức KẺ CHỢ (Trà đồng giáng đản lục, Q.1-52b)
-Thiệu Bình gian ngụ cư Trường An = Năm Thiệu Bình thủa ấy ra ở KẺ CHỢ (Tây Viên kỳ ngộ ký, Q.1- 61a)
-Kinh thành sĩ nữ quan du tứ xuất = Trai gái trong KẺ CHỢ bốn bề ra xem chơi (Tây Viên kỳ ngộ ký, Q.1- 66a)
-Sổ nguyệt hậu, sinh hương tín chí Trường An = Sau vài tháng, ngươi Nhân Giả có tin nhà đến KẺ CHỢ (Tây Viên kỳ ngộ ký, 67 a-b)
Trích hết phải đến 3-40 câu. Từ Kẻ Chợ như vậy có cứ liệu văn bản Hán Nôm khá rõ ràng:
Về chữ Nôm không có gì mới lạ: chữ KẺ 几(Nôm) viết bằng chữ Kỷ 几(Hán Việt). Chữ CHỢ (Nôm) trên là chữ Trợ 助(giúp), dưới là chữ Thị 市(chợ), thuộc cấu trúc biểu âm kiêm biểu ý. Cái đáng chú ý nhất đó là minh chứng xác tạc, nói lên rằng tên gọi kẻ Chợ do người nước ta ghi trên văn bản của ta chứ không phải nhờ người Tây ghi mà có.
Nhưng về niên đại, Truyền kỳ mạn lục khắc in năm Cảnh Hưng 24 (1763), chưa vuợt khỏi cái vành đai hai thế kỷ 17-18. Có thể biện luận để đẩy từ Kẻ Chợ ở sách này lên thế kỷ 16 vì Nguyễn Dữ là người thế kỷ 16. Nhưng từ Nôm Kẻ Chợ lại thuộc phần dịch Nôm của Nguyễn Thế Nghi, mà tiểu truyện Nguyễn Thế Nghi trong phần Tục biên của Công dư tiệp ký - tuy có ghi “ông có diễn Truyền kỳ truyện nghĩa”, không chỉnh lắm, nhưng có thể hiểu đó là nói việc Nguyễn Thế Nghi dịch Nôm Truyên kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ - các chi tiết khác có vẻ giai thoại nghich ngợm, nửa tin nửa ngờ (như nói sau khi được phong tước Đại Hưng hầu, Nguyễn Thế Nghi bèn đến cửa Đại Hưng (tức Cửa Nam) đề một câu thơ: “Anh hùng ai nấy nhung nhăng, Nào ai đến cửa Đại Hưng chẳng luồn!). Nhà Mạc không có sử riêng, nhưng chính sử như Toàn thư, Cương mục, hoặc tư sử như Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn không một lần nào nhắc đến Đại Hưng hầu v.v…
3.Việc tìm thấy từ Kẻ Chợ trong TKML thúc đây tôi phải cố tìm nữa để có tư liệu càng cổ hiếm hơn càng tốt! Hoá ra tài liệu cần tìm vốn dĩ tôi đã có trong tay từ lâu: Đó là nguyên bản in của cuốn từ điển song ngữ Hán Nôm mang tên Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa. Tôi đã nghiên cứu một số chuyên đề về cuốn sách này, không ngờ trong đó hai chữ muôn vàn quý giá:
Bang kỳ: KẺ CHỢ khoẻ bền muôn thu
邦畿:几助劸卞門秋
(Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, 5a)
Chữ thuộc cấu trúc biểu âm, dùng Trợ 助Hán Việt để ghi âm Nôm Chợ. Niên đại của bản in sách Chỉ nam ngọc âm cũng tức là niên đại của địa danh Nôm KẺ CHỢ đã trích dẫn ảnh trên đây, tôi đã có chuyên đề nhiều năm tìm kiếm cứ liệu và thực hiện một nghiên cứu bao gồm liên tiếp 9 công đoạn: 1-Khảo sát và chứng minh chữ không phải chữ “sào巢”như TS.TXNL đã đọc. 2. Dẫn các mẫu và công trình nghiên cứu để chứng minh đó là một chữ viết kiêng huý - gồm chữ đặt dưới một ký hiệu có 4 nét gãy chuyên dùng để thể hiện các chữ kiêng huý. 3-Tìm cách đọc âm của chữ 踝(chữ này ";rất cổ và hiếm, phải tra cứu trong các từ thư tự điển trước thời Đường Tống như Ngọc thiên,Nhĩ nhã v.v…), các định chính âm của nó đọc là “hoả” (hô ngoã thiết), chứ không phải là “khoả” như chị L. đã đọc. 4. Khảo cứu chứng minh chữ viết bộ “túc足” chứ không phải chữ bộ “nhật” 暕5.Tìm kiếm xác định “HOẢ” là chữ tên huý của vị vua chúa nào trong lịch sử Việt Nam. – Vì thời Hồ không còn một thư tịch bi ký nào nên khi thống kê hay nghiên cứu giai đoạn này, hết triều Trần chúng ta thường chuyển ngay sang triều Lê sơ. Do đó tôi quyết định phải nghiên cứu vấn đề kiêng huý dưới triều Hồ. 6.Tận sức sưu tập từ nguồn tư liệu hết sức ít ỏi để dựng cho được bản lược đồ phả hệ của họ Hồ. 7.Lược đồ dựng xong vẫn không thấy chữ “Hoả” xuất hiện, kiểm tra lại, quả nhiên phát hiện thông tin cần tìm trong Đại Việt sử ký toàn thư. Toàn thưghi rõ Hồ Hán Thương - vị vua thứ hai của triều Hồ - khi nhỏ (trước khi làm vua) tên là HOẢ. Xác định “踝”( Hoả) là tên của Hồ Hán Thương trước khi nối ngôi, do kiêng huý được viết thêm thành 8.Tìm cứ liệu chứng minh việc kiêng huý chữ Hoả: Núi Hoả Vân sơn và ngôi lầu trên núi ấy là Hoả Vân lâu từ đời Trần về trước đều ghi với tên ấy, từ đầu đời Hồ Hán Thương đổi gọi là Đại Vân sơn và Đại Vân lâu. Toàn thư đã chép theo tên đã đổi đó (Toàn thư, BK1-16b) 9.Không chỉ chữ huý của Hồ Hán Thương, cả chữ kiêng huý Hồ Quý Ly cũng được tìm thấy (Chỉ nam ngọc âm, 5b) [2FONT>Quá trình khảo cứu trải qua 9 công đoạn liên hoàn, phải có kết quả chính xác ở công đoạn trước mới có thể thực hiện được công đoạn sau, để đi đến kết luận chữ viết trên văn bản là chữ tên huý của Hồ Hán Thương (1401-1407) và năm Tân Tị khắc trên nguyên bản là năm Tân Tị 1401 niên hiệu Thiệu Thành thứ 1 đời Hồ Hán Thương.
Đến đây chúng ta có bằng chứng chắc chắn để xác định niên đại khắc in của nguyên bản sách Chỉ nam ngọc âm hiện có là năm Tân Tị 1401.[3]
Đó cũng là niên đại tối thiểu của từ KẺ CHỢ xuất hiện trong sách này (đầu thế kỷ XV), nhưng sách phải qua quá trình biên soạn và khắc in trước đó nhiều năm và hoàn toàn có thể nâng tuổi thọ của hai chữ KẺ CHỢ đó vào trong khung của thế kỷ 14.- đã cổ hơn 3-4 thế kỷ so với vành đai quá gò bó hai thế kỷ 17-18!
4.a “Chắc đằng chân lân đằng đầu”: địa danh KẺ CHỢ như vậy chắc chắn đã có tuổi đời từ thế kỷ 14-15 rồi. Lời Chỉ nam ngọc âm rất vang:
Kinh kỳ: KẺ CHỢ khoẻ bền muôn thu!
Lần này phải tìm sâu trong lịch sử dân tộc. Thú thực, chắc cũng nhiều người nhận thấy cổ sử nước ta còn như một cái vườn hoang: nào tên nước là Văn Lang, các bộ Giao Chỉ, Chu Diên, v.v...Thời đó nước ta đã đã bị người Tàu đô hộ đâu mà họ nhảy sang đặt tên cho các bộ của vua Hùng? Còn nhiều vấn đề trống trơn quá. Từ lâu tôi vẫn suy nghĩ về địa danh Giao Chỉ, nhân dịp này cũng cố gắng tìm kiếm thêm. Nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ, ngày nay việc tra cứu trên mạng đem lại nhiều tiện ích. Hãy dẫn ra đây muc “Giao Chỉ” trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia xem họ nói thế nào:
Giao Chỉ (chữ Hán交趾 hoặc 交阯) là tên gọi địa danh một phần lãnh thổ Việt Nam trong lịch sử, từ thời Hùng Vương đến các kỳ thời Bắc thuộc.:
Định nghĩa như vậy xét nội hàm xem ra không sai, nhưng vẫn bám vào từ Giao Chỉ là không ổn, lý do như trên đã nói. Thời ấy đã có giao lưu văn hoá mở trường dạy tiếng Tàu đâu? Sử ghi người Việt Thường sang sứ nhà Chu phải qua hai lần phiên dịch (trùng dịch) mới hiểu ý nhau. Tóm tắt mấy điểm chính Wikipedia giải thích từ Giao Chỉ:
-Theo Từ hải, chữ 趾 có 4 nghĩa: 1 Cùng nghĩa với "cước" là chân. 2-Nghĩa là "cước chỉ", tức ngón chân. 3-Nghĩa là "tông tích", tức dấu tích. 4-Thông nghĩa với chữ chỉ có bộ thổ 址, nghĩa là cái nền, nền móng, như "cơ chỉ", "trụ chỉ"
-Do vậy chữ Chỉ được hiểu theo nhiều cách, từ đó chữ Giao Chỉ cũng được hiểu theo nhiều cách. Đỗ Hựu trong bộ Thông điển cho rằng: "Giao Chỉ là người Nam di, ngón chân cái toạc ra, đứng thẳng hai bàn chân thì ngón chân cái giao vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ (chỉ là ngón chân cái)". Ý kiến này được nhiều học giả Trung Hoa và Việt Nam chấp nhận”. (không dẫn hết)
Về ý thứ 3 nói: vì người Giao Chỉ hai ngón chân cái xoạc ra như giao vào nhau thì đúng là khá phổ biến. Tôi từ nhỏ đã được người lớn giảng cho nghe như thế. Sau này thấy nhiều cụ già có hai ngón chân cái xoạc ra, tôi vẫn nghĩ do người mình từ nhỏ đã phải gánh vác nặng, đường đất mưa bùn lầy lội phảm bám chân chặt, ngón cái lâu ngày xoạc ra v.v…
Wikipedia có thể ghi lại như vậy để biết, nhưng coi đó như giải thích chính thức thì sai lầm là cái chắc! Tôi từ lâu đã không còn tin vào cách giải thích địa danh theo kiểu giai thoại như vậy. Không ít tác giả đã viết về Giao Chỉ, nhưng về tên gọi thì hoặc không đề cập đến, hoặc nhắc lại các quan niêm sai rất cũ như thể hiện ở Wikipedia đã trích trên đây[4]. Wikipedia chỉ đúng được một điều khi nói Giao Chỉ “còn được dùng để gọi người Việt cổ”, không gắn từ Giao Chỉ với cuộc xâm lăng của Mã Viện gợi lại thời Bắc thuộc tủi nhục ngày xưa. Nay cũng trên mạng tôi thấy có các cháu thiếu niên chát với nhau lấy nicnam “Giao Chỉ” một cách thích thú. Đúng như thế, riêng tôi qua tìm hiểu cảm thấy rất tự hào với từ Kẻ Chợ (phiên âm tiếng Hán là Giao Chỉ) chứ không phải vay mượn của Trung Hoa.
4.b Không đủ sức đọc và giới thiệu hết các thư tịch của Trung Quốc xưa và nay viết về Giao Chỉ, chỉ nhắc lại tư liệu khởi đầu rất quan trọng: Địa danh Giao Chỉ đã được nói đến ngay sát trang đầu trong bộ sách kinh điển quan trọng bậc nhất và cổ nhất của Trung Quốc là Thư kinh. Công việc đầu tiên của vị vua đầu tiên của Trung Quốc là vua Nghiêu[5] ngay sau khi nhận ngôi là sai 4 người anh em của Hi và Hoà đi bốn phương quan sát thiên văn: “ Thân mệnh Hi thúc trạch Nam Giao”. Hết thảy các nhà chuyên trị kinh Thư xưa nay đều nhất trí chú giải “Nam Giao là đất Giao Chỉ ở phương Nam ”. “Trạch Nam Giao” chỉ có nghĩa là đến ở nơi gần, tiếp giáp với Giao Chỉ, chứ không phải là đến làm nhà trên đất Giao Chỉ - Bởi vì trong Cửu Châu của Trung Quốc cổ không có tên Giao Chỉ, mà người Trung Quốc xưa nay cũng tuyệt đối không ai dám nhận đất Giao Chỉ thuộc Trung Quốc từ thời vua Nghiêu. Câu dẫn trên chỉ chứng tỏ một điều: từ rất lâu đời, ngang thời vua Nghiêu và trước đó nhiều nữa, phía nam Trung Quốc có một miền đất gọi là Giao Chỉ. Tuyệt đối cũng không có tài liệu nào nói cái tên Giao Chỉ đó do một ông vua hay một người Tàu nào đặt ra, đơn giản họ chỉ ghi tên đất ấy là Giao Chỉ. Nhưng tại sao địa danh của một nước khác lại ghi bằng chữ Trung Quốc? Chẳng lẽ thời ấy người đất ấy đã thông dụng Hán văn? (Ghi thêm: Cũng có tài liệu của ta nói thời Hùng vương đã có người Tàu sang mở trường dạy học! Nhưng đó là câu chuyện của thần tích viết trên trời dưới biển chứ chẳng phải chuyện thật!)
Thời gian độc lập của người Việt lâu dài cả mấy ngàn năm như vậy. Năm 214 TCN Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư tiến quân xuống Lĩnh Nam chiếm lấy các đất Lục Lưong, đặt các quận Quế Lâm , Nam Hải và Tượng quận. Ghi về sự kiện ấy, người chú thích nguyên bản Đại Việt sử ký toàn thư (viết tắt: Toàn thư) đã chú nhầm Tượng quận “tức là An Nam”. Thực ra thì Đồ Thư chỉ chiếm được đến miền đất phía nam Quảng Tây và nam Quý Châu ngày nay[6], không có chuyện quân nhà Tần xâm chiếm nước ta. Đất Giao Chỉ chỉ thực sự mất vào tay Triệu Đà năm 207 TCN như sử đã ghi[7] . Hán Vũ đế sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc sang xoá nhà Triệu, nước ta từ đó bị đặt vào chế độ quận huyện lệ thuộc Trung Quốc. Nhà Hán sai Thạch Đái làm Thái thú Giao Châu gồm 9 quận, trong đó có một quận gọi tên là quận Giao Chỉ (miền Bắc nuớc ta hiện nay). Địa danh Giao Chỉ như vậy là có gắn với thời Bắc thuộc, nhưng không phải Thạch Đái tự nghĩ ra, y chỉ nhân theo tên nước Giao Chỉ cũ lấy đặt tên cho một quận - Việc này cũng y hệt như sau này ta lại mất nước về tay người Pháp, thực dân Pháp lấy ngay tên gọi An Nam có từ đời thuộc Đường (thời Lê người nước ta cũng có khi dùng[8], chứ không phải do người Pháp có dụng ý thiếu tôn trọng mà đặt ra!
Hiểu sai từ Giao Chỉ là miền đất của Trung Quốc cổ thì chỉ có những sử gia người Tàu mà thôi. Không điểm hết được, chẳng hạn trang mạng Bách độ Bách khoa:
“Giao Chỉ: địa danh thời cổ của Trung Quốc ( vị trí ở nước CHXHCN Việt Nam hiện nay)” (!!)[9].
Nhưng cũng có những người hiểu đúng, như Hỗ động bách khoa viết:
“Giao Chỉ tức nước Việt Nam (tên thời cổ là nước Giao Chỉ [Giao Chỉ quốc])”[10]
Tác giả này viết rất rõ: “Việt Nam tên thời cổ là nước Giao Chỉ.” Không có lý do gì để phản bác định nghĩa rất đúng đó! Giao Chỉ trước khi bị xâm lược là đất nước độc lập tự chủ, có truyền thống lâu đời, sánh ngang với Trung Quốc. Có thể vì thế mà cụ Phan Bội Châu khi hoạt động ở Trung Quốc lấy bút danh là “Giao Chỉ khách” (người khách nước Giao Chỉ).
Vậy, có thể khẳng định nội dung của địa danh Giao Chỉ là chỉ vào nước Việt Nam thời cổ, khi đất nước còn độc lập tự chủ, không có gì phải băn khoăn nghi ngờ nữa. Chúng ta chỉ còn phải lý giải một điều tại sao không gọi bằng tiếng Việt mà lại gọi từ Hán Việt là Giao Chỉ?
Qua giải thích của Wikipedia đã dẫn trên đủ thấy quan niệm tên Giao Chỉ gắn với đặc điểm ngón chân cái của người Việt là một thiên kiến hết sức sai lầm cho đến nay vẫn còn chiếm ưu thế.
Dù sao cũng không phải tất cả, vẫn có người hiểu đúng tên gọi này. Trước khi giới thiệu cách hiểu đúng, có thể còn ít người biết, do nội dung liên quan xin được nói đến một công trình có giá trị rất lớn: Đó là cuốn Địa lý học (Geographia)của Claudius Ptolemaeus (tiếng Hy Lạp: Κλαύδιος Πτολεμαῖος Klaudios Ptolemaios), người Hy Lạp (khoảng 100-178 SCN) được coi là người khai sáng ra môn địa lý học[11].
(Nguồn: Wikipedia. Mảnh cắt phóng to do bút giả thực hiện)
Tham khảo nhiều nguồn, đã biết trước địa danh Giao Chỉ từng được ghi là Kattigara hoặc Cattigara , nhưng xem trên bản đồ vài lần tôi cũng chưa thấy. Sau tham khảo tài liệu của một chuyên gia hàng hải, tôi mới nhận ra địa điểm ấy. Nhà nghiên cứu ấy là ông Vũ Hữu San hiện định cư ở nước ngoài, gần đây có những công trình khảo cứu có giá trị về chủ quyền Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông không nghiên cứu từ Kẻ Chợ, nhưng trong bài của ông viết về chủ quyền biển đảo tôi đọc được chỉ dẫn của ông, nhờ đó mà làm được mảnh trích ảnh phóng to địa danh Kattigara trên bản đồ của Ptolémy. Lần đầu tiên thấy mấy chữ đó tôi cảm nhận một điều gì đó rất phấn chấn. Thì ra mảnh đất Giao Chỉ thân yêu của chúng ta cách nay ngót hai nghìn năm đã có tên trên tấm bản đồ thuộc hạng cổ nhất nổi tiếng nhất của thế giới.Xin dẫn Vũ Hữu San để độc giả tham khảo:
"Sau cuộc viễn chinh của Alexandre Đại đế (336-323 Tây lịch) sang Ấn Độ, nhiều giao tiếp đã xảy ra giữa Á - Âu, người Hy Lạp biết thêm nhiều sinh hoạt của người Á Châu. Eratosthene (275-195 TTL) viết sách Geographia, Ptolemy (khoảng 100-170) phát triển môn địa lý, viết sách và hình dung ra một bản đồ thế giới mà tận cùng về phía Đông – Đông Nam là bán đảo Vàng Chersonese và hải cảng Kattigara (hay Catigara, kinh độ 117 độ Đông, vĩ độ 8 độ nam Kinh tuyến gốc lấy từ đảo Ferro (Islands of the Blest - quần đảo Canary.) Bán đảo Vàng là Đông Dương và Kattigara (có bản đồ ghi là Cattigara) chỉ Kẻ Chợ (Kesho), Long Biên (Lugin) hay Hà Nội ngày nay.[12]
Trong một bài viết về con đường tơ lụa, Vũ Hữu San đã xác định trạm hải hành cuối cùng giữa Tây phương và Đông Á trong thời cổ là Cattigara mà ông đặt hẳn trong ngoặc đơn chỉ rõ đó là miền đất Hà Nội -Hải Phòng hiện nay[13].
Con đường tơ lua. Bản đồ do Vũ Hữu San vẽ.
Vấn đề thời gian của địa danh Kẻ Chợ như vậy đã rõ dần ra, nhưng còn phải giải thích và kiểm chứng: Ngay ông Vũ Hữu San, tuy thừa nhận Kattigara là Kesho -Kẻ Chợ, nhưng ông nhận thấy bản đồ Ptolémé đặt Cattigra quá xa về phía nam. Chủ kiến của ông dựa vào mấy bản đồ khác để xác định Cattigara vào vị trí Hà Nội - Hải Phòng như ông đã ghi rõ trên bản đồ con đường tơ lụa.
Bình Nguyên Lộc biết từ Cattigara sớm hơn Vũ Hữu San. Vị học giả này đọc rất nhiều mà phạm vi bàn bạc khảo cứu cũng rất rộng. Về Cattigara, ông chú ý đến Hòn Gay, nơi hòn đảo có tên xưa là Bến Ghe và cho rằng “nó ăn khớp phần nào với Kattigara của Ptolémée, chớ Kattigara không thể là Óc Eo như Melleret đã viết”. Giả thuyết cho Melleret – và cả R.A. Stein cho rằng Kattigara ở Óc Eo vậy là đã bị Bình Nguyên Lộc từ chối. Bình Nguyên Lộc cũng phê phán luôn cả những ông Tây đặt Kattigara vào tỉnh Quảng Đông TQ vì cho rằng không một địa danh nào ở Quảng Đông hợp với từ Kattigara cả. Quan điểm cuả Bình Nguyên Lộc thì ông lưu ý nhóm âm tiết Katthi “có thể nào là Kẻ Thị chăng? Vâng, Kẻ Thị và Kẻ Chợ cũng thế thôi. Và Kathi Gara là Kẻ Thị Gay, tức thành phố ghe thuyền, tức thương cảng”[14]. Tôi thấy vế đầu trong câu đó của ông Lộc là chính xác (xem thêm cứ liệu ở đoạn dưới), nhưng vế sau nói “Kẻ Thị Gay tức thành phố ghe thuyền” thì không dám coi là đúng.
5. Nhưng sớm hơn Bình Nguyên Lộc nhiều, từ cuối thế kỷ XIX đã có một nhà nghiên cứu người Pháp là Edouard Chavannes dùng phương pháp cổ ngữ học để giải thích từ Giao Chỉ:
“Kiao-tche 交 阯 (Giao Chỉ) : Người ta thường viết chữ thứ hai với bộ "túc"趾, bởi vì, theo một truyền thống mà ta thấy được lặp lại nhiều lần đến phát chán trong giới tác giả Trung Hoa, cho rằng người nước này vốn có ngón chân cái chĩa ra ; tuy vậy, có thể đương thời sự lý giải ấy là không có căn cứ, và cái từ Giao Chỉ ban đầu là sự biểu đạt ngữ âm của một cái tên bản địa. Liệu có thể Giao Chỉ chính là tên Kẻ Chợ, tức Hà Nội…M. Richthofen xác định nơi này với tên Kattigara trong bản đồ của Ptolémée (China , vol I, pp.509 et 510, note 1)”[15]
trước cả E.Chavannes khoảng hơn chục năm còn có tấm bản đồ Đông Dương xuất bản năm 1881 (Thư viện Quốc Hội Mỹ), trong đó thậm chí ở vị trí Hà Nội không đề tên Hanoi mà ghi tên Kesho – Có thể hiểu người soạn bản đồ rất quý địa danh cổ Kesho hơn Hà Nội mới có từ thời Minh Mệnh (1832).
Đến đây có thể thấy người Pháp đã biết Kesho là Kẻ Chợ tức Hà Nội là một địa danh rất cổ và quan trọng (chứ không đánh đồng Kẻ Chợ với các từ Kẻ khác như A.de Rhos), nhưng phải đến 1894 Edouard Chavannes mới lý giải được rằng: Kesho cũng như Giao Chỉ, Kattigara đều là từ phiên âm tiếng bản địa (Việt) là Kẻ Chợ, hoàn toàn không có nghĩa gì liên hệ với ngón tay ngón chân!
Thế nhưng kiến giải khoa học ấy của E. Chavannes có lẽ ít người biết, hoặc biết mà bỏ qua, vì thế sau nhiều năm vẫn có người bảo Cattigara là cửa Ốc Eo hay ở vịnh Lăng Cô thuộc Thừa Thiên Huế v.v... Thời gian lịch sử cả mấy nghìn năm như vậy đến sát tận nay, không chỉ báo chí mà cả sách nghiên cứu nữa, vẫn như không nghe không biết, cứ trói chặt Kattigara - Kẻ Chợ với hình ảnh một Thăng Long dân dã chỉ với hai thế kỷ 17-18!
6.Trong khi người nước ta có vẻ như bỏ quên hoặc không chấp nhận Kattigara -Kẻ Chợ có thật từ đầu công nguyên, thì sau ngót trăm năm có một nhà nghiên cứu Trung Quốc xác nhận thuyết của E. Chavannes là đúng. Trong cuốn Đảo di chí lược島夷志略của Uông Đại Uyên 汪大淵đời Nguyên mới xuất bản, ở tiểu mục Giao Chỉ, người chú giải là Tô Kế Khanh 蘇繼廎đã gạt bỏ tất cả các cách hiểu thô thiển sai lầm coi Giao Chỉ như lãnh thổ thời cổ của Trung Quốc, cũng chia tay với kiểu giải thích võ đoán cho rằng có tên Giao Chỉ là do người Giao Chỉ có hai ngón chân cái quay vào nhau, hoặc thuyết cho rằng người Giao Chỉ khi nằm thường gác chéo hai chân (giao) v.v...Đặc biệt ông đã dẫn công trình của E.Chavannes đã giải mã địa danh 交趾 (Kiao-Tche) là từ phiên âm của từ tiếng Việt Kẻ Chợ. Thuật ngữ Trung Quốc không gọi là phiên âm mà gọi là “đối âm 對音”tức là cách phiên âm âm vị học cổ điển, dùng các chữ đồng âm hoặc cận âm để làm đối âm. Cổ âm tiếng Việt cũng như cổ âm tiếng Hán không có thanh điệu, cho nên cổ âm của Ke Chơ rất giống cổ âm của 交趾 [keau . Từ 交趾 [keau này gần giống với cách phát âm của chữ Hy Lạp Kattigara, còn từ Kesho (tiếng Pháp) là phiên âm trực tiếp: phụ âm “Ch” của tiếng Việt người Pháp quen phiên “sh”
Việc Tô Kế Khanh dẫn E.Chavannes giải thích lý do và mối liên quan các địa danh Kẻ Chợ > Giao Chỉ > Ke sho > Kattigara là một xác nhận khảo cứu của E.Chavannes là chính xác. Tô Kế Khanh còn cung cấp thêm tư liệu ở xứ sở Thổ Nhĩ Kỳ xa xôi, trong tác phẩm của nhà sử học Rashid-eddin cũng có ghi địa danh Kẻ Chợ với từ phiên âm là Kafchikn. Tô Kế Khanh giải thích lý do tên gọi Kẻ Chợ:
“Từ mấy thế kỷ trước Công nguyên, Kẻ Chợ (Giao Chỉ) đã là một trung tâm mậu dịch ở khu vực Nam Hải (tức biển Đông)...Thời Đông Hán, năm Diên Hy thứ 9 (166 SCN) vua nước Đại Tần (tức nước Do Thái/ Judaea) là An Đôn (Marcus Aurelius, 121-180) sai sứ giả đến Trung Quốc khoảng sau khi Ptolémé đã soạn xong sách Địa lý học (Geography) hơn mười năm, mà nơi lên bộ của đoàn sứ giả ấy vẫn là hải cảng ở Kẻ Chợ (Giao Chỉ). Đến trước đời Đường, Giao Chỉ đích thật là trung tâm mậu dịch chủ yếu của các nước ven biển Nam Hải (tức biển Đông) buôn bán trao đổi hàng hóa với Trung Quốc”[16]
Vì Kẻ Chợ (交趾 [keau /Ke sho/Kattigara ] có nghĩa là một cái chợ lớn, một dại thị trường có vẻ trái ngược với một nơi góc biển âm u lam chướng độc hại vẫn ghi sơ sài trong một vài sử liệu quen thuộc nên nhà nghiên cứu Trung Quốc phải chú thích bổ sung để khẳng định: Cho đến truớc đời Đường Giao Chỉ đích thực là một trung tâm mậu dịch chủ yếu của các nước ven bờ biển Đông buôn bán trao đổi hàng hoá với Trung Quốc. Đoạn chú thích trên cơ bản là thoả đáng, nhưng để chính xác hơn tôi thấy cần phải bổ sung: Kẻ Chợ không chỉ là một trung tâm mậu dịch chủ yếu của các nước ven biển Nam Hải mà còn là một thương cảng quốc tế quan trọng nữa:
Bộ Lịch sử Việt Namđã nêu sự kiện năm 284 lái buôn La Mã đã vào Giao Chỉ mua 3 vạn tờ giấy làm quà tặng cho vua Tấn. Nhưng các tác giả chú ý hơn vai trò giao thương hàng hải của Giao Chỉ đối với Trung Quốc đời Đường: thuyền buôn và sứ giả các nước Nam á (Ấn Độ), Tây Á (Iran), Địa Trung Hải (La Mã) v.v…muốn đến Trung Quốc đều phải “đi theo con đường Giao Chỉ”. Giao chỉ không những là hải cảng tốt cho thuyền tàu dừng lại tiếp lương thực, nước ngọt, tránh bão tố v.v…, mà còn là vì Giao Chỉ có rất nhiều sản phẩm quý như ngà voi, sừng tê, đồi mồi, ngọc trai, gia vị (hồ tiêu), hương liệu (quý nhất là trầm hương, kỳ nam) [17] v.v…. Tiếc là các tác giả chưa đi sâu để thấy vai trò trung tâm thương mại của Giao Chỉ từ đầu và cả từ rất lâu trước Công Nguyên.
Gần đây nhân chuyên đề khảo cứu con đường tơ lụa quốc tế, nhiều tác giả phương Tây như G. R. G. Worcester đã nhận xét: vùng vịnh Bắc Bộ, Kẻ Chợ (Hà Nội) “có thể đã có những ảnh hưởng qua giao tiếp đường biển rất sớm sủa với dân Địa Trung Hải, vì người ta tin rằng những thương gia Phoenicia trên hải trình tìm kiếm "đường tơ lụa", đã tới Đông Dương vào năm 650 TCN"[18]. Đó là vào thời nuớc Văn Lang của các vua Hùng ở nước ta .
Không những gắn Giao Chỉ với giao thương đời Đường, trước đây một cách mơ hồ chúng ta thường gắn thương mại (buôn bán) với kinh tế hàng hoá, với sự ra đời của chủ nghĩa Tư bản. Nền kinh tế hàng hoá không phải mới có từ thế kỷ 16 -17 với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Các quốc gia cổ đại như Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ v.v…đều có những trung tâm thương mại sầm uất. Chỉ là đến thế kỷ 16-17 trên thé giới mới có các nền kinh tế hàng hoá phát triển đặc biệt mạnh mẽ, gắn liền với sự ra đời chủa chủ nghĩa tư bản. Có thể chính với tư duy này khiến người ta hiểu lầm rằng tên gọi Kẻ Chợ chỉ là do người phương gọi kinh đô Thăng Long của ta, mà cũng hạn chế ở thời gian khoảng thế kỷ 17-18 mà thôi!
Trong khi đó sử gia phương Tây có cách nhìn toàn diện hơn, khớp hợp với các cứ liệu như tôi đã dẫn ra ở trên. Chẳng hạn G.R.G.Worcester nhận xét Giao Chỉ (vùng Hà Nội) “...có thể đã có những ảnh hưởng qua giao tiếp đường biển rất sớm sủa với dân Địa Trung Hải, vì người ta tin rằng những thương gia Phoenicia trên hải trình tìm kiếm "đường tơ lụa”, đã tới Đông Dương vào năm 650 TTL”. Chú giải thêm của người phân tích: “Vào thời đó, nước Văn Lang của chúng ta đang lúc thịnh thời và do các vua Hùng (2879-258.TCN) trị vì.”
­ &
Tham luận của tôi đến đây đã trình bày không chỉ về một miền đất Kinh kỳ mà là cả một đất nước KẺ CHỢ tồn tại từ đầu và cả trước Công nguyên nhiều năm mà người nước ngoài dịch tên là Giao Chỉ quốc, Késho, Kattigara,Kafchikn v.v…Chút đóng góp của tôi chỉ ở một tư liệu khẳng định sự tồn tại của địa danh Kẻ Chợ ở thế kỷ 14-15, phần còn lại chỉ giới thiệu khảo cứu của một số nhà nghiên cứu có danh tiếng. Những khảo cứu ấy thật rất có ý nghĩa cho việc nghiên cứu lịch sử nước ta. Có điều là những ý kiến như vậy rất rải rác, lại bị lớp bụi thời gian cả ngàn năm che lấp, chứ không hẳn bày sẵn trên các trang chữ lộ thiên. Cái gì giữ lại quá lâu đời cũng thành ra có vẻ quê mùa, cái tên gọi Kẻ Chợ cũng như thế chăng? Nhưng ai mà dám bảo rằng hồi xưa ấy lại còn có một lớp từ vựng nào “sang trọng” hơn? Vả lại không ít người có thiên kiến sôvanh, không dễ gì để họ phải thừa nhận Kẻ Chợ (Giao Chỉ) là một trung tâm mậu dịch quốc tế sầm uất bên bờ biển Đông hồi đầu Công nguyên, thì biết đâu cái từ Kẻ Chợ ấy đương thời là một địa danh rất sang trọng hấp dẫn. Người Kẻ Chợtức là dân tộc Kinh chúng ta đấy! Viết đến đây tôi nhớ đến Bình Nguyên Lộc: Ông đã vào sâu trong rừng Trường Sơn, sang cả bên Lào để tiếp cận, tìm hiểu một bộ tộc có tên là Kha Lá Vàng. Bộ tộc này sống di cư, chặt cây dựng lán làm nhà, khi lá đổ vàng lại ra đi. Nhận thấy họ có nhiều đặc điểm ăn ở giống người kinh, ông phỏng đoán họ là hậu duệ của người Lạc (Lạc Việt), vì không muốn bị Hán hoá nên phải lánh vào rừng sâu. Đặc biệt là những người trong bộ tộc ấy còn giữ được ký ức về việc tổ tiên họ xa xưa chỉ tiêu dùng toàn một thứ tiền vàng… Uớc gì nay mai cả nước ta sẽ trở thành cả một thị trường hiện đại thịnh vượng mà mỗi người dân đều có thể cầm nắm được những đồng tiền vàng như người KẺ CHỢ xưa kia.
Nhân Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long –Hà Nội, xin mượn lời của CNNÂ để khánh chúc: BANG KỲ KẺ CHỢ KHOẺ BỀN MUÔN THU!
Chú thích:
[1] “Kẻ chợ”- dấu tích ngôn ngữ về một hoạt động phổ biến của đất Kinh kì.http:// thanglong.chinh phu.vn/Home.27/02/2010 | 17:09:00
[2] Xem: Ngô Đức Tho, Thông tin mới nhất về Chỉ nam ngọc âm. Hội thảo quốc tế về chữ Nôm. Hà Nội, 11-2004. Kỷ yếu: Cũng xem:www.tapchithoidai.org/ThoiDai5/200505_NgoDucTho.pdf
[3] Tham khảo ý kiến mới đây của GS Nguyễn Ngọc Bích về kết quả khảo cứu niên đại CNNÂ của Ngô Đức Thọ: “ Vấn đề xem chừng chưa được giải quyết cho đến khi ông Ngô Đức Thọ, một chuyên gia về “chữ huý,” trong một bài thuyết trình đọc tại Hội nghị quốctế về Nôm họp ở Hà nội cách đây hơn ba năm (hai ngày 13 và 14 tháng 11, 2004), chứng minh được một cách khá thuyết phục rằng đây là một tác phẩm có từ đời nhà Hồ (1400-1407). Năm Tân tỵ mà ta thấy được ghi trong bài tựa, do đó, chỉ có thể là năm 1401, và như vậy cuốn sách là đương thời với thơ quốc âm Nguyễn Trãi, và điều này giải thích được một số đặc điểm mà ta sẽ không thể hiểu được nếu cho nó một niên đại chậm muộn hơn nhiều…) http://www.vietthuc.org/?p=2691.
[4] PGS.TS Nguyễn Lân Cường môt chuyên gia khảo cổ nổi tiếng mới đây cũng còn viết thế! (“ …Khi đường trơn ngón chân phải choãi ra để chống trơn, từ đó thành Chân Giao Chỉ”. Đi tìm bàn chân Giao Chỉ, http://www.xaluan.com/modules.php? name= News&file =article&si
[5] Trước vua Nghiêu theo truyền thuyết có 6 vua khác, nhưng chỉ là truyền thuyết, chỉ từ Đế Nghiêu mới tính là lịch sử vì có sách Nghiêu điển.
[6] Việc này khi dịch chú Toàn thư (NK1-8b) chúng tôi đã có chú thích nêu rõ người chú của nguyên bản căn cứ theo chú thích của Hán thư(Q.28 Hạ, tr.11a) nói: “quận Nhật Nam tức là Tượng quận thời Tần”. Thuyết này từ cuối thế kỷ XĨ đã bị nhiều học giả bác bỏ, bởi vì ngay trong Hán thư , Bản kỷ Q.7,tr.9a đã nói rõ: năm Nguyên Phượng thứ 5 (76 TCN) đời Hán Chiêu đế đã bãi bỏ Tượng quận, chia đất vào hai quận Uất Lâm và Tường Kha”. Quận Uất Lâm nay là đất Quảng Tây, quận Tường Kha gồm tây Quảng Tây và nam Quý Châu (x. Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Đức Thọ dịch chú, H.,Nxb KHXH, 1993. T.I tr.138)
[7]Vấn đề nhà Triệu có nhiều khía canh cần làm sáng tỏ, bài này không bàn đến.
[8] Như cuốn Hoàng Lê nhất thống chí, đúng tên nguyên bản là An Nam nhất thống chí.
[10] http://so. hudong.com/search.do?so= doc&isFrom= intoDoc&q=%.
[11] Chân thành cám ơn Wikipedia và Google đã đưa lên mạng toàn cầu nhiều tài liệu quý báu, trong đó có cuốn Geographia của Claudius Ptolemaeus.
[12] Vũ Hữu San, Tài-liệu Pháp-lý về "Chủ-quyền Việt-Nam trên các quần-đảo Hoàng-Sa Trường-Sa" sau năm 1974.Mar 28, 2004. http://www.viet-studies.info/kinhte/HoangSa-TruongSa-_VuHuuSan.pdf.
[13] Vũ Hữu San,Hàng Hải Nước Việt Xưa.http://www.lyhocdongphuong.org.vn/ News/03/ Hang-Hai-Nuoc-Viet-Xua-Phan-1/8/1945/
[14] Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam , Chương V.
[15] Edouard Chavannes. Memoi re Réligieux éminents. Paris, Ernest Leroux, Éditeur, 1894. Cám ơn chị Mai Anh chuyên viên của EFEO đã giúp tôi tìm kiếm cuốn sách quý này.
[16] Uông Đại Uyên 汪大淵 , Đảo di chí lược 島夷志略. Tô Kê Khanh 蘇繼廎hiệu thích. (Trung ngoaij giao thông sử tùng thư). Bắc Kinh, Trung Hoa thư cục, 2000. tr.52-53.
[17] Lịch sử Việt Nam. T.1 NXb.KHXH, 1971, tr.98; 99-100.
[18] G. R. G. Worcester, The Junks & Sampans of the Yangtze. Dẫn theo Vũ Hữu San, TL đã dẫn.

BERLIN - GERMANY

Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012 | 03:07

BERLIN - GERMANYBerlin (còn được gọi là Béc-lin hay là Bá Linh) là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất và đông dân cư nhất của Đức. Ngoài ra thành phố Berlin cũng là một tiểu bang của liên bang Đức. Berlin là thành phố lớn thứ hai của Liên minh châu Âu (EU) sau London.

Trong quá khứ Berlin đã nhiều lần là thủ đô của các nước Đức như Đế chế Phổ, Đế chế Đức hay nước Cộng hòa Dân chủ Đức (DDR). Sau khi nước Đức thống nhất ngày 3 tháng 10 năm 1990, Berlin trở thành thủ đô của toàn liên bang Đức. Sau Quyết nghị Thủ đô của Quốc hội liên bang Đức (Deutsche Bundestag) vào năm 1991 thành phố cũng thực thi chức năng của mình là trụ sở của chính phủ và quốc hội từ năm 1999.

giới với Ba Lan 70 km và là một trong những khu vực đông dân cư nhất nước Đức.

Khu vực Berlin ngày nay nằm giữa hai vùng cao Barnim và Teltow. Trung tâm lịch sử của Berlin trước đây bé hơn rất nhiều và được hình thành trong một thung lũng, ở bên bờ sông Spree tại nơi hẹp nhất của sông này. Sông Spree chảy từ hướng Đông sang Tây và đổ vào sông Havel ở tận cùng phía tây của quận Spandau. Sông Havel chảy theo hướng Bắc-Nam này tạo nên các hồ lớn ở Berlin như hồ Tegeler hay hồ Wannsee.

Phần lớn khu vực Berlin ngày nay nằm ở trên hai vùng cao này: phần lớn các quận Reinickendorf và Pankow nằm trên Barnim, trong khi phần chính của các quận như Charlottenburg-Wilmersdorf, Steglitz-Zehlendorf, Tempelhof-Schöneberg và Neukölln thì nằm trên Teltow.

Điểm cao nhất của Berlin là điểm cao nhân tạo Teufelsberg (114,7 m trên mực nước biển) được đắp lên từ những đống đổ nát sau Đệ nhị thế chiến và điểm cao tự nhiên Müggelberge (115,4 m) trong quận Treptow-Köpenick. Chiều dài nhất từ Đông sang Tây vào khoảng 45 km, theo hướng Bắc-Nam khoảng 38 km

Thành phố nằm trong vùng khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình cả năm ở Berlin-Dalem là 9,2°C và lượng mưa trung bình hằng năm là 579 mm.

Các tháng nóng nhất trong năm là tháng 7 và tháng 8 với nhiệt độ bình quân là 18,4 hay 17,8°C, tháng lạnh nhất trong năm: tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ trung bình là 0,5 và 1,2 độ Celsius.

Tháng 7 là tháng có mưa nhiều nhất, trung bình là 67 mm, tháng có mưa ít nhất là tháng 2, trung bình 36 mm.
Cölln, phần của thành phố đôi Berlin-Cölln được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1237, tiếp theo đó là Berlin vào năm 1244. Hai thành phố nằm hai bên bờ của sông Spree được nối liền bởi chiếc cầu bắc qua sông Spree đó là điểm hẹp nhất của sông. Năm 1307 hai thành phố có tòa thị chính chung.

Từ năm 1451 Friedrich I (Brandenburg) trở thành tuyển hầu (Kürfürst) của vùng đất Brandenburg cho đến 1440. Dòng dõi Hoehenzollern cai trị cho đến 1918 tại Berlin, đầu tiên là hầu tước của Brandenbrg, rồi là vua của vương quốc Phổ và cuối cùng là hoàng đế Đức.

Cuộc chiến tranh 30 năm từ 1618 đến 1648 đã mang lại hậu quả nặng nề cho Berlin: 1/3 nhà cửa bị hư hỏng, dân số giảm chỉ còn một nửa. Friedrich Wilhelm (Brandenburg), được biết dưới danh hiệu đại tuyển hầu (Großer Kurfürst), kế tục sự nghiệp của cha vào năm 1640. Ông bắt đầu một chính sách nhập cư và khoan dung về tôn giáo. Từ năm sau đó các thành phố vùng ngoại ô Friedrichswerder, Dorotheenstadt và Friedrichstadt được thành lập.

Ở thế kỷ 17, Berlin được mở rộng thêm ra các khu vực ngoại thành. Năm 1701 Friedrich I được phong thành vua của Phổ và Berlin được chọn làm thủ đô. Từ tháng 1 năm 1710 các thành phố Berlin, Cölln, Friedrichswerder, Dorotheenstadt và Friedrichstadt được sát nhập lại với nhau trở thành thủ đô và là nơi ngự trị của vua. Không lâu sau đó, các khu vực ngoại thành mới lại được hình thành. Năm 1861 các khu vực ngoại ô Wedding, Moabit, Tempelhofer và Schöneberger được sát nhập thêm vào Berlin. Năm 1871 Berlin trở thành thủ đô của đế chế Đức mới được hình thành.

Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, vào năm 1918 nước Cộng hòa Weimar được thành lập tại Berlin. Với Luật Berlin Lớn năm 1920, thành phố này được mở rộng thêm các thành phố lân cận, cũng như các quận, huyện xung quanh Berlin. Khi đó dân số Berlin vào khoảng 4 triệu người.

Sau khi đảng Quốc xã lên nắm quyền năm 1933, Berlin trở thành thủ đô của Đế chế thứ ba. Thế vận hội mùa hè năm 1936 được tổ chức tại Berlin. Đảng Quốc xã có lập nên các kế hoạch xây dựng Berlin thành thủ đô Germania của toàn thế giới. Tuy nhiên ý định này bị thất bại do thua trong Đại chiến thế giới lần thứ hai.

Bom đạn chiến tranh đã phá hủy phần lớn các khu vực ở Berlin. Sau khi Hồng Quân Liên-Xô chiếm đóng Berlin, và nước Đức đầu hàng năm 1945, Berlin bị chia giống như toàn thể nước Đức thành 4 phần. Các khu vực đóng chiếm của quân liên minh phương tây: Mỹ, Anh và Pháp tạo thành Tây Berlin, còn khu vực đóng chiếm của Liên Xô tạo thành Đông Berlin. Tuy nhiên một bộ lãnh đạo cho cả Berlin được thành lập bởi 4 quân liên minh này. Sự khác biệt về đường lối chính trị giữa quân đội đồng minh phương tây và Liên Xô dẫn đến việc phong tỏa Tây Berlin vào năm 1948/1949. Quân đội đồng minh phương tây đã trả lời hành động này bằng cách tiếp tế Berlin bằng đường không
Sau khi nước Cộng hòa Liên bang Đức được thành lập ở Tây Đức với nền kinh tế thị trường mang tính chất xã hội, và nước Cộng hòa Dân chủ Đức được thành lập ở Đông Đức với nền kinh tế kế hoạch tập trung, cuộc Chiến tranh lạnh trở nên sâu sắc hơn ngay cả ở Berlin. Trong khi nước Cộng hòa Liên bang Đức dời thủ đô về Bonn, lúc đầu được xem như là một giải pháp tạm thời, thì Đông Berlin thành thủ đô của nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Cao điểm của cuộc phân tranh Đông-Tây được đạt tới với việc nước Cộng hòa Dân chủ Đức dựng lên Bức tường Berlin vào ngày 13 tháng 08 năm 1961 chia cách Đông và Tây Berlin. Sự đi lại giữa hai khu vực này chỉ có thể xảy ra ở một số điểm kiểm tra nhất định.

Mãi đến năm 1989, dưới áp lực đấu tranh của người dân Đông Đức bức tường thành ngăn cách mới bị phá bỏ. Năm 1990 hai nước Đức tái thống nhất thành nước Cộng hòa Liên hòa bang Đức, và theo Hiệp ước Thống nhất Berlin trở thành thủ đô của Đức. Năm 1991 quốc hội Đức quyết định Berlin cũng là trụ sở chính phủ của Đức. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 9 năm 1999 quốc hội và chính phủ bắt đầu làm việc tại Berlin
Nghị quyết Thủ đô của Quốc hội Liên bang Đức lần thứ nhất sau tái thống nhất vào năm 1991 quyết định Berlin, thủ đô của liên bang, sẽ là trụ sở của Quốc hội Liên bang, của chính phủ liên bang và của Hội đồng Liên bang. Từ năm 1994 trụ sở của tổng thống liên bang cũng ở tại Berlin. Trong năm 1999 một phần lớn chính phủ liên bang đã chuyển từ Bonn về Berlin. Nhưng Berlin không phải là thủ đô tập trung vì phần lớn các cơ quan liên bang nằm ở thành phố Bonn trực thuộc liên bang hay trong khác thành phố khác.

Cổng Brandenburg (Brandenburger Tor) được xây dựng trong khoảng thời gian từ 1788 đến 1791 là biểu trưng của Berlin và cũng là tượng trưng của sự chia cắt nước Đức trong quá khứ. Cổng này dựa theo cổng Propylaea của Acropolis ở Athena, phía trên có một cỗ xe tứ mã với nữ thần chiến thắng Victoria. Thật ra người sáng tạo ra cổng Brandenburg Johann Gottfried Schadow đã nghĩ đến nữ thần hòa bình Eirene khi xây dựng công trình này. Cổng nằm ở cuối đường Unter den Linden về phía tây, con đường chạy dài cho đến đảo viện bảo tàng trên sông Spree và Nhà thờ chánh tòa Berlin. Ranh giới giữa hai nước Đức chạy qua đây cho đến khi tái thống nhất Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990.

Nằm trong khu vực này là Nhà hát Quốc gia Unter den Linden (Staatsoper Unter den Linden) được xây dựng năm 1743 theo phong cách Rococo, Thư viện Quốc gia Berlin (Staatsbibliothek zu Berlin) được kiến tạo trong khoảng từ 1774 đến 1780, Zeughaus Berlin kiểu Baroque được xây dựng từ 1695 cho đến 1706 theo bản vẽ của Andreas Schlüter và Nhà thờ thánh Hedwig, nhà thờ chính của giáo khu công giáo Berlin. Nhà thờ Pháp (Französicher Dom) trên Gendarmenmarkt đã là trung tâm của Khu phố Pháp trong thế kỷ 17. Trường Đại học Humbolt Berlin khánh thành năm 1809, nơi nhà triết học Wilhelm Friedrich Hegel đã từng giảng dạy và là nơi đã đào tạo 27 người nhận giải thưởng Nobe
Một con đường mua sắm được ưa chuộng ở Berlin là Kürfürstendam với rất nhiều khách sạn, cửa hàng và nhà hàng. Nhà thờ Tưởng niệm Hoàng đế Wilhelm (Kaiser-Wilhelm-Gedächtniskirche) được xây dựng từ 1891 đến 1895, bị phá hủy trong Đệ nhị thế chiến. Nhà thờ này nằm ở cuối đại lộ về hướng đông. Phần tháp đổ nát còn lại được giữ nguyên như đài kỷ niệm. Ngay bên cạnh đó là một nhà thờ mới được xây dựng theo thiết kế của Egon Eiermann từ 1959 đến 1961, nằm trên một mặt bằng hình bát giác với một tháp nhà thờ hình lục giác đứng riêng lẻ.

Đường nối dài Kurfürstendamm về phía đông là Tauentzienstraße, nơi có Trung tâm mua sắm phương Tây (Kaufhaus des Westens - KaDeWe), trung tâm mua sắm lớn nhất trên lục địa châu Âu, và Europa-Center được xây dựng từ 1963 cho đến 1965. Trong ngôi nhà 22 tầng này là rất nhiều cửa hàng, nhà hàng, văn phòng, một rạp chiếu phim và một tầng để ngắm cảnh quang. Trải dài về hướng đông bắc với chiều dài 3 km là công viên lớn nhất Berlin: Vườn thú Lớn (Großer Tiergarten).

Gần Cổng Brandenburg là hội trường Kongresshalle (Berlin) được kiến tạo năm 1957 và Nhà Quốc hội Đế chế (Reichtagsgebäude) được xây trong khoảng thời gian từ 1884 cho đến 1894. Tòa nhà này bị hư hại nặng trong cuộc hỏa hoạn vào ngày 27 tháng 2 năm 1933 và cũng bị hư hại nhiều trong Đệ nhị thế chiến. Từ năm 1999 tòa nhà này là trụ sở của Quốc hội Liên bang Đức. Cũng đáng đến thăm là Lâu đài Bellevue được xây dựng năm 1785, nơi ở mùa hè của hoàng tử August Ferdinand, anh em của Friedrich Đại đế (Friedrich der Großen), ngày nay là dinh tổng thống liên bang Đức.

Orianienburger Straße (Đường Orianienburg) trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai là trung tâm của Khu phố Do Thái. Nằm trong những nỗ lực tái kiến thiết là việc tái tạo Đền thờ đạo Hồi Mới (Neue Synagoge) đã bị hư hại nặng do bom trong Đệ nhị thế chiến. Tái khánh thành vào năm 1995, đền thờ đạo Hồi này là trung tâm của nghiên cứu và gìn giữ văn hóa Do Thái. Nằm về hướng bắc là nghĩa trang Do Thái lâu đời nhất của thành phố: Nghĩa trang Do Thái Berlin-Mitte. Nghĩa trang được biết đến nhiều hơn rất nhiều là Nghĩa trang Do Thái Berlin-Weißensee, là nghĩa trang Do Thái lớn nhất châu Âu.

Nằm về phía đông của hai nhánh sông Spree bao bọc lấy đảo Spree là Quảng trường Alexander (Alexanderplatz) với nhiều cửa hàng và nhà hàng, ngay gần đấy là Tháp truyền hình Berlin cao 368 m, công trình kiến trúc cao nhất Berlin, Nhà thờ Đức bà (Berlin) (Marienkirche (Berlin)) và Tòa thị chính Berlin (Rotes Rathaus). Đáng đến tham quan trong trung tâm phía đông Berlin là khu phố cổ Prenzlauer Berg và các con đường mua sắm Schönhauser Alle và Kastanienalle. Từ năm 2006 Cung điện Cộng hòa (Palast der Republik) bị đập bỏ. Theo kế hoạch, Cung điện Thành phố Berllin (Berlliner Stadtschloss) sẽ được tái xây dựng tại đây cho đến năm 2015. Thời điểm này cũng không chắc chắn vì hiện nay đang thiếu tiền.

Quảng trường Postdam (Postdamer Platz) là một trọng điểm giao thông trong trung tâm Berlin với nhiều đường lớn tỏa ra từ đây. Quảng trường được xây dựng theo lệnh chiếu chỉ của vua Phổ Friedrich Wilhelm I vào năm 1741. Vào năm 1923, lịch sử truyền thanh ở Đức bắt đầu trong Nhà Vox (Vox-Haus) ở ngay gần đấy. Cho đến năm 1940, Quảng trường Postdam là quảng trường có mật độ giao thông cao nhất châu Âu. Sau nhiều cuộc bỏ bom của quân đội Đồng minh trong Đệ nhị thế chiến quảng trường chỉ còn là đống gạch vụn.

Năm 1961 Quảng trường Postdam bị chia cắt bởi Bức tường Berlin và vì thế khu vực này suy sụp. Từ vài năm nay, nơi Bức tường Berlin trước kia được xây cắt ngang qua quảng trường được đánh dấu bằng cách lót đá. Việc xây dựng các nhà cao tầng ở Quảng trường Postdam sau ngày tái thống nhất với rất nhiều cửa hàng và quán ăn đã phát triển nơi đây trở thành chiếc cầu nối giữa 2 nửa thành phố đã từng bị chia cắt.

Trong khu Berlin-Charlottenburg là Sân vận động Olympia Berlin được xây dựng cho Thế vận hội mùa hè năm 1936 cũng như là Tháp truyền thanh Berlin cao 150 m, được xây dựng trong khoảng thời gian 1924-1925 nhân dịp Triển lãm Truyền thanh Quốc tế (Internationale Funkausstellung Berlin - IFA) lần thứ ba và đã nhanh chóng trở thành biểu tượng cho Berlin. Các thắng cảnh khác của thành phố là Lâu đài Charlottenburg (Schloss Charlottenburg) được bắt đầu xây dựng năm 1695, một công trình xây dựng tiêu biểu theo kiểu Baroque của dòng họ Hohenzollern với bộ sưu tập tranh có tầm quan trọng lớn, Thành Spandau và Lâu dài Tegel (cũng được gọi là Lâu đài Humbolt) được xây dựng theo phong cách cổ điển, đã từng là cơi cư ngụ của nhà nghiên cứu tự nhiên và địa lý Alexander von Humbolt.     

TORONTO - CANADA

TORONTO - CANADAToronto (đọc như "Tô-ron-tô" hay "Tồ-rôn-tô") là thành phố lớn nhất của Canada và cũng là thủ phủ của tỉnh bang Ontario. Với diện tích khoảng 630 km² và một dân số trên 2,5 triệu (2004), đây là một trong những trung tâm thương mại, tài chính và công nghiệp lớn nhất thế giới. Toronto là thành phố đa văn hóa, sắc tộc, nghệ thuật và được xem là một trong những thành phố an toàn nhất Bắc Mỹ. Nó còn nổi tiếng với các cao ốc chọc trời, Đại học Toronto, các đội bóng và khúc gôn cầu lớn, và ngọn tháp CN cao nhất thế giới.

TOKYO - JAPAN
Tokyo (東京都, Tōkyō-to nghe (trợ giúp·chi tiết); Hán-Việt: Đông Kinh đô) là thủ đô của Nhật Bản.

Trong tiếng Nhật, Tokyo có nghĩa là "Thủ đô ở phía đông". Không chỉ là một đô thị riêng lẻ mà ngày nay Tokyo là một mạng lưới các đô thị rộng lớn.

Tầm quan trọng của Tokyo được nâng lên chủ yếu là do công của hai người: Tokugawa Ieyasu và Hoàng đế Meiji. Vào năm 1603, sau khi thống nhất các sứ quân đánh lẫn nhau ở Nhật Bản, Shogun Tokugawa Ieyasu thiết lập Edo (bây giờ là Tokyo) như là căn cứ của ông. Kết quả là, thành phố phát triển nhanh chóng và trở thành một trong những thành phố lớn nhất trên thế giới với dân số trên 1 triệu người vào thế kỉ thứ 18. Nó trở thành thủ đô de facto của Nhật Bản mặc dù hoàng đế sống ở Kyoto, thủ đô của vương quốc. Xem Edo.

Sau 263 năm, chế độ shogun bị lật đổ dưới danh nghĩa chấn hưng chế độ quân chủ. Vào năm 1869, Hoàng đế Meiji vừa 17 tuổi chuyển về Edo, được đặt tên lại là "Tokyo" ("Thủ đô phía đông") một năm trước đó. Tokyo đã là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia, và cung điện của hoàng đế làm nó trở thành một thủ đô de facto của vương quốc cũng như là Lâu đài Edo trước đây trở thành Cung điện hoàng gia. Thành phố Tokyo được thiết lập, và tiếp tục là thủ đô cho đến khi nó trở thành một quận vào năm 1943 và sát nhập vào "Khu đô thị mở rộng" của Tokyo.
Tokyo, cũng như là Osaka đã được thiết kế từ những năm 1900 như là thành phố đường sắt, nghĩa là thành phố xây xung quanh các nhà ga xe lửa lớn với một mật độ dân số cao, do đó các đường sắt nội thành có thể được xây với giá khá rẻ ở độ cao của mặt đường. Điều này khác với các thành phố trên thế giới khác như Los Angeles với mật độ dân thấp chủ yếu là cho xe hơi chạy, và mặc dù các đường cao tốc đã được xây dựng, các thiế kế cơ bản vẫn không thay đổi cho đến ngày hôm nay.

Tokyo đã trải qua hai tai họa lớn và hồi phục một cách đáng kể từ hai sự kiện đó. Một là trận động đất lớn Kanto vào năm 1923, và tai họa kia là Thế chiến thứ II. Những bom lửa năm 1945 cũng hủy diệt không kém hai quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki cộng lại. Nhiều khu vực trong thành phố bị san phẳng.

Sau chiến tranh, Tokyo được xây dựng lại hoàn toàn, và được trưng bày cho thế giới xem trong Thế vận hội 1964 tổ chức tại thành phố này. Tokyo trở thành thành phố lớn nhất trên thế giới vào năm 1965 (vượt qua khỏi New York). Những năm 1970 đem lại những phát triển về chiều cao như Sunshine 60, một sân bay mới và gây tranh cãi (Sân bay quốc tế Narita) tại Narita (rất xa bên ngoài Tokyo), và một dân số tăng lên khoảng 11 triệu người (trong khu vực metropolitan).

Hệ thống tàu điện ngầm của Tokyo và các đường xe lửa đi lại trong thành phố trở thành bận rộn nhất trên thế giới bởi vì càng nhiều người di chuyển đến khu vực này. Vào những năm 1980, giá địa ốc tăng vọt trong một bong bóng kinh tế: nhiều người giàu lên nhanh chóng, nhưng bong bóng vỡ đầu những năm 1990 và nhiều công ty, ngân hàng, và cá nhân bị vướng phải giá địa ốc suy giảm về giá trị. Một suy thoái kinh tế theo sau đó, làm những năm 1990 thành "thập kỉ bị mất" của Nhật mà bây giờ nó đang hồi phục chậm chạp.

Tokyo vẫn chứng kiến các phát triển đô thị mới trên những vùng đất ít sinh lợi hơn. Những công trình gần đây bao gồm Ebisu Garden Place, Tennozu Isle, Shiodome, Roppongi Hills, Shinagawa (bây giờ cũng là nhà ga Shinkansen), và nhà ga Tokyo (phía Marunouchi). Các tòa nhà quan trọng đã bị phá bỏ để dành chỗ cho những khu siêu thị hiện đại hơn như dãy đồi Omotesando. Các dự án đắp thêm đất ở Tokyo cũng đã diễn ra trong nhiều thế kỉ. Nổi bật nhất là khu vực Odaiba, bây giờ là một trung tâm mua bán và giải trí.

Tokyo bị tàn phá bởi các trận động đất mạnh vào năm 1703, 1782, 1812, 1855 và 1923. Trận động đất năm 1923, với ước tính cường độ vào khoảng 8.3, giết hại 142,000 người.

Cũng có nhiều dự án khác nhau được đề nghị để di chuyển các cơ quan chức năng của nhà nước từ Tokyo đến một thủ đô thứ hai ở một vùng khác của Nhật Bản, để làm giảm đi sự phát triển nhanh chóng ở Tokyo và vực dậy những vùng chậm phát triển về mặt kinh tế. Những dự án này còn nhiều tranh cãi trong Nhật bản và chưa được thực hiện.

Do sự tiến hóa trong phương pháp chữ Nhật được phiên âm ra biểu diễn roman, các văn bản cũ có thể nhắc đến thành phố như là "Tokio     

10 THÀNH PHỐ NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI

10 thành phố biến mất nổi tiếng nhất thế giới
Những cuốn sách lịch sử cổ đại thường ghi về các thành phố bị phá hủy, bỏ hoang hoặc nhấn chìm dưới biển. Sự tồn tại của một số đô thị như vậy không bao giờ được chứng minh, nhưng ngày nay vẫn có thể tới khám phá phế tích của nhiều thành phố bí ẩn.
Troy
Phế tích của thành phố truyền thuyết trong những trang sách của Homer này được phát hiện vào thế kỷ 19 tại Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ. Theo truyền thuyết, sau khi bị bao vây, Troy đã bị người Hy Lạp cướp bóc và đốt phá toàn bộ. Tại một ngọn đồi cổ Hisarlik, các nhà khảo cổ đã phát hiện những bức tường cao khoảng 7 mét cùng nhiều cột đá và bằng chứng về 9 thành phố quần tụ trong khu vực. Trong số đó có thể có thành phố Troy nổi tiếng từng bị cướp phá năm xưa.
Babylon
Người Nebuchadnezzar đã xây dựng vườn treo Babylon trên phần đất thuộc Iraq ngày nay và trở thành một trong 7 kỳ quan thế giới cổ đại. Nhà sử học Herodotus đã ghi lại sự tráng lệ của kỳ quan này dù có thể ông chưa từng được nhìn tận mắt công trình. Ngày nay nhiều dấu tích về một khu vườn thần tiên như vậy đã được phát hiện. Những bức tường bằng gạch bùn của Babylon được tìm thấy từ thế kỷ 19 cùng phế tích của cung điện phía bắc. Di tích này được tái dựng như trong ảnh dưới thời Saddam Hussein. Trong khi đó, những mảnh vỡ lớn của Cửa Ishtar thuộc Babylon cổ đại đang được lưu giữ tại Bảo tàng Pergamon Berlin.
Akrotiri
Thành phố thời đại đồ đồng này được nền văn minh Minoan sử dụng cho đến khi nó bị hủy diệt trong trận phun trào của núi lửa khoảng năm 1500 trước Công nguyên. Phế tích của đô thị được phát hiện trên đảo Santorini của Hy Lạp với nhiều nhà cửa, cầu thang, tranh tường và đồ gốm rất đẹp được bảo tồn nguyên vẹn dưới lớp đất đá và tro bụi núi lửa. Đợt phun trào này có thể đủ lớn để đã cuốn cả một phần hòn đảo xuống biển theo dòng nham thạch khổng lồ và câu chuyện này đã gây niềm cảm hứng về thành phố Atlantis huyền thoại.
Machu Picchu
Thành phố bị lãng quên này của người Inca được nhà thám hiểm người Mỹ Hiram Bingham tình cờ phát hiện năm 1911 tại Peru. Đây là lần đầu tiên thế giới biết đến đô thị nằm giữa vùng núi non hiểm trở này kể từ khi đế chế của người Inca sụp đổ những năm 1530. Machu Picchu ngày nay trở thành một trong những thắng cảnh nối tiếng nhất thế giới, nhưng câu hỏi tại sao thành phố lại được xây dựng tại nơi khó tiếp cận như vậy vẫn còn là một bí ẩn.
Petra
Du khách chỉ có thể chiêm ngưỡng thành phố kì vỹ này sau khi vượt qua hẽm núi vô cùng kín đáo và hẹp dài hơn 1km có tên Siq, nằm giữa những núi đá sa thạch. Có khoảng 1.000 ngôi mộ cổ, một đài hiến tế và một một tu viện tại đây. Trước đây chỉ có người Bedouin biết đến Petra và người bên ngoài đầu tiên khám phá thành phố là nhà du hành người Thụy Sĩ Johann Burckhardt vào năm 1812. Khi nghe nói về một thành phố bí ẩn, ông đã cải trang làm một người Ảrập và thuyết phục những người dẫn đường đưa ông tới thành phố này.
Oradour-sur-glane
Bản thân thành phố nhỏ của Pháp này chưa từng bao giờ "biến mất" kiểu bí ẩn như trên, nhưng nó là nơi chứng kiến vụ thảm sát kinh hoàng trong Thế chiến II, khi toàn bộ dân số gồm 624 người gồm cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị lính SS của Đức Quốc xã sát hại ngày 10/6/1944. Cho đến giờ vẫn chưa rõ nguyên nhân chính xác những người này bị giết. Sau thảm kịch toàn bộ thành phố bị san phẳng và bỏ hoang. Ngay nay thỉnh thoảng vẫn có những lễ tưởng niệm diễn ra tại đây.
Carthage
Thành phố cảng cổ đại ở Tunisia này từng hai lần bị tàn phá, trong đó lần đầu tiên do người La Mã tiến hành trong cuộc chiến tranh Punic năm 146 trước Công nguyên. Sau đó thành phố phát triển trở lại để trở thành một thương cảng sầm uất bên bờ Địa Trung Hải trước khi bị người Ảrập cướp phá năm 698 sau Công nguyên. Ngày nay còn khá ít phế tích về Carthage còn lưu lại được, nhưng những dấu tích nằm rải rác trên khu đồi Byrsa vẫn có thể đến thăm quan.
Tikal
Đây từng là kinh đô của nền văn minh Maya và nơi đóng đô của các vị vua nổi tiếng như Stormy Sky và Great Jaguar Paw. Tikal nằm trên đất Guatemala thuộc Trung Mỹ ngày nay này bị bỏ hoang khoảng năm 900 sau Công nguyên. Sau đó Tikal bị cây rừng che phủ suốt hơn một nghìn năm. Người địa phương Guatemala biết đến sự tồn tại của thành phố từng có 4.000 tòa nhà và hơn 90.000 dân cư sinh sống này từ lâu, nhưng phải đến thế kỷ 19 các nhà thám hiểm châu Âu mới phát hiện ra Tikal..
Kuelap
Thành phố này ẩn giấu trong những khu rừng quanh năm mây mù ở miền bắc Peru và mới được phát hiện. Cơ quan du lịch Peru đang hy vọng phế tích của thành phố ra đời từ giai đoạn tiền văn minh Inca này sẽ trở thành một Machu Pichhu ở phía bắc. Người Chachapoyas đã sử dụng pháo đài giữa rừng sâu Kuelap, nơi có những tòa nhà, đền thờ và lăng mộ được một bức tường cao hơn 20 mét bao quanh này.
Angkor
Di tích hoành tráng này được những cánh rừng rập rạp của Campuchia phủ kín và một thời từng là kinh đô của đế chế Khmer hùng mạnh trong quá khứ. Nhà thám hiểm người Pháp Henri Mouhot tình cờ phát hiện ra đô thị kỳ vĩ này giữa rừng già hơn 140 năm trước. Tại Angkor chứa đựng vô số ngôi đền cổ đặc sắc xây từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 14.
 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved