.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn SINH HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SINH HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng

Nguồn gốc con người: Thuyết tiến hóa

Written By kinhtehoc on Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012 | 02:00

Nguồn gốc con người: Thuyết tiến hóa

TVĐĐ - 01/04/2010Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Trước hết, có lẽ tôi cần phải thú nhận là không có cách nào tôi có thể trình bày đầy đủ về thuyết Tiến Hóa. Lý do chính là: Tiến Hóa là một quy luật thiên nhiên trong vũ trụ, và trong gần 150 năm nay đã được kiểm chứng, phát triển, từ đó giải thích được nhiều điều trong vũ trụ, thiên nhiên. Ngày nay, thuyết Tiến Hóa bao trùm rất nhiều bộ môn khoa học. Do đó, không ai có thể tự cho là mình biết hết về thuyết Tiến Hóa.

Một khó khăn khác tôi vấp phải khi viết về thuyết Tiến Hóa là những danh từ chuyên môn mà tôi không đủ khả năng để dịch ra tiếng Việt hoặc không biết là đã được dịch ra tiếng Việt. Vì những lý do trên, trong bài khảo luận này, tôi chỉ tự hạn trong chủ đề “Nguồn Gốc Con Người: Thuyết Tiến Hóa”, để bổ túc cho phần trước: “Nguồn Gốc Vũ Trụ: Thuyết Big Bang”. Nhưng ngay khi thu hẹp bài viết trên chủ đề “Nguồn Gốc Con Người: Thuyết Tiến Hóa”, vì là một bài viết cho quảng đại quần chúng đọc, cho nên tôi sẽ cố gắng viết thật đơn giản và tránh đi vào chi tiết cũng như dùng những danh từ chuyên môn trong thuyết Tiến Hóa. Phần tài liệu cuối sách có thể giúp quý độc giả đi sâu vào những chi tiết, nếu muốn.

Với sự hiểu biết hiện nay về nguồn gốc con người trên trái đất thì Thuyết Tiến Hóa ngày nay là một sự kiện vững chắc đã được xác nhận bởi khoa học, bởi rất nhiều bộ môn khoa học, và lý trí. Thuyết Tiến Hóa mà chúng ta hiểu ngày nay là sự tổng hợp của hàng núi những bằng chứng trong nhiều bộ môn khoa học như Sinh Học, Sinh Hóa Học, Cổ Sinh Vật Học, Nhân Chủng Học, Di Truyền Học, Khảo Cổ Học, Vật Lý Học, Vũ Trụ Học v.v.., có những bộ môn mà trong thời của Darwin chưa khám phá ra. Xin đừng nhầm lẫn, cho rằng Thuyết Tiến Hóa là của riêng Charles Darwin. Tư tưởng Tiến Hóa đã có trong nhân loại từ lâu. Nhưng không ai có thể phủ nhận là Charles Darwin đã lập thuyết Tiến Hóa một cách khoa học và từ đó, thuyết Tiến Hóa đã được kiểm chứng và phát triển như ngày nay.

Tuy nhiên, những thắc mắc muôn đời như: con người từ đâu mà ra, sau khi chết sẽ đi về đâu v..v.. vẫn là những mối thắc mắc của con người, ngay trong thời đại này. Và vì vậy, con người, trải qua nhiều thế hệ đã đưa ra những giải đáp khác nhau, tùy theo mỗi nền văn hóa. Những giải đáp thuộc lãnh vực siêu hình dần dần mất đi tính cách thuyết phục, vì không còn hợp với trình độ hiểu biết của con người ngày nay. Tri thức con người phát triển và tiến bộ, từ đó khoa học cũng phát triển theo và con người không còn tin vào những thuyết lý không thể kiểm chứng. Con người phải nhờ đến khoa học để tìm hiểu về vũ trụ, nhân sinh. Khoa học không phản đối niềm tin của bất cứ ai, mà chỉ tìm cách giải thích những thắc mắc trong thế giới vật lý của chúng ta, và khoa học sẵn sàng loại bỏ những giải thích nào không còn hợp thời, không còn đúng với những khám phá mới trong khoa học.

Cho tới ngày nay, tuyệt đại đa số trong giới khoa học đã chấp nhận thuyết Big Bang nói về nguồn gốc của vũ trụ, và thuyết Tiến Hóa nói về nguồn gốc của con người. Chấp nhận cho đến khi khám phá ra những bằng chứng mới chứng tỏ toàn bộ thuyết Big Bang và toàn bộ Thuyết Tiến Hóa không còn đúng. Các khoa học gia công nhận là trong thuyết Big Bang cũng như trong Thuyết Tiến Hóa còn có một số những chi tiết chưa giải đáp được. Nhưng xét về toàn bộ thì những thuyết này có tính cách thuyết phục nhất và các khoa học gia hi vọng trong tương lai, gần hay xa còn là một ẩn số, họ sẽ tìm ra những manh mối để giải thích dứt khoát chúng. Những khám phá mới trong nhiều bộ môn khoa học đã chứng minh được rằng: Không còn nghi ngờ gì nữa, loài người chúng ta đã tiến hóa từ các dạng sống thấp hơn, tất cả đều có chung một nguồn gốc xa, rất xa, và do đó liên hệ đến mọi sinh vật trên trái đất, và tất nhiên liên hệ tới cả vũ trụ này.

1. ĐẠI CƯƠNG THUYẾT TIẾN HÓA

Khi nói đến thuyết Tiến Hóa, người ta thường nghĩ đến Charles Darwin. Thật ra thì Darwin không phải là người đầu, mà cũng không phải là người cuối, làm cho thuyết Tiến Hóa trở thành một sự kiện khoa học như hầu hết các khoa học gia và giới trí thức đã công nhận ngày nay. Vì thế cho nên tôi nghĩ có lẽ tôi cũng nên nhắc qua đến những tác giả đã có những tư tưởng về tiến hóa trước Darwin, sau đó sẽ viết về thuyết Tiến Hóa trong việc giải thích nguồn gốc con người, và sau cùng nói qua về giá trị và chỗ đứng của thuyết Tiến Hóa ngày nay trong nhân loại, đặc biệt là trong những giới hiểu biết. Làm công việc này, tôi vấp phải một sự bất ngờ rất thú vị. Đó là, nhiều tư tưởng trong Phật Giáo đã đi trước và rất phù hợp với thuyết Tiến Hóa.

Thật ra, nhiều tư tưởng về tiến hóa đã có trước Darwin. Ngay từ trước thời đại thông thường ngày nay (B.C.E = Before Common Era), ở Đông phương chúng ta có thể thấy tư tưởng tiến hóa trong Áo Nghĩa Thư (800 B.C.E) của Ấn Độ, trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử và sau được phát triển bởi Trang Tử, và trong Kinh Dịch. Ở Tây phương, chúng ta có thể kể Thales, Anaximander (học trò của Thales), Xenophanes, Anaxagoras, Empedocles, Aristotle, Lucretius. Trong thời đại thông thường ngày nay (C.E = Common Era) có Plotinus (205-270 C.E.), Avicenna (980-1037), Leonardo da Vinci (1452-1519), Carolus Linnaeus (1707-1778), Georges Louis Leclearc, Comte de Buffon (1707-1788), Erasmus Darwin (1731-1802), Jean Baptiste de Lamark (1774-1829), đó là chỉ kể những tên chính. Nhưng đặc biệt nhất là nhiều tư tưởng trong Phật Giáo, nhất là thuyết Duyên Sinh hay Duyên Khởi, đã đi trước và rất phù hợp với thuyết Tiến Hóa,. Ngay cả những phương pháp tu tập trong Phật Giáo cũng là những quá trình tiến hóa. Nhưng hiển nhiên không có cách nào tôi có thể đi vào chi tiết của những chủ đề này trong một bài viết, và ngay trong cả một cuốn sách.

Sau Darwin thì những đóng góp trong mọi lãnh vực khoa học để kiện toàn thuyết Tiến Hóa thì quá nhiều, không kể sao cho hết. Vài người được biết đến nhiều nhất là Teilhard de Chardin, Linh mục dòng Tên; Ernst Mayr, Giáo sư danh dự đại học Harvard; Stephen Jay Gould, Giáo sư các môn Cổ Sinh Vật Học và Lịch Sử Khoa Học, đại học Harvard; Richard Leaky, nhà Cổ Sinh Vật Học, Giám đốc Chương trình nghiên cứu những sự sống hoang dại ở Kenya, và hàng trăm khoa học gia khác trong đủ mọi bộ môn. Thuyết Tiến Hóa đã được kiểm chứng qua hàng núi những bằng chứng trong hầu hết các bộ môn khoa học. Nhưng căn bản thuyết Tiến Hóa của Darwin về loài người là Tiến Hóa Sinh Học.

Như chúng ta đã biết, nhiều tư tưởng Tiến Hóa đã có từ trước thời Darwin nhung phải tới năm 1859 Darwin mới đưa ra nền tảng khoa học của thuyết Tiến Hóa được trình bày trong cuốn Về Nguồn Gốc Các Chủng Loại Do Chọn Lọc Tự Nhiên (On the Origin of Species By Means of Natural Selection) và sau đó cuốn Nguồn Gốc Con Người (The Descent of Man) năm 1871. Nền tảng khoa học của thuyết Tiến Hóa đã trở thành một cột trụ mà hầu hết các công cuộc khảo cứu trong nhiều bộ môn khoa học đã xoay quanh nó, và càng ngày càng làm cho nền tảng này thêm vững chắc, đúng như nhận định vô cùng chính xác của Linh mục dòng Tên Teilhard de Chardin trong cuốn “The Phenomenon of Man”: Thuyết Tiến Hóa là một điều kiện tổng quát mà mọi thuyết, mọi giả thuyết, mọi hệ thống [kể cả hệ thống Ki-tô Giáo] phải cúi đầu trước nó và phải phù hợp với nó nếu chúng muốn được nghĩ tới và coi là đúng. [Gần đây, có một “lý luận” mà Ki-tô Giáo đưa ra là thuyết Tiến Hóa nằm trong kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ki-tô Giáo đã nổi tiếng là chống không được thì nhận vơ làm của mình, cũng như nền Thần Học Ki-tô Giáo Theo Cung Cách Á Châu đã đang cố sức lấy những cái hay của các tôn giáo Đông Phương, xào xáo biến đổi và nhận vơ làm của mình].

Then chốt thuyết Tiến Hóa của nhà lập thuyết Charles Darwin là ở phần cuối tên cuốn sách: Về Nguồn Gốc Các Chủng Loại Do Chọn Lọc Tự Nhiên (On the Origin of Species By Means of Natural Selection): “Chọn Lọc Tự Nhiên”. Có lẽ tôi cần phải giải thích chút ít về ý nghĩa của “Chọn Lọc Tự Nhiên”. “Chọn Lọc Tự Nhiên” đặt căn bản trên bốn đề xuất:

Các sinh vật sinh sản con cái, chỉ có một số có thể sống còn và tiếp tục truyền giống.

Những sinh vật sống còn có khuynh hướng thích ứng hơn với những hoàn cảnh xung quanh.

Những đặc tính của cha mẹ có tính di truyền và thể hiện trong con cái.

Do dó, từ thế hệ này qua hàng trăm ngàn thế hệ khác, dòng giõi những sinh vật có khả năng thích ứng hơn sẽ tồn tại và truyền xuống các đời sau những sắc thái để thích ứng với hoàn cảnh xung quanh.

Khi các chủng loại truyền giống, bao giờ cũng có những đột biến di truyền (genetic mutation), tuy rất nhỏ, từ thế hệ này sang thế hệ khác, biến thiên trên kích thước, sức mạnh, hình dạng, sự thông minh, sự chịu đựng v.v... Sự tiến hóa bao giờ cũng đi theo chiều từ thấp tới cao, từ những dạng sống thấp của các sinh vật lên những dạng sống cao hơn dần, cho tới loài người. Do đó, các sinh vật tồn tại hoặc tuyệt chủng là do khả năng tự thích nghi với môi trường xung quanh, và mọi sinh vật, trong đó có con người, đều liên hệ với nhau vì cùng tiến hóa từ những mầm sống xa xưa. Thuyết này là kết luận khoa học của sự quan sát lâu dài của Darwin về sự biến thiên của một số sinh vật. Và trong 150 năm nay, kể từ khi cuốn sách trên ra đời, dựa vào ý kiến trong thuyết Tiến Hóa trên, nhiều tiến bộ rất ngoạn mục đã đạt được trong nhiều bộ môn khoa học, những bộ môn mà chính Darwin cũng không hề biết đến vì chúng chưa được khám phá ra, những tiến bộ đã làm cho thuyết Tiến Hóa chính xác về chi tiết hơn và vững vàng hơn. Ngày nay, các chuyên gia về sinh học và trong nhiều ngành khoa học khác đã chấp nhận Tiến Hóa là một sự kiện (fact), tuy vẫn còn tranh luận về một số chi tiết về vấn đề tiến hóa như thế nào (how), nghĩa là về cơ chế tiến hóa hay sự vận hành của tiến hóa (mechanism of evolution).

Tuy nhiên, đọc cuốn Nguồn Gốc Các Chủng Loại, chúng ta thấy Darwin chưa nói đến Nguồn Gốc Con Người, tác giả chỉ đưa ra một nhận định: “Rồi ánh sáng sẽ soi sáng nguồn gốc và lịch sử của con người” (Light will be thrown on the origin of man and his history). Nhưng đọc cuốn Nguồn Gốc Các Chủng Loại thì ai cũng có thể thấy rằng thuyết Tiến Hóa của Darwin áp dụng cho mọi chủng loại có thể dễ dàng áp dụng cho loài người. Và đây chính là điều mà từ đó Darwin đã gặp mọi sự chống đối từ phía những người tin vào con người là do một Thượng đế nào đó sáng tạo ra.

Trong cuốn Nguồn Gốc Con Người (The Descent of Man), Charles Darwin viết:

Kết luận chính đạt tới trong tác phẩm này, rằng con người có nguồn gốc từ một dạng sống nào đó thấp hơn, sẽ làm cho nhiều người rất khó chịu, tôi rất tiếc phải nghĩ như vậy. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa là chúng ta đã là hậu duệ của những kẻ mọi rợ.

Nếu chúng ta dùng hình ảnh của một cái cây, cây của sự sống (tree of life), còn được biết dưới tên “cây tiến hóa” (tree of evolution) để biểu thị tất cả sự sống trên thế gian có cùng một nguồn gốc, thì nhân loại chỉ là một nhánh nhỏ trên cái cây đó trong số vô vàn nhánh khác nhau trên cái cây đó. Điều này đã được Giáo sư Trịnh Xuân Thuận diễn giải đại cương trong cuốn “Sự Vô Tận Trong Lòng Bàn Tay” (L'Infini Dans La Paume de la Main”) như sau:

"Tiến hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm". ( Poussières d'étoiles, nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des savanes et les fleurs de lavande).

Mầm của sự sống đã có từ khi vũ trụ này hình thành khoảng 15 tỷ năm trước từ một Big Bang, và rồi Thái Dương Hệ thành hình cách đây khoảng 5 tỷ năm trong đó có trái đất mà chúng ta đang sống trên đó. Nhưng mãi gần đây, khoảng 5 triệu năm trước, cái cây của sự sống trên trái đất mới tách ra một nhánh đặc biệt, nhánh của loài người. Sự kiện khám phá bởi khoa học này đã kiểm chứng ý tưởng tổng quát về Tiến Hóa của Charles Darwin trong cuốn Nguồn Gốc Các Chủng Loại và nhất là cuốn Nguồn Gốc Con Người. Loài người có cùng chung một cơ chế vận hành căn bản về di truyền với tất cả các chủng loại khác, định hình bởi những lực tiến hóa. Đây là một sự kiện đã được kiểm chứng. Tất cả những lý thuyết khác về nguồn gốc con người, nhất là từ những tín điều tôn giáo mà còn một số người vẫn còn tin cho đến ngày nay, đều chỉ là huyền thoại.

Sự kiện trên bắt nguồn từ sự khám phá ra “bộ gen” (genome), còn được biết là “mật mã di truyền” (genetic code) trong cơ thể con người. Điểm kỳ diệu trong tư tưởng của Darwin là khi hoàn thành những tác phẩm để đời trên, Darwin không hề có một ý niệm gì về “gen” hay DNA (Deoxyribose Nucleic Acid), một hóa chất mà cho tới năm 1953 các khoa học gia mới biết là giữ vai trò quyết định trong cơ chế di truyền. Từ đó, các nhà Di Truyền Học đã so sánh DNA trong các dân số khác nhau trên thế giới, cộng với những kết quả đã tìm thấy của các nhà khảo cứu Cổ Sinh Vật Nhân Chủng Học (paleoanthropologists) về các di vật của người đã hóa thạch (fossils) cùng vài bộ môn khoa học khác như sinh học, sinh hóa học v.v.., ngày nay các khoa học gia đã có thể biết được khá chính xác về nguồn gốc con người, nguồn gốc các sắc dân trên thế giới.

Những hiểu biết ngày nay về “bộ gen” (genome) đã cho phép chúng ta giải thích được nguồn gốc của con người, lịch sử loài người và bản chất con người. Những khám phá khoa học này lẽ dĩ nhiên không phải là được tất cả mọi người chấp nhận. Edward O. Wilson đã đưa ra một nhận định rất ý nhị: “Có vẻ như là đầu óc con người (Ki Tô) đã tiến hóa để tin vào các thần chứ không tiến hóa để tin vào sinh học” (It seems that the human (Christian) mind evolved to believe in gods. It did not evolve to believe in biology). Sinh học, cũng như mọi bộ môn khoa học khác, không thích hợp để cho những tín đồ Thần giáo tin.

Có lẽ chúng ta cũng nên biết chút ít về “bộ gen” trong cơ thể con người. “Gen” là những đơn vị di truyền trong mọi sinh vật. “Bộ gen” (genome) của con người là một tập hợp đầy đủ những “gen” của con người, được gói ghém thành 23 cặp riêng biệt sắc tố (chromosome). Trong số 23 cặp này, 22 cặp được đánh số theo kích thước, số 1 lớn nhất, số 22 nhỏ nhất. Cặp thứ 23 còn được gọi là “sắc tố định giới tính” (sex chromosome): trong nữ giới gồm có hai sắc tố X lớn, kích thước trong khoảng giữa số 7 và 8, và trong nam giới gồm một sắc tố X và một sắc tố nhỏ, Y. Ngày nay, các khoa học gia đã biết rõ, trong quá trình truyền giống, nếu sắc tố X của người cha hợp với sắc tố X của người mẹ thì đứa con sinh ra sẽ là con gái (X,X). Nếu sắc tố Y của người cha hợp với sắc tố X của người mẹ thì đứa con sinh ra sẽ là con trai (X,Y). Khám phá này đương nhiên đã bác bỏ huyền thoại Giê-su sinh ra từ một trinh nữ, bởi phép của Đức Chúa Thánh Thần (ngôi ba thiên chúa) alias Thánh Linh (Holy Spirit) alias Thánh Ma (Holy Ghost) [Theo Kinh Tin Kính của Ki Tô Giáo]. Bởi vì, bằng phép lạ nào đi chăng nữa, nếu không có tinh khí của đàn ông trong đó có sắc tố Y, thì Giê-su chỉ có thể là con gái. Đây là một sự kiện khoa học, sự kiện này chỉ bác bỏ một huyền thoại cổ xưa chứ không bác bỏ niềm tin vào huyền thoại này của bất cứ ai. Khoa học chỉ có mục đích gần sát với Phật Giáo: “Như Thực Tri Kiến”, và khoa học không bắt buộc ai phải tin vào những khám phá của khoa học.

Trong cơ thể con người có khoảng một triệu triệu (trillion) tế bào, hầu hết kích thước nhỏ hơn 1/10 của một milimét (1/10 mm). Trong mỗi tế bào có một nhân. Trong nhân có hai “bộ gen” (genome) đầy đủ. Một bộ do người cha, và một bộ do người mẹ truyền xuống. Mỗi “bộ gen” gồm có khoảng 60000 – 80000 “gen” xây dựng trên cùng 23 sắc tố. Trên thực tế, thường có sự khác nhau vi tế giữa những “gen” của cha và của mẹ, nguyên nhân của, thí dụ như, màu mắt khác nhau. Mỗi sắc tố là một cặp phân tử dài DNA.

Trong nhiều thập niên, con người đã dựa nhiều vào những di vật hóa thạch để lại bởi tổ tiên loài người đã được tìm thấy để tìm hiểu nguồn gốc loài người. Nhưng những di vật này không đầy đủ và có những quãng cách trong quá trình Tiến Hóa nên một số nhà bảo thủ Ki Tô Giáo đã dựa vào sự thiếu sót này để tấn công, bác bỏ thuyết Tiến Hóa, và lấp vào những khoảng cách đó bằng sự sáng tạo rất ngu đần của Thượng đế của họ. Tiến thêm một bước trong công việc đi tìm về nguồn gốc của con người, khoa học gia John Joe McFadden trong cuốn “Quantum Evolution”, đề nghị, trang 72: “Để đi sâu vào lịch sử của sự sống, chúng ta cần đào sâu vào DNA thay vì vào các hòn đá (những sinh vật hóa thạch)” [To go deeper into the history of life we need to dig into DNA, rather than rocks]. DNA (DeoxyriboNucleic Acid) là hóa chất trong nhân của mỗi tế bào trong cơ thể của chúng ta và có tác dụng truyền đi những huấn thị truyền giống để tạo thành sinh vật từ buổi sơ khai đến ngày nay. Và quả vậy, trong vòng 20 năm gần đây, các khoa học gia đã tìm thấy những dấu tích cổ xưa của loài người trong DNA của những người hiện sống ngày nay.

Mật mã di truyền của loài người, hay “bộ gen” (genome), thì hoàn toàn y như nhau tới 99.9% trên khắp thế giới [The human genetic code, or genome, is 99.9% identical throughout the world].

Sự sai biệt còn lại, vào khoảng 0.1% , trong DNA là nguồn gốc của sự khác biệt cá nhân – thí dụ màu mắt hay dễ bị nhiễm bệnh, và có những DNA vô dụng, không có một tác dụng gì. Bởi vậy, Phillip Kitcher, Giáo sư Đại học Columbia, đã viết: “Rất nhiều DNA trong những tế bào không cần đến – chỉ là đồ vô dụng. Nếu đó là sự “thiết kế thông minh” [của Thượng đế] thì Thượng đế cần phải trở lại trường học” (A lot of the DNA in there is not needed – it’s junk. If it’s “intelligently designed”, then God needs to go back to school).

Trong quá trình tiến hóa, một sự đột biến vô hại (a harmless mutation) có thể xảy ra trong một trong những DNA vô dụng này, rồi truyền xuống cho tất cả các hậu duệ. Nhiều thế hệ sau, thấy cùng một sự đột biến, gọi là dấu tích (marker), trong DNA của hai người thì chúng ta biết rằng hai người đó có cùng một tổ tiên. So sánh những dấu tích này trong rất nhiều dân tộc khác nhau, các khoa học gia có thể tìm ra dấu vết của những liên hệ tổ tiên. Trong hầu hết “bộ gen”, những sự thay đổi vi tế này thường không rõ rệt khi “bộ gen” của cha hợp với “bộ gen” của mẹ để sinh con. Nhưng có hai nơi trong các “bộ gen” thường xuyên duy trì những sự thay đổi vi tế này. Một gọi là “mitochondrial DNA” (mtDNA) được truyền xuống đứa con nguyên vẹn từ người mẹ, và hầu hết các sắc tố Y, sắc tố quyết định sinh con trai, được người cha truyền xuống nguyên vẹn cho đứa con trai. So sánh mtDNA và sắc tố Y của người dân trong nhiều dân tộc khác nhau, các nhà di truyền học đã có thể biết được đại khái khi nào thì loài người bắt đầu tách ra thành một nhánh riêng trên cái cây của sự sống hay cây tiến hóa.

Tìm hiểu về nguồn gốc con người, không chỉ là các nhà di truyền học, mà các khoa học gia đã phối hợp kết quả nghiên cứu trong ít nhất là 7 ngành khoa học có liên hệ với nhau và hỗ trợ nhau: Cổ Sinh Vật và Nhân Chủng Học (Paleoanthropology), Khảo Cổ (Archaeology), Di Truyền Dân Số Học (Population genetics), Lịch Sử Ngôn Ngữ Học (Historical linguistics), ngành khảo cứu về các Động Vật Linh Trưởng (Primatology), Nhân Chủng Xã Hội (Social Anthropology), và Tiến Hóa Tâm Lý (Evolutionary Psychology). Từ những kết quả nghiên cứu này, điều rõ ràng là, cũng như mọi vấn đề khác trong sinh học, quá khứ và hiện tại của giống người chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng của Tiến Hóa. [Like everything else in biology, the human past and present are incomprehensible except in the light of evolution. Wade, p. 6]

Sự kiện là, ngày nay khoa học đã giải thích được những sắc thái của các sinh vật, không những chỉ dựa trên ý tưởng căn bản về sự chọn lọc tự nhiên (natural selection) của Darwin, mà còn dựa trên những quá trình sinh học mà chính Darwin cũng không biết tới vì chưa được khám phá ra và phát triển, thí dụ như sự chuyển giao các gen (gene transfer), ngành khảo cứu về các sinh vật sống chung với nhau (symbiosis), sự xếp đặt lại các nhiễm sắc tố (chromosomal rearrangements), và hoạt động của các gen điều hòa (action of regularor genes) v.v.. Kết quả là, sự phân tích hiện đại về các gen đã cung cấp những bằng chứng minh xác lý thuyết của Darwin là mọi chủng loại sinh vật đều được tiến hóa từ cùng những chủng loại tổ tiên (ancestral species).

Những kết quả nghiên cứu về “bộ gen “ của các loài khỉ như khỉ không đuôi có dạng giống người (ape), khỉ đột (gorilla), đười ươi (orangutan), vượn (chimpanzee), và “bộ gen” của người cho thấy giữa người và vượn, 99% của “bộ gen” y hệt nhau (identical). Và từ những kết quả này, đi ngược thời gian, các khoa học gia đã biết được là khoảng 5 triệu năm trước, nhánh loài người đã tách ra khỏi nhánh những con khỉ không đuôi trên cái cây tiến hóa. Sau khi tách ra thành một nhánh riêng, loài người nguyên thủy tiến hóa dần dần thành động vật đi hai chân và phát triển thành da đen [bắt đầu ở Phi Châu], mất đi lông trên người, và bộ óc lớn dần cho đến kích thước ngày nay. Rồi cách đây khoảng 50000 năm, ngôn ngữ bắt đầu phát triển, giúp cho loài người sống thành những bộ lạc, cộng đồng v.v.., và bắt đầu di dân ra ngoài Phi Châu. Đó là đại khái về nguồn gốc con người.

Ngoài ra, những công cuộc khảo cứu mới nhất về những con bọ (fruit flies), chương trình khảo cứu “evo devo” [evolutionary development biology] trong sinh học về quá trình phát triển tạo ra cơ thể sinh vật và thay đổi chúng qua thời gian [đại học Wisconsin-Madison] đã chứng tỏ rõ ràng là loài người có cùng họ hàng không chỉ với những loại khỉ mà còn với những con bọ, con sâu trong quá khứ xa nữa (Analysis of the genes that build our bodies show our clear skinship not just to the apes but all the way back to bugs, worms and beyond); rồi chương trình điện toán Avida về các sinh vật tượng trưng bằng số (digital organisms) ở đại học Michigan, Avida không phải là sự tái tạo tiến hóa trên máy điện toán mà chính là hiện tượng tiến hóa (Avida is not a simulation of evolution; it is an instance of it); và nhiều khám phá mới trong mọi ngành khoa học đã càng ngày càng cho thấy Tiến Hóa không còn là một lý thuyết mà là một sự kiện. Kết luận: Không còn nghi ngờ gì nữa, thuyết Tiến Hóa ngày nay đã không còn là một thuyết, mà đã trở thành một sự kiện.

2. VÀI NHẬN ĐỊNH NGÀY NAY VỀ THUYẾT TIẾN HÓA

Thuyết Tiến Hóa đã trở thành một sự kiện, tuy nhiên, một số ốc đảo cuồng tín trong Ki Tô Giáo vẫn còn tiếp tục chống đối thuyết Tiến Hóa, định thay thế thuyết Tiến Hóa bằng những sản phẩm Thần Học hạ đẳng bắt nguồn từ niềm tin vào sự “sáng tạo” của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo như “Khoa học Sáng tạo” (Creation Science) hay “Thiết Kế Thông Minh” (Intelligent design), nhưng tất cả đều đã thất bại. Ki Tô Giáo ngày nay đang cố gắng đưa ra những ngụy thuyết để hòa hợp với thuyết Tiến Hóa. Một trong những ngụy thuyết này là cho rằng thuyết Tiến Hóa nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa, cố tình quên rằng Thánh Kinh đã viết rõ, sau khi sáng tạo ra vạn vật Thiên Chúa đã tự khen là những sản phẩm sáng tạo của mình đều rất tốt đẹp (very good) cho nên không cần phải thay đổi gì nữa, vì là sản phẩm sáng tạo của một bậc toàn trí toàn năng.. Một trong những ngụy thuyết này là của Giáo hoàng John Paul II. Chúng ta biết rằng Giáo hoàng John Paul II đã chính thức công nhận trước thế giới thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ và thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc con người. Nhưng để vớt vát mặt mũi cho Thiên Chúa của Ngài, ngày 22 tháng 10, 1996, trong một thông điệp cho Hàn Lâm Viện Khoa Học của Giáo hoàng (Pontifical Academy of Sciences), Ngài lý luận: “Giữa những con khỉ tổ tiên và con người hiện đại, có một khoảng bất liên tục về bản thể, một khoảng trong đó Thiên Chúa đã chích vào giòng giống các động vật một linh hồn của người” (Matt Ridley, p. 24: Between ancestral apes and modern human beings, there was an “ontological discontinuity” – a point at which God injected a human soul into an animal lineage). Ngài hi vọng như vậy có thể hòa hợp thuyết sáng tạo với thuyết Tiến Hóa. Nhưng các khoa học gia lại cho rằng cái bước nhảy vọt bản thể ấy là lúc mà có thể là 2 sắc tố của loài khỉ hợp nhất với nhau và những “gen” cho linh hồn nằm ngay khoảng giữa sắc tố số 2 (Matt Ridley, Ibid.,: Perhaps the ontological leap came at the moment when two ape chromosomes were fused, and the genes for the soul lie near the middle of Chromosome .

Trước hàng núi những bằng chứng khoa học về thuyết Tiến Hóa, một số nhân vật có uy tín trong lãnh vực tôn giáo như Giáo Hoàng, Giám Mục, Linh Mục, Mục sư, học giả v.v.. cũng phải cúi đầu trước thuyết Tiến Hóa, khoan kể đến giới khoa học gia đã chấp nhận thuyết Tiến Hóa từ trên trăm năm nay rồi. Sau đây chúng ta hãy đưa ra nhận định của một số nhân vật tôn giáo cũng như khoa học về Thuyết Tiến Hóa nói chung, trước những hiểu biết của chúng ta về Thuyết Tiến Hóa, và trước những bằng chứng trong khoa học:

1. Giáo Hoàng John Paul II phát biểu năm 1996:

Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần... Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.

2. Linh mục dòng Tên Teilhard de Chardin trong The Phenomenon of Man:

Tiến Hóa là một thuyết, một hệ thống, hay một giả thuyết? Nó còn nhiều hơn nữa: nó là một điều kiện tổng quát mà mọi thuyết, mọi giả thuyết, mọi hệ thống phải cúi đầu trước nó và phải phù hợp với nó nếu chúng muốn được nghĩ tới và coi là đúng.. Tiến Hóa là một ánh sáng soi sáng mọi sự kiện, một đường cong mà mọi đường thẳng phải theo nó...

3. Mục sư Ernie Bringas trong cuốn: Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority:

Thuyết Tiến Hóa là một trong những cấu trúc tuyệt vời và thành công nhất của tư tưởng con người. Mọi ngành khoa học đều tiếp tục ủng hộ và kiểm chứng quan niệm về sự tiến hóa. Thuyết Tiến Hóa, giống như Thuyết Tương Đối, không còn là một "thuyết" theo nghĩa thông thường nữa, mà là một nguyên lý khoa học đặt căn bản trên rất nhiều bằng chứng không còn phải bàn cãi nữa.

4. Giám mục John Shelby Spong trong cuốn Why Christianity Must Change or Die:

Thuyết Tiến Hóa làm cho Adam và Eve trở nên may nhất là những nhân vật theo truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ gì cho tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn còn những tiếng nói cất lên từ những miền hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này. Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công. Nhân loại rõ ràng là tiến hóa theo một quá trình trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm gì có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đã bị một đòn khai tử, và cái câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đã bắt đầu chao đảo.

5. Ernst Mayr, Giáo sư danh dự đại học Harvard, trong cuốn What Evolution Is?:

Tiến Hóa không chỉ đơn thuần là một ý tưởng, một lý thuyết, hay một quan niệm, mà là tên của một quá trình trong thiên nhiên. Sự xảy ra của quá trình này có thể chứng minh bằng tài liệu của hàng núi bằng chứng mà không ai có thể phủ bác được. Ngày nay, xét đến số lượng to lớn những bằng chứng đã được khám phá ra trong 140 năm nay để chứng minh sự hiện hữu của tiến hóa, thật là lạc dẫn khi ta coi Tiến Hóa như là một thuyết. Tiến Hóa không còn là một thuyết, nó đơn giản là một sự kiện.

6. James Birx trong Interpreting Evolution:

Tiến Hóa là một sự kiện vững chắc đã được cả khoa học và lý trí xác nhận; nhân loại chúng ta thì nối kết với sự sống, lịch sử của trái đất, thiên hà này (giải ngân hà mà thái dương hệ, trong đó có trái đất, nằm trong đó), và cả vũ trụ.

Có một nền thần học hiện đại nào mà chấp nhận cả hai quan điểm về vũ trụ và thuyết Tiến Hóa trong một cách nhìn khoáng đạt và không có huyền thoại về thế giới? Cuối cùng thì tín lý mù quáng của đức tin tôn giáo với những câu chuyện đã lỗi thời và những giá trị cận thị thực sự không còn mấy giá trị nữa; đó chỉ là sự mơ ước từ đó đặt niềm tin vào sự bất diệt của con người và vào một vũ trụ tâm linh.

7. Stephen Jay Gould, trong phần Dẫn Nhập của cuốn “Tiến Hóa: Sự Chiến thắng Của Một Ý Tưởng” (Evolution: The Triumph of an Idea), tác giả là Carl Zimmer, một cuốn sách đi kèm với chương trình dài 8 tiếng đồng hồ của đài truyền hình PBS về thuyết Tiến Hóa (a companion to the PBS 8-hour television series on Evolution):

Khoa học, như các chuyên gia chúng tôi thường vạch rõ, không thể thiết lập sự thật tuyệt đối; do đó, những kết luận của chúng tôi luôn luôn là có tính cách không dứt khoát. Nhưng sự hoài nghi lành mạnh này không cần phải đưa nó đến độ hư vô, và chúng tôi có thể chắc chắn nói rằng, một số sự kiện đã được kiểm chứng với đủ mức tin cậy cho nên chúng tôi có thể coi những sự kiện này là đúng sự thật trong bất cứ nền văn hóa địa phương nào trên thế giới.(tính phổ quát (universality) của các sự kiện khoa học. TCN)

Có lẽ tôi không thể tuyệt đối chắc chắn là quả đất thì tròn thay vì phẳng, nhưng dạng hình cầu của hành tinh của chúng ta đã được kiểm chứng đủ để cho tôi không cho phép “cái xã hội của những người tin trái đất phẳng” được hưởng đồng đều thời gian để dạy thuyết của họ, hay hưởng bất cứ khoảng thời gian nào, trong lớp dạy về khoa học của tôi.

Tiến Hóa, quan niệm căn bản của mọi khoa học về sinh học, đã được kiểm chứng rất kỹ, và do đó có thể coi như là đúng với sự thật.

3. TÓM LƯỢC TỔNG KẾT VỀ CON NGƯỜI VÀ VŨ TRỤ

Ngày nay, thuyết Big Bang về Nguồn Gốc Vũ Trụ và Thuyết Tiến Hóa về Nguồn Gốc Con Người hầu như đã được toàn thể thế giới chấp nhận, nhất là trong giới khoa học và giới trí thức hiểu biết. Sau đây tôi xin trình bày một bảng tóm lược tổng kết về những hiểu biết mới nhất về vũ trụ và con người. Tất cả những con số chỉ là ước tính, không phải là những con số chính xác.

13.7 Tỷ Năm Trước:

Vài giây sau Big Bang, dương tử (proton) và trung hòa tử (neutron) cùng hiện hữu trong nhân của các nguyên tử đơn giản như hi-dro-gen. 30000 năm sau, các điện tử (electrons) bắt đầu quay xung quanh nhân, tập hợp với proton và neutron thành những nguyên tử (atoms).

13.5 Tỷ Năm Trước:

Những đám mây khí trở thành vô cùng đặc, tạo thành các sao, họp với nhau thành các thiên hà.

5 Tỷ Năm Trước:

Mặt Trời hình thành trong Giải Ngân Hà (Milky Way), tạo ra trái đất và các hành tinh, họp thành Thái Dương Hệ.

4 Tỷ Năm trước:

Các nguyên tử hi-dro-gen và o-xy-gen nối kết với nhau thành phân tử nước. Nước giúp cho sự tạo ra những phân tử khác.
 

Đa dạng sinh học trong các phương trình

Written By kinhtehoc on Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012 | 00:43

Đa dạng sinh học trong các phương trình
Mathieu Grousson

Đa dạng sinh học là đối tượng nghiên cứu
ngày càng quan trọng của các toán học

Đúng vào thời khắc đa dạng sinh học đang bị xói mòn nghiêm trọng thì các nhà sinh học đã có thêm một đồng minh đầy sức mạnh: Toán học. Sử dụng chủ yếu lý thuyết về xác suất và những thuật toán ngẫu nhiên, toán học đã đi sâu vào việc phân tích các mô hình phổ biến nhất trong các tiến trình nền tảng của sự tiến hóa, từ đó giúp định lượng được sự giàu có về mặt sinh học của hành tinh chúng ta. Sự phát triển của toán học rất có thể sẽ giúp đưa ra các giải pháp để bảo vệ Trái đất.


Hãy bắt đầu bằng chính việc giải thích khái niệm của đa dạng sinh học. Bởi theo định tính, chúng ta cứ nghĩ là khi số loài trên Trái đất càng nhiều thì đa dạng sinh học càng có vai trò quan trọng. Nhưng Vincent Bansaye (Trung tâm toán ứng dụng thuộc Đại học Bách khoa Pháp-CMAP) thì lại đưa ra câu hỏi: “Sự đóng góp vào đa dạng sinh học sẽ như thế nào khi ta tính tới một bên là hai loài kiến, bên kia là một loài kiến và một loài chuột nhím?”.

Câu hỏi này thoạt tiên có vẻ ngớ ngẩn, nhưng trên thực tế lại là một vấn đề rất đáng xem xét. Như thể là xem liệu đa dạng sinh học có gặp trục trặc gì không khi đột nhiên có sự biến mất của hai loài động vật có vú chính (mang tính biểu tượng cao), hay khi chỉ có một loài bọ cánh cứng xa lạ biến mất, nhưng loài bọ này lại có một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái.

Hàng ngàn những câu hỏi tương tự có thể được đưa ra chỉ có thể giải quyết thông qua những bài toán phức tạp, bằng những công cụ chính xác của ngành khoa học vốn từ lâu có vai trò thống trị này.

Sylvie Méléard, một nhà toán học cũng thuộc CMAP vừa phát triển một mô hình toán có khả năng miêu tả các tiến trình dẫn tới sự xuất hiện của các loài mới. “Để làm được điều này, chúng tôi đã đưa vào mô hình nhiều hiện tượng đa dạng khác nhau, từ các vấn đề về đột biến gene xuất hiện trong quá trình sinh sản của một cá thể tới ảnh hưởng của môi trường đối với dân số”, Sylvie nói. Chính nhờ các định lý này mà chúng tôi có thể đi tới việc giải thích các điều kiện tạo ra các giai đoạn tiến hóa hoặc sự xuất hiện của các loài mới.

Để đi sâu và cụ thể hơn nữa, Sylvia đã yêu cầu một trong những nghiên cứu sinh của mình tập trung vào giải quyết câu hỏi: Bắt đầu từ ngưỡng nào, một loài sẽ buộc phải biến mất? “Các mô hình cổ điển đã không thể trả lời được câu hỏi này bởi chúng không phù hợp đối với các loài có dân số ít. Nhưng nếu tính đến sự biến thiên về gene của các cá thể trong một nhóm nhỏ, chúng tôi đang cố tìm hiểu xem tại sao sự xuất hiện của các đột biến gene không có tác động mạnh trong một nhóm lớn nhưng ngược lại có thể đẩy nhanh sự biến mất của một loài có dân số ít hơn”.


Nhiều mô hình toán học đã giúp giải quyết các vấn đề phức tạp trong sinh học như đột biến gene, tác động tương hỗ của các protein

Một trường hợp khác là việc áp dụng các công cụ toán học giúp biết được dân số cụ thể của một loài từ các thông tin không hoàn chỉnh. Vincent Bansaye tóm tắt câu chuyện này như sau: “Khi đi dạo ở trong rừng, tôi nhìn thấy một con sóc. Khoảng 20 phút sau, tôi lại nhìn thấy một con sóc khác, cách đó chừng một cây số. Những thông tin này liệu có giúp tôi đưa ra các dữ liệu về dân số của sóc trong khu rừng hay không?”, câu hỏi được đặt ra.
Toán học có thể giúp việc điều tra dân số của các loài bình thường rất khó quan sát được thực hiện một cách dễ dàng hơn.

Những nghiên cứu của nhà khoa học này cùng một đồng nghiệp khác, Amaury Lambert thuộc Khoa sinh học, ĐH Sư phạm Paris về ảnh hưởng của các mẫu cư dân tới sự tiến hóa của dân số các loài có thể cho phép đưa ra các biện pháp bảo tồn trong bối cảnh địa bàn sinh sống của các loài hoang dã ngày một thu hẹp lại.

Denis Couvert, Giám đốc Cơ quan bảo tồn, phục hồi và theo dõi dân số các loài mới đây cũng đã nói rõ điều này trong một bài báo của tờ Échos, “Người ta không thể thu gọn đa dạng sinh học bằng các phương trình đơn giản. Tuy nhiên, các mô hình toán học cho phép tạo ra một cách tiếp cận chính xác và khách quan hơn đối với các hệ sinh thái”. Và Sylvie Méléard đưa ra kết luận: “Có thể hơi quá khi khẳng định rằng toán học sẽ tạo ra một cuộc cách mạng trong nghiên cứu đa dạng sinh học. Nhưng chắc chắn, các ngành toán sẽ đưa ra góc nhìn mới cho các nghiên cứu trong lĩnh vực này”.

Toán học trong nghiên cứu về di truyền
Toán học có một vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu các căn bệnh cơ thần kinh liên quan tới di truyền. Tại Paris, từ năm 2006, Bộ phận Tổ hợp gene các vi khuẩn đã tham gia Chương trình nghiên cứu quốc tế chống lại các chứng loạn dưỡng trong cơ. Alessandra Carbone đã tiến hành một điều tra về các bệnh liên quan tới protein. Nhà khoa học nữ vừa được giải thưởng Irène-Joliot-Curie này giải thích: “Hiện nay, người ta đã biết được một số loại gene có ảnh hưởng tới căn bệnh nhưng vai trò cụ thể của các protein được mã hóa trong gene đã gây ra các rối loạn này là như thế nào thì chưa được rõ lắm”. Để làm sáng tỏ điều này, bà đã tiến hành một dự án nghiên cứu khổng lồ: sử dụng các mô hình toán học trong máy tính để cụ thể hóa các tác động tương hỗ giữa 2.000 protein hiện diện trong con người. Hay là việc trả lời câu hỏi: hai protein được lấy ngẫu nhiên có vị trí sắp xếp như thế nào trong khoảng 100.000 tới 500.000 cách sắp xếp khác nhau. Dù có sử dụng hệ thống hàng trăm nghìn máy tính cực mạnh của mạng lưới cộng đồng thế giới (World Community Grid), để kiểm tra được các mối liên hệ này vẫn đòi hỏi thời gian cỡ hàng thế kỷ. Như vậy, không có cách nào khác là phải “đoán” trước đâu là những điểm tích cực (những điểm có một chức năng sinh học) trên mỗi protein, từ đó giới hạn được số lượng protein cần phải tiến hành thử nghiệm. Làm thế nào để đạt được điều đó? Các nhà sinh học biết rằng nếu các protein khác nhau ở mỗi loài thì chúng đều chứa những điểm hoạt động tích cực tương tự nhau, tương ứng với các cặn bã của ADN chung cho tất cả các loài. Về mặt lý thuyết mà nói thì hoàn toàn có khả năng xác định, với một mức xác suất chấp nhận được, các mẫu mã hóa đối với một mẩu protein “thú vị” nào đó. “Nhờ các công việc chuẩn bị này, chúng ta có khả năng kết thúc các tính toán trong giai đoạn từ nay tới tháng 5/2011”, Alessandra Carbone tiên đoán.

Tiến bộ mới của khoa học thần kinh

Tiến bộ mới của khoa học thần kinh
Jean-Pierre Changeux

Sự thống nhất nhiều ngành khoa học về
thần kinh giúp các nhà nghiên cứu hiểu
rõ hơn về não bộ của con người

Nguyệt san tiếng Pháp La Recherche trong số kỉ niệm 40 năm ngày thành lập (5.1970-5.2010) có nhiều bài ôn lại những tiến bộ khoa học đáng chú ý trong 4 thập kỉ vừa qua. Jean-Pierre Changeux, Giáo sư danh dự ở Collège de France, đã trao đổi với La Recherche về các bước tiến quan trọng trong nghiên cứu bộ não con người ở thập niên 2000-2010.

Tiến bộ chính của các khoa học thần kinh trong thập kỷ 2000-2010 là gì?
Nét chính của các khoa học về bộ não trong thập kỷ này là chúng đã phát triển đồng thời trên nhiều mặt, từ sinh học phân tử cho tới khoa học xã hội, qua các nghiên cứu về thần kinh và về quá trình nhận thức, với kỹ thuật ảnh não. Song thay đổi thực sự có tính cách mạng là ở chỗ các chuyên ngành này đã liên kết với nhau để hình thành một khoa học thống nhất về trí óc, Khoa học thần kinh.

Trước kia, mỗi ngành tham gia khảo sát bộ óc một cách riêng rẽ (giải phẫu, sinh lý, hoá sinh, dược học, tâm lý học v.v.). Đầu thế kỉ 21, liên kết này mới bắt đầu được thực hiện, trước hết là do sự phát triển của sinh học phân tử: theo tôi, chuyên ngành này có vai trò chất men vì một bản chất của sinh học phân tử chính là nỗ lực thiết lập các mối tương quan nhân quả giữa các cấp độ phân tử và nhận thức.

Ông có thể cho một ví dụ về vai trò xúc tác của sinh học phân tử?


Hãy xem xét quan niệm của chúng ta về các bệnh tâm thần. Cho tới gần đây, các chứng bệnh như tâm thần phân lập, tự kỷ hay trầm uất chủ yếu vẫn được mô tả bằng các triệu chứng gây ra bởi các yếu tố tâm lý và môi trường. Những dược chất hữu hiệu thực ra là tác động vào mục tiêu nào, người ta không biết rõ. Và người ta đổ lỗi cho tác nhân gây bệnh chính là gia đình và hoàn cảnh xung quanh những người bệnh.
Năm 2001, Daniel Weiberger và nhóm nghiên cứu của ông ở NIH (National Institutes of Health –Viện quốc gia Y học Hoa Kỳ, gồm 20 viện và 7 trung tâm nghiên cứu liên quan đến sức khoẻ con người) đã khám phá ra các gien có thiên hướng dẫn tới bệnh tâm thần phân lập. Năm 2003, một ê-kíp quốc tế trong đó có Thomas Bourgeron ở Viện Pasteur tham gia, đã xác định được những gien đầu tiên liên quan đến chứng tự kỷ. Những gien này có vai trò quyết định trong sự phát triển của các khớp thần kinh, là những nối kết giữa các nơ-rôn (tế bào thần kinh).

Cùng năm ấy, một nhóm nghiên cứu ở Phần Lan đã xác định một gien có trách nhiệm gây ra chứng khó đọc.

Tiếp đó, nhiều gien tương tự được khám phá. Và bây giờ, nhiều bệnh tâm thần được coi là có nguồn gốc di truyền, tức là có một thay đổi rất lớn về quan niệm. Không những gia đình và người bệnh trút bỏ được mặc cảm tội lỗi, mà thay đổi đó còn mở ra những cánh cửa mới trong việc tìm hiểu cơ chế của các bệnh ấy và tìm ra những phương pháp điều trị mới.


Những khám phá này sẽ dẫn tới điều gì?
Một trong những khám phá quan trọng mới đây là sự sinh sôi thường xuyên các tế bào mới thần kinh trong một bộ óc người lớn. Trước đây, người ta tưởng rằng chúng ta sinh ra với một số nơ-rôn nhất định.

Nhưng vào năm 2003, Pierre-Marie Lledo và ê-kíp của ông ở Viện Pasteur đã hiểu được sự phát sinh các nơ-rôn ở cấp tế bào. Họ đã chứng minh được rằng vài loại tế bào thần kinh đệm được biến đổi thành nơ-rôn và những nơ-rôn này phát triển rồi kết nối được không những với những nơ-rôn gần chúng mà với cả một hệ thống chức năng các thần kinh khứu giác: chúng được hấp dẫn tới vùng thành kinh này bởi một phân tử do hành não khứu giác tạo ra.

Năm 2008, cũng ê-kíp này đã chỉ rõ là sự phát sinh nơ-rôn này được tăng lên sau một tai nạn làm thương tổn đến khứu giác. Như vậy là một quan hệ nhân quả giữa các cấp độ phân tử và nhận thức (ở đây là nhận thức về mùi vị) đã được chứng minh. Đó là một bước tiến lớn mở ra viễn tượng phục hồi chức năng: một ngày nào đó, có thể người ta sẽ phục hồi được những nhiều vùng bị thương tổn trong bộ não người với những tế bào gốc, chẳng hạn để điều trị bệnh Alzheimer.

Còn đóng góp của kỹ thuật hình ảnh não?


Về phương diện kỹ thuật, có một sáng tạo đặc biệt đáng chú ý, đó là kỹ thuật chụp ảnh bằng ten-xơ phân phối (1). Kỹ thuật này bắt đầu được sử dụng từ những năm 2000, dù rằng nó đã được Denis Le Bihan, phát triển từ nhiều năm trước.

Le Bihan nay là giám đốc của Phòng thí nghiệm NeuroSpin, thuộc Trung tâm Nguyên tử năng (CEA), Pháp. Kỹ thuật có tính đột phá này dựa trên sự phân phối các phân tử nước trong các mô não, cho phép nhìn trong không gian 3 chiều những kết nối của các vùng não. Nó bắt đầu được sử dụng để nhìn thấy được những hệ thống bị biến đổi sau một tai biến mạch não. Kết hợp với kỹ thuật ảnh cộng hưởng từ chức năng, nó cho phép thấy rằng hai vùng não cùng tham gia vào một nhiệm vụ thị giác luôn luôn có rất nhiều kết nối với nhau, dù rằng cái nhìn đó là tình cờ hay có chủ ý.


Kỹ thuật hình ảnh chức năng đó có phải cũng cho phép khảo sát ý thức?

Đúng vậy, hình ảnh chức năng mở ra khả năng nghiên cứu quá trình ý thức một cách khoa học. Cùng với Stanislas Dehaenne, Giáo sư của Collège de France, (2) chúng tôi đã đề xuất vào năm 1998 một lý thuyết về ý thức mà hình ảnh chức năng cho phép thử nghiệm. Lý thuyết này dựa trên ý tưởng là trong võ não, những nơ-rôn hình tháp với axon dài hợp thành một hệ thống nối kết với nhiều vùng não khác nhau để tạo ra một không gian lao động ý thức. Và sự đồng bộ hoá giữa các nơ-rôn này cho phép ý thức xuất hiện.
Lý thuyết này dẫn tới những thí nghiệm nhằm quan sát các khác biệt trong não giữa những ứng xử ý thức và vô thức. Năm 2001, Stanislas Dehaenne và các cộng sự của ông đã dùng hình ảnh chức năng để chỉ ra rằng chúng ta có thể cảm nhận được ý nghĩa của một từ mà không cần có ý thức là đang trông thấy nó: trong trường hợp này, các vùng não được kích động khác với những vùng não tham gia một xử lý thị giác có ý thức.

Đồng thời, hình ảnh chức năng cũng dẫn tới tiến bộ trong một lĩnh vực khác liên quan tới ý thức, về khả năng đồng cảm (hay tha giác) và các quan hệ xã hội, nhất là qua các công trình của Chris Frith ở UCL, thuộc Đại học Luân Đôn. Chris Frith đã nhận thấy rằng khi hai cá nhân có những rung cảm cộng hưởng với nhau thì các vùng não được kích thích là y hệt nhau và khả năng đồng cảm này không có ở những người bệnh tâm thần phân lập.

Một ví dụ khác, năm 2003, Bruno Wicker, ở Viện nghiên cứu khoa học thần kinh về nhận thức Địa Trung Hải, đã chỉ ra rằng khi một người quan sát một người khác đang bày tỏ một sự chán ghét gì đó, thì người đầu cũng kích thích những vùng não hệt như người kia.


Như vậy, nghiên cứu não bộ về những quan hệ xã hội có thể là một hướng trong tương lai?

Đúng thế, tôi nghĩ rằng đang có những dấu hiệu của một sự tổng hợp mới giữa khoa học thần kinh và các khoa học xã hội và nhân văn, và sự hội tụ này là thiết yếu để chiến thắng các bệnh tâm thần và đưa đến những hiểu biết nhiều hơn về con người.

---

(1) Nói gọn, đây là một cải tiến của kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ (viết tắt tiếng Anh: MRI), sử dụng biến thiên của từ trường để vẽ lên bản đồ phân phối bất đẳng hướng của các phân tử nước trong óc.


(2) «Collège de France» là một Trường đại học nghiên cứu cao cấp rất đặc biệt của Pháp. Các giáo sư được bổ nhiệm vào đó đều là những nhà khoa học đã thành danh (thành viên các Viện hàn lâm khoa học, giải Nobel, giải Fields v.v.), có nhiệm vụ trình bày các « nghiên cứu hiện thời » của mình (không một giáo trình nào được phép lập lại), và người học thì tự do tới nghe giảng và tham dự các thảo luận, xê-mi-na được mở ra. «Trường» không cấp bất cứ một bằng cấp, chứng chỉ học tập nào.


Bản dịch và chú thích của Hà Dương Tường

Giải Nobel y sinh học 2010 đem niềm vui cho người vô sinh

Giải Nobel y sinh học 2010 đem niềm vui cho người vô sinh
Nguyễn Văn Tuấn


Gs Edwards, Nobel Y sinh học 2010

Hàn lâm viện Thụy Điển vừa công bố người được trao giải thưởng Nobel Y sinh học (thật ra, chính xác là sinh lí học hoặc y học), và nhà khoa học được vinh dự này là Giáo sư Robert Geoffrey Edwards, người Anh. Ông là người được công chúng trìu mến gọi là “cha đẻ của kĩ thuật thụ thai nhân tạo” (IVF), là người đem lại niềm vui và hạnh phúc cho hàng triệu người trên thế giới. Ông cũng là người sáng lập nên một bộ môn y học mới, dẫn đến những nghiên cứu tế bào gốc sau này. Giải Nobel Y sinh học năm nay được trao cho một người mà công trình khoa học và ảnh hưởng của nó đúng với ước nguyện của ông Alfred Nobel, đó là công trình khoa học mang tính ứng dụng đem lại phúc lợi cho nhiều người. Cuộc đời và sự nghiệp của ông cũng là một bài học cho các nhà khoa học trẻ đang muốn vươn lên.

Để thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của công trình nghiên cứu của Gs Robert Edwards, chúng ta cần phải điểm qua thực trạng vô sinh trên thế giới. Thiên chức làm mẹ, làm cha là một trong những mục tiêu phổ quát của con người. Đại đa số những cặp vợ chồng muốn có con, vì ngoài ý nghĩa duy trì nòi giống, sự có mặt của con còn là một trong những niềm vui và hạnh phúc gia đình, là “chất keo” nối kết vợ chồng. Nhưng trong thực tế, không phải ai cũng may mắn có khả năng có con. Thật vậy, một số nghiên cứu cho thấy khoảng 4 đến 17% (1) cặp vợ chồng trong tình trạng vô sinh, tức không có khả năng có con, vì rối loạn nội tiết và các nguyên nhân khác. Dựa vào tỉ lệ này, các nhà nghiên cứu ước tính rằng trên thế giới, có khoảng 72 triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh sản không có khả năng mang thai. Đối với những “bệnh nhân” này, họ phải sống trong đau khổ và mặc cảm [có khi] trầm trọng. Do đó, một liệu pháp điều trị vô sinh phải được xem là một đóng góp vĩ đại cho nhân loại. Sự nghiệp và công trình khoa học của Gs Robert Edwards có ý nghĩa và tầm vóc như thế. Có thể nói không ngoa rằng ông đã gieo niềm vui và đem lại hạnh phúc cho hàng triệu người.

Công trình mà Giáo sư Robert Edwards, thuộc trường Đại học Cambridge được trao giải là những nghiên cứu và phát triển thụ tinh nhân tạo (thụ tinh trong ống nghiệm, hay còn gọi là IVF). Trước đó gần 10 năm, năm 2001, ông được trao giải thưởng Lasker của Mĩ. Giải Lasker được xem là giải thưởng “tiền Nobel” bởi vì phần lớn những người được giải sau này cũng được trao giải Nobel. Thế nhưng Gs Edwards phải chờ đến gần 10 năm để được giải Nobel, và điều này đã làm cho nhiều người trong cuộc cao mày ngạc nhiên, vì đáng lẽ giải Nobel phải đến tay ông sớm hơn.
Đại học Cambridge là một đại học lừng danh thế giới, ngang hàng với Đại học Harvard của Mĩ. Giải thưởng về tay một nhà khoa học người Anh từ một đại học Anh một lần nữa củng cố vị trí của nước Anh như là một cường quốc khoa học thứ 2 (chỉ sau Mĩ) trên thế giới. Trong số 205 nhà khoa học được trao giải Nobel y sinh học (tính từ năm 1901 đến 2010), có đến 22 (11%) nhà khoa học người Anh. Đó là một tỉ trọng cao so với dân số của Anh.
Giáo sư Edwards năm nay đã 85 tuổi, và sức khỏe đang trong tình trạng không tốt. Ông không thể trả lời phỏng vấn của báo chí, nhưng qua phu nhân, ông tỏ ý hài lòng về công trình của ông sau cùng cũng được ghi nhận. Tuy đã cao tuổi và đã nghỉ hưu, nhưng ông vẫn còn rất tích cực trong khoa học. Tìm trong y văn cho thấy ông vẫn còn viết bài nghiên cứu và bình luận trên các tập san y học mãi đến … năm ngoái! Từ năm 1986, ông là tổng biên tập tập san Human Reproduction và đã đưa tập san này từ chỗ “vô danh” thành một tập san hàng đầu trong bộ môn như hiện nay.
Con đường đến thành công gian nan
Sự nghiệp khoa học của Gs Edwards là một bài học khá độc đáo. Ông xuất thân từ một gia đình lao động bậc trung, chứ không phải trưởng giả. Ông khởi đầu sự học với ngành nông, chứ không phải y học. Sau khi xong nghĩa vụ quân sự (4 năm), ông theo học tại Đại học Wales (Bangor) và tốt nghiệp với bằng cử nhân nông học. Nhưng sau một thời gian làm việc, ông cảm thấy không hứng thú và cũng không hợp với nghề nông học. Ông bắt đầu tìm một hướng đi khác, và di truyền học là hướng ông nhắm đến.
Sau một thời gian định hướng, ông quyết định theo học di truyền học tại Đại học Edinburgh. Ông theo học dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Conrad H. Waddington và Alan Beatty, hai nhà di truyền học nổi tiếng vào thời đó. Năm 1955, ông hoàn tất luận án tiến sĩ về sự phát triển của phôi thai trong chuột. Trong thời gian theo học tại Đại học Edinburgh, ông gặp người vợ tương lai tên là Ruth Fowler, là cháu của nhà khoa học lừng danh Ernest Rutherford (người New Zealand). Đến năm 1956, sau khi Ruth hoàn tất luận án tiến sĩ, hai người làm lễ thành hôn, và sau này bà là một trong những đồng nghiệp đắc lực của ông. Sau khi học xong tiến sĩ, hai vợ chồng được một học bổng của Mĩ sang làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (postdoc) ở CalTech (Viện Công nghệ California, hay California Institute of Technology). Sau 1 năm làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, hai vợ chồng quay về Anh. Về đến Anh, ông được Hội đồng Y khoa Anh (Medical Research Council) cấp cho một fellowship 5 năm [2]. Trong thời gian này ông làm nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Alan Parkes, một nhà khoa học rất nổi tiếng về di truyền học. Năm 1962, Alan Parkes được bổ nhiệm giáo sư thực thụ tại Đại học Cambridge. Giáo sư Parkes mời Robert Edwards về cộng tác với ông tại Cambridge. Năm 1963, ông chuyển về làm việc tại Đại học Cambridge cho đến ngày nghỉ hưu gần đây. Chức danh sau cùng của ông là giáo sư thực thụ.
Thật ra, Robert Edwards bắt đầu nghiên cứu vô sinh trước khi ông về Đại học Cambridge. Sau khi đã có kinh nghiệm trên chuột ở Đại học Edinburgh, ông bắt đầu nghiên cứu về sinh học tái sản sinh (reproductive biology) ở người. Câu hỏi ông đặt ra là làm cách nào để trứng và tinh trùng có thể “hội tụ” ngoài cơ thể con người. Đó là một câu hỏi táo bạo trong thời gian mà khoa học về tái sản sinh vẫn chưa phát triển. Ông và cộng sự phải tiêu ra 20 năm trời để hoàn thiện kĩ thuật thụ thai nhân tạo. Sau thành công về kĩ thuật, ông còn phải đương đầu với những gièm pha, phê phán, chỉ trích, thậm chí bị cô lập từ các giới chức tôn giáo, chính trị, thậm chí từ chính đồng nghiệp. Hành trình từ khám phá đến ứng dụng kĩ thuật IVF của ông là một tấm gương sáng cho giới khoa học


Patrick Steptoe và Robert Edwards
Bước ngoặt nghiên cứu của ông xảy ra vào năm 1963. Năm đó ông đi dự hội nghị của Hiệp hội Y khoa Hoàng gia Anh, và ông có dịp nghe Bác sĩ Patrick Steptoe giảng về ứng dụng kĩ thuật soi ổ bụng (laparoscopy). Ông còn nhớ rằng bài giảng hết sức ấn tượng, và ngay sau đó ông đến đặt vấn đề hợp tác với Bs Steptoe, lúc đó đang là bác sĩ chuyên khoa phụ sản ở Bệnh viện Oldham. Sau này, hai người trở thành một đội nghiên cứu rất nhịp nhàng và hiệu quả. Vì từ Bệnh viện Oldham đến Đại học Cambridge tốn đến 4 giờ lái xe, nên ông Robert Edwards quyết định lập một phòng thí nghiệm nhỏ bên cạnh bệnh viện để nghiên cứu. Bs Steptoe chính là người song hành với Robert Edwards qua các công trình dẫn đến giải Nobel. Đáng lẽ Bs Steptoe được chia sẻ giải Nobel với Gs Edwards, nhưng rất tiếc là Bs Steptoe đã qua đời từ năm 1988, và Hàn lâm viện Thụy Điển không có qui chế trao giải cho người quá cố.
Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu và thất bại, đến năm 1968, Gs Edwards đã nắm được kĩ thuật thụ tinh và “thúc ép” chúng thành những phôi để có thể cấy vào người. Năm 1969, sau một loạt khám phá quan trọng về vai trò của hormone trong quá trình thụ thai, Gs Edwards đã thụ thai một trứng trong ống nghiệm, và thành công này được xem là đột phá trong kĩ nghệ thụ thai nhân tạo. Khám phá này công bố trên tập san Nature [3], một tập san khoa học đứng vào hàng số 1 trên thế giới. Bài báo này chính là bài dẫn đến giải Nobel, và cũng là bài mở đầu cho việc phát triển kĩ thuật IVF sau này. Tính đến nay, bài báo này đã được trích dẫn 267 lần.
Nhưng thành công đó cũng bị nhiều người chỉ trích và nghi ngờ. Một số chuyên gia, có lẽ do ganh tị với thành tựu của Edwards, cho rằng thụ tinh trong ống nghiệm là giả tạo. Giới tôn giáo thì xem thành tựu đó là một đe dọa đến đạo đức, và thể hiện một sự can thiệp với vai trò thượng đế! Ngay cả người cùng ngành cũng nghi kị. Một người học trò của Giáo sư Robert Edwards là Martin Johnson (nay là giáo sư y khoa tại Đại học Cambridge) hồi tưởng lại vào thời đó, ít ai quan tâm đến vấn đề vô sinh và ảnh hưởng của vô sinh. Do đó, khi thấy ông (Johnson) theo hướng nghiên cứu về vô sinh dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Edwards, đồng nghiệp đều thấy tội nghiệp cho ông và họ nói rằng “Thầy ông đi sai hướng rồi”. Ngay cả Giáo sư Max Perutz và Giáo sư James Watson (cả hai đều được trao giải Nobel) nói với ông rằng việc can thiệp vào phôi thai như thế là thiếu trách nhiệm. Giáo sư Johnson kể rằng nhiều người không muốn nói chuyện với nhóm nghiên cứu của Edwards, vì họ không thích những gì nhóm nghiên cứu theo đuổi. Nhưng mặc cho ai nói gì thì nói, Giáo sư Edwards và nhóm nghiên cứu của ông vẫn kiên trì theo đuổi ý tưởng thụ sinh nhân tạo IVF. Dưới áp lực chính trị, tôn giáo và thậm chí khoa học, Hội đồng Nghiên cứu Y khoa cắt tài trợ. Nhưng may mắn thay, nhờ vào tài trợ của một mạnh thường quân người Anh mà công trình nghiên cứu được tiếp tục.
Mãi đến năm 1978 thì nghiên cứu của Gs Edwards và Steptoe mới “đơm bông kết trái”. Ngày 25/7/1978, bằng kĩ thuật IVF của Edwards và Steptoe hai vợ chồng Leslie và John Brown hạ sinh đứa con đầu lòng tên là Louise Brown. Louise Brown đi vào lịch sử y học hiện đại như là “test tube baby” (hàm ý nói được sinh ra từ thụ thai trong ống nghiệm). Ngày 25/7/1978 cũng là ngày đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử y học hiện đại, vì một bộ môn y học mới ra đời. Nhưng “tai nạn” vẫn chưa hết! Ngay sau khi Louise Brown chào đời, Hội đồng Nghiên cứu Y khoa lại cắt tài trợ đến 2 năm rưỡi, vì họ sợ áp lực của công chúng!

Tuy nhiên, trong vòng 5 năm sau ngày Louise Brown chào đời, thế giới có thêm 150 em khác cũng được chào đời bằng kĩ thuật IVF. Sau đó, với sự cải tiến về kĩ thuật, số bệnh nhân vô sinh được điều trị và số trẻ em ra đời từ sự hỗ trợ của kĩ thuật IVF gia tăng nhanh chóng. Chẳng hạn như ở Mĩ, năm 1998 có trên 61,000 trẻ em sinh ra bằng IVF, tăng gấp 30 lần só với 10 năm trước. Một sự tăng trưởng như thế cũng được ghi nhận ở Âu châu. Tính đến nay, đã có hơn 4 triệu trẻ em trên thế giới được sinh ra bằng công nghệ IVF.



Gs Robert Edwards với Robert Patrick Peter Laird – cậu bé “trong ống nghiệm” thứ 2500, chụp năm 1990


Tuy kĩ thuật IVF càng ngày càng cải tiến tốt hơn, nhưng tỉ lệ thành công cũng chỉ dao động trong khoảng 20-35%. Ngoài ra, chi phí điều trị vô sinh cũng còn khá đắt, nhất là đối với những nước đang phát triển. Nhiều nghiên cứu đã ước tính rằng chi phí để thụ thai thành công và cho ra đời một em bé bằng kĩ thuật IVF dao động trong khoảng 17,000 USD đến 56000 USD (cho phụ nữ dưới 30 tuổi). Vì tỉ lệ thụ thai giảm theo độ tuổi, cho nên chi phí IVF ở phụ nữ trên 40 tuổi cao gấp 3 lần so với phụ nữ dưới 40 tuổi.

Cho đến nay, ai cũng phải công nhận công nghệ IVF đã đem lại niềm vui gia đình và hạnh phúc cho hàng triệu người trên thế giới. Trong lịch sử y học, khó có một phương pháp nào đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhiều người như IVF. Giáo sư Robert Edwards thật xứng đáng với danh hiệu “Cha đẻ của trẻ em ống nghiệm” (Father of the Test Tube Baby).
Lí tưởng NobelGiải Nobel được thiết lập theo di chúc của ông Alfred Nobel. Trong di chúc, ông viết rằng giải thưởng nên trao cho “những ai đã đem lại lợi ích lớn nhất cho con người.” Thế nhưng trong những năm qua khi sinh học phân tử còn là “thời thượng”, có nhiều nhà nghiên cứu sinh học phân tử được trao giải Nobel. Điều này dẫn đến nghi ngờ của giới y khoa là giải thưởng này không còn tuân theo hay phù hợp với ước nguyện của ông Nobel nữa, bởi vì nhiều công trình được giải chẳng có giúp ích gì cho bệnh nhân (chứ chưa nói đến “lợi ích lớn nhất”).
Nhưng năm nay, giải thưởng được trao cho một người mà công trình nghiên cứu quả thật đem lại phúc lợi lớn nhất cho rất nhiều người. Đối với những cặp vợ chồng vô sinh, còn hạnh phúc nào lớn hơn là hạnh phúc có con và được làm cha, làm mẹ. Kĩ thuật (và bây giờ là công nghệ) IVF là một trong những cuộc cách mạng quan trọng nhất trong y học hiện đại. Do đó, giải thưởng năm nay đã đúng với tinh thần của di chúc Nobel. Như một bài báo trên tập san Nature viết rằng rất ít nhà khoa học nào có thể nói rằng trên thế giới có 4 triệu người ra đời và sống sót nhờ vào nghiên cứu của mình, nhưng Giáo sư Edwards là một người có cơ sở để nói như thế (nếu ông muốn).


Robert Edwards trong phòng thí nghiệm cùng các đồng nghiệp tại Cambridge


Vài bài học
Trong khoa học, có hai con đường chính dẫn đến thành công. Thứ nhất là chọn một đề tài lớn và phức tạp để giải quyết. Thứ hai là từng bước xây dựng những giả thuyết, và dần dần hình thành một đề tài lớn. Cố nhiên, còn có một con đường thứ ba là do … may mắn, nhưng tôi không bàn ở đây. Có thể nói sự thành công của Gs Robert Edwards là nhờ vào lựa chọn hướng đi thứ hai. Ông đã kiên trì theo đuổi đề tài, từng bước giải quyết các vấn đề kĩ thuật, kiên nhẫn chịu đựng những chỉ trích phi lí của giới “đạo cao chức trọng”, những ganh tị nhỏ nhen của đồng nghiệp để tập trung vào “bức tranh lớn”. Trong bài nói chuyện nhân dịp nhận giải Lasker năm 2001, ông thuật lại những chỉ trích mà ông và đồng nghiệp phải hứng chịu khi dự án nghiên cứu đang tiến triển tốt, nhưng ông vẫn bình thản như ... thiền. Ai chỉ trích cứ chỉ trích, ông vẫn theo đuổi mục tiêu cho đến cùng.

Vấn đề phân biệt giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Những công trình của Gs Edwards là những minh chứng cho vấn đề phân biệt nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, bởi vì lằn ranh giữa hai thể loại nghiên cứu này rất mong manh và không rõ ràng như nhiều người tưởng. Có lẽ những nghiên cứu này được xếp vào nhóm “translation research”, tức những nghiên cứu có ứng dụng tuy có yếu tố cơ bản nhưng có thể trực tiếp chuyển giao cho ứng dụng lâm sàng.
Liên quan đến nghiên cứu tế bào gốc, những công trình nghiên cứu tiên phong của Gs Edwards cũng làm nền tảng cho sự ra đời của lĩnh vực nghiên cứu tế bào gốc. Do đó, có nhiều người vui mừng cho rằng việc Hàn lâm viện Thụy Điển trao giải cho Gs Edwards là một cách gián tiếp công nhận giá trị của nghiên cứu tế bào gốc. Tuy nhiên, người phát ngôn của Hàn lâm viện Thụy Điển nói rõ rằng việc trao giải cho công trình nghiên cứu về IVF không đồng nghĩa với việc ủng hộ nghiên cứu về tế bào gốc.
Nói tóm lại, giải thưởng Nobel y sinh học năm nay thể hiện một sự ghi nhận đóng góp mang tính cách mạng của Gs Robert Edwards. Sự nghiệp khoa học và hành trình ông đến với kĩ thuật IVF đã đem lại hạnh phúc cho hàng triệu người trên thế giới là những bài học quí báu cho những ai đang theo đuổi lí tưởng đem lại phúc lợi lớn nhất cho con người.
Tài liệu tham khảo:
[1] Boivin J, et al. International estimates of infertility prevalence and treatment seeking: potential need and demand for infertility medical care. Hum Reprod 2007; Jun;22(6):1506-12.
[2] Austin CR. Bob Edwards – a profile. Hum Prod 1991; 6:1-4.
[3] Edwards RG, Bavister BD, Steptoe PC. Early stages of fertilization in vitro of human oocytes matured in vitro. Nature 1969; Feb 15;221(5181):632-5.

Khu bảo tồn vì cuộc sống

Written By kinhtehoc on Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012 | 23:49

Khu bảo tồn vì cuộc sống
Võ Quý


Khi được hỏi về phát triển bền vững, thay vì đưa ra những định nghĩa rất khoa học, GS Võ Quý nói về dự án phát triển vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên ông thực hiện thành công hơn 10 năm về trước tại Hà Tĩnh như một ví dụ về mô hình phát triển dân sinh và bảo tồn thiên nhiên; và những trăn trở của ông về việc bảo vệ tài nguyên và môi trường hiện nay.


Tại hội nghị Hội đồng quốc tế về khu bảo tồn thiên nhiên tại Venezuela năm 1994, tôi được tham dự và nói về khó khăn của Việt Nam. “Chúng tôi đã thành lập khu bảo tồn nhưng làm thế nào để giữ được những khu bảo tồn ấy thì không phải dễ. Chúng ta đều biết, quan niệm về khu bảo tồn là “hàng rào và cảnh sát” vì trước khi thành lập khu bảo tồn, người dân được khai thác một số tài nguyên rừng cho cuộc sống của họ, nhưng khi đã thành lập khu bảo tồn, không ai được tự do vượt qua ranh giới vào khai thác tài nguyên và ở đó luôn có người canh giữ. Ở Việt Nam, dân sinh sống xung quanh khu bảo tồn quá đông, nghèo mà “hàng rào” thì thưa. Muốn bảo vệ được chỉ có cách phải tăng số người canh giữ lên, cụ thể như vườn quốc gia Cúc Phương có lẽ phải cần đến vài nghìn người”. Khi tôi nói ý này ra, mọi người tham gia hội nghị cười: Các ông lấy tiền đâu để trả? Tôi nói, “Tại sao lại không thể biến mỗi người dân sinh sống quanh khu bảo tồn thành một kiểm lâm viên. Nếu người dân có lợi từ khu bảo tồn thì chắc rằng họ sẽ tích cực tham gia xây dựng. Muốn thế, ban quản lý khu bảo tồn phải quan tâm đến yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân địa phương, để cho cộng đồng địa phương được hưởng thụ các lợi ích do các chương trình bảo vệ đưa lại, tìm cách giúp cộng đồng dân cư xung quanh khu bảo tồn, nâng cao cuộc sống, mà không phải đối đầu với họ”. Quan điểm “khu bảo tồn vì cuộc sống” này được các đại biểu tán đồng, nhất là các nước đang phát triển.

Từ hội nghị trở về, tôi quyết định áp dụng quan điểm này vào thực tế tại Vườn quốc gia Cúc Phương. Tôi chọn xã Xuân Phương vừa mới được Ban quản lý vườn chuyển từ trung tâm Bống ra khu đất ngay trước cổng vườn, còn nhiều khó khăn. Tôi gợi ý với Ủy ban xã là muốn giúp các gia đình trồng rừng ở sườn đồi quanh xã, và trồng cây ăn quả trong vườn nhà. Họ ủng hộ và cho biết số cây giống cần cho toàn xã. Tôi cho người giao giống cây cho xã phân phối cho dân. Ba ngày sau tôi về xã với mục đích chụp một số ảnh để báo cáo với Đại sứ quán Anh, cơ quan tài trợ, thì thấy phần lớn cây giống vẫn còn nguyên ở ngoài đường, bắt đầu khô héo. Hỏi ra mới biết là vì tôi chưa đưa tiền trồng cho họ. Thì ra họ đã nghĩ là mình thuê họ làm cho họ. Thất bại cay đắng này làm cho tôi tỉnh ngộ: cái mình muốn giúp họ có thể không phải là cái họ mong đợi; muốn giúp dân phải sát dân, để biết họ đang thực sự muốn gì; và những vật cho không, thường không được quý trọng.


Thu hoạch chè tại xã Kỳ Thượng

Với kinh nghiệm thất bại ở Cúc Phương, tôi tìm về Hà Tĩnh để thử lại lý thuyết mình đề ra có đúng không. Tôi được tỉnh giới thiệu xã Kỳ Thượng, một trong những xã nghèo nhất của tỉnh và cũng là xã có nhiều người đang sống dựa vào khai thác các loại tài nguyên rừng tại khu vực đầu nguồn Hồ Kẻ Gỗ. Sống với dân một thời gian, theo họ vào rừng để biết được họ làm gì, khó khăn vất vả thế nào, chúng tôi mới thực sự hiểu được, rừng và tài nguyên rừng là “bát cơm manh áo” của người nghèo. Không cho người nghèo được hưởng “bát cơm manh áo” đó khi họ đang đói rét là không thể được về phương diện nhân đạo. Bảo vệ rừng một cách thiết thực, có thể làm được là tìm cách tạo cho họ “bát cơm manh áo” khác mà không phải phá rừng.

Để động viên nhân dân xã Kỳ Thượng bảo vệ rừng đầu nguồn và đa dạng sinh học, trong đó có loài Trĩ Hà Tĩnh, một loài Trĩ quý mà dân địa phương gọi là Gà lừng, chỉ có ở Hà Tĩnh mà không có ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, chúng tôi đã cùng với nhân dân xã xây dựng kế hoạch, nâng cao dần mức sống cho dân và giảm dần việc khai thác các loại tài nguyên rừng một cách bừa bãi. Điều mong ước thiết tha đầu tiên của dân là đủ lương thực, và nếu đủ ăn thì họ sẽ không đi rừng nữa. Với sự cộng tác của các kỹ sư nông nghiệp, chúng tôi tìm mua giống lúa tốt, phù hợp với điều kiện của địa phương và cho mỗi gia đình vay 5kg. Chúng tôi còn làm hợp đồng với từng gia đình với nội dung là: nếu thất bại chúng tôi sẽ đền tất cả, nhưng nếu thắng lợi thì họ được cả và hứa sẽ không đi rừng chặt gỗ và săn bắt Trĩ. Kết quả là năng suất giống lúa mới đã tăng lên 20-30%, phần lớn dân đã đủ ăn và cả xã vui mừng.

Theo yêu cầu của các hộ dân, để có cuộc sống khá hơn, chúng tôi tiếp tục giúp dân xã Kỳ Thượng tổ chức nuôi ong lấy mật, xây dựng thủy điện nhỏ cho gia đình, đào ao thả cá, cho hội phụ nữ vay vốn chăn nuôi, xây dựng vườn ươm cây ăn quả, trồng rừng và làm thêm lớp học cho trẻ em có chỗ học.

Những năm tiếp theo, với số tiền được thưởng từ trường Đại học Michigan và hỗ trợ thêm của IUCN quốc tế, chúng tôi đã giúp cho 5 xã thuộc vùng đệm khu bảo tồn Kẻ Gỗ nâng cao cuộc sống theo mô hình xã Kỳ Thượng.

Phát triển bền vững là bền vững cho ai?

Tôi đạt được một số kết quả về môi trường, phần lớn là nhờ có nhiều người giúp đỡ. Năm 1985, khi báo cáo kết quả Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi đó là Phó thủ tướng (PTT) phụ trách Khoa học công nghệ. Ông rất quan tâm đến vấn đề mà chương trình nêu lên, và nói với tôi là: “Đồng chí phải báo cáo với Tổng bí thư (TBT) Lê Duẩn, người lãnh đạo cao nhất của đất nước thấu hiểu thì mọi công việc mới thực hiện được”. Ít ngày sau, PTT Võ Nguyên Giáp tạo điều kiện cho tôi gặp TBT. Khi kết thúc báo cáo, tôi đã mạnh dạn kết luận: “Nếu chúng ta không sớm tổ chức thực hiện việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên thì 20 năm nữa sẽ mất nước”! Nghe đến đây, TBT Lê Duẩn đập bàn hỏi lại: “Tại sao anh dám nói mất nước”. Tôi trả lời: “Vì nếu cứ khai thác rừng như hiện nay thì 20 năm nữa sẽ không còn rừng, mà rừng là nơi giữ nước, không có nước thì nông dân lấy gì mà cày cấy, dân đói thì khó mà bảo vệ được Nước”. Tôi lại bị mắng tiếp: “Anh lại nói nước đôi?”. “Thưa vâng, chúng ta sẽ không có giọt nước mà uống, mà cũng không còn Nước mà quản lý”, tôi nói. Nghe đến đây TBT Lê Duẩn có vẻ “xuôi tai” cho là được, và bảo tôi phải làm thế nào để cho tất cả các Bí thư và Chủ tịch huyện biết được những ý kiến như đã báo cáo với TBT. Tôi đã thưa lại, tôi là nhà khoa học, không có tư cách gì để nói với các lãnh đạo địa phương mà đó là trách nhiệm của TBT. Ông cho là phải, nhưng vẫn bảo tôi cố gắng. Sau đó tôi cùng một số đồng nghiệp đã viết Dự thảo chiến lược quốc gia “Việt Nam: những vấn đề về môi trường”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết vào trang đầu của tập tài liệu: “Vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi trường phải trở thành một nội dung cực kỳ quan trọng, không thể thiếu trong kế hoạch xây dựng đất nước trước mắt cũng như về lâu dài”.

Cho đến nay, hơn 25 năm trôi qua, tôi vẫn không thể nào hoàn thành được chỉ thị của TBT giao cho. Cũng do hoàn cảnh khó khăn của đất nước, nên một thời gian dài chúng ta đã không quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ môi trường, thành ra mới xảy ra những điều đáng tiếc như bây giờ.

Chúng ta đang tìm cách nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên và môi trường và phát triển bền vững cho mọi người qua các phương tiện truyền thông. Câu hỏi quan trọng cần đặt ra là bền vững cho ai? Cho một nhóm người, cho cộng đồng, hay cho cả dân tộc, cho đất nước? Bền vững cho cá nhân, hay cho một nhóm người hoàn toàn khác xa với bền vững cho cộng đồng, cho đất nước, không những thế mà thường có tác động trái ngược. Cơ quan hay người được trao quyền lãnh đạo và hoạch định chính sách phải phân biệt được rõ ràng điều đó mới có thể đưa ra được những quyết định đúng đắn. Tôi chỉ mong những người lãnh đạo hiểu được phát triển bền vững là phải đem lại lợi ích bền vững cho cho đất nước, cho nhân dân chứ không phải cho nhóm lợi ích cục bộ.

Ngọc Tú ghi


Chưa có cơ sở để lo lắng về xuất khẩu gạo biến đổi gene

Chưa có cơ sở để lo lắng về xuất khẩu gạo biến đổi gene
PGS. TS Lê Huy Hàm*


Tôi hoàn toàn chia sẻ những băn khoăn của TS Nguyễn Quốc Vọng, một nhà khoa học rất nhiệt huyết giúp đất nước, giúp nông nghiệp và nông dân Việt nam mà chúng tôi đang cộng tác, từng cùng làm việc và cùng mưu cầu lợi ích cho nông nghiệp Việt Nam một thời gian dài. Những khó khăn này, tập thể những cán bộ tham gia vào tư vấn giúp Bộ trưởng NN & PTNT và Chính phủ, gồm các nhà khoa học, các nhà quản lý từ Trung ương đến địa phương đều đã lường trước và hiểu rất rõ những thách thức trước mắt này.

Trước hết chúng ta cần có cái nhìn toàn cục. Việt Nam hiện nay là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, sau Thái Lan. Những năm gần đây xuất khẩu gạo của chúng ta tăng liên tục, năm 2010 chúng ta xuất gần 7 triệu tấn gạo, mạng về khoảng 3 tỷ USD. Đó là thành tích rất lớn của lĩnh vực nông nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta nhập về khoảng hơn 2 triệu tấn đậu tương, và hơn một triệu tấn ngô làm thức ăn chăn nuôi. Theo ước tính, các thành phố lớn, các vùng gần biên giới của chúng ta cũng nhập khẩu theo con đường chính thức và không chính thức khoảng 1 triệu tấn gạo chất lượng cao để sử dụng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm chúng ta nhập siêu liên tục trong nhứng năm vừa qua trong buôn bán quốc tế. Nhu cầu nhập đậu tương và ngô làm thức ăn chăn nuôi tiếp tục tăng trong những năm tới. Như vậy vào thời điểm hiện tại, cân đối giữa nhập và xuất lương thực, về cơ bản chúng ta mới chỉ đảm bảo được nhu cầu lương thực của chính mình. Trong tương lai, với khoảng một triệu miệng ăn sinh ra mỗi năm, đất trồng bị mất dần do đô thị hoá, phát triển công nghiệp, do nước biển dâng và do ô nhiễm môi trường chúng ta phải có giải pháp quyết liệt ngay từ bây giờ để đảm bảo an ninh lương thực bền vững. Trước hết là phải giảm nhập khẩu thức ăn chăn nuôi. Cây trồng biến đổi gene có thể là một trong những công cụ giúp chúng ta trong việc đảm bảo an ninh lương thực.

Tuy nhiên xét tình hình quốc tế nói chung trong việc chấp nhận sản phẩm biến đổi gene, tương quan của các mối quan hệ nhập và xuất hiện nay của chúng ta, trong các văn bản của Chính phủ và của Bộ NN & PTNT chúng ta mới chỉ cho phép khảo nghiệm 3 loại cây trồng biến đổi gene mà chúng ta nhập nhiểu đó là: Ngô, Bông và Đậu tương. (riêng bông, hàng năm chúng ta phải dựa vào nhập khẩu là chủ yếu, sản xuất trong nước chỉ đáp ứng một tỷ lệ nhỏ nhu cầu về bông vải). Vì vậy chưa có cơ sở để lo lắng đến xuất khẩu gạo. Chúng ta sẽ chưa sử dụng lúa biến đổi gene khi trên thế giới loại thực phẩm này chưa chấp nhận rộng rãi! Đó là điều chắc chắn! Còn việc ảnh hưởng của thức ăn chăn nuôi biến đổi gene đến xuất nhập khẩu thịt cá...thì cũng không đáng ngại. Bởi vì trên thế giới hiện nay chưa có nước nào tỏ ra quan ngại về thịt cá được nuôi bằng sản phẩm biến đổi gene. Cũng cần phải nói thêm rằng hiện nay, chúng ta nhập khẩu rất nhiều thức ăn chăn nuôi là đậu tương và ngô, tỷ lệ đậu tương và ngô biến đổi gene trong đó là rất cao, nếu tính đến hiện trạng khoảng 70% đậu tương, 30% ngô trên thế giới nói chung là sản phẩm biến đổi gene.

Có lẽ chúng ta không đặt vấn đề cạnh tranh với các cường quốc trên thế giới hay với các công ty siêu quốc gia hùng mạnh về cây trồng biến đổi gene. Chúng ta chỉ đặt vấn đề công nghệ nào giúp người nông dân tăng thu nhập, giúp đảm bảo an ninh lương thực bền vững cho đất nước thì chúng ta mở đường cho người dân ứng dụng rộng rãi. Nguời nông dân sẽ là người lựa chọn cuối cùng về giống nào họ sẽ trồng trên đất của họ. Tất nhiên họ sẽ trồng giống nào mạng lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho họ. Ta còn nhớ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi ngô lai bắt đầu tràn vào Việt Nam, khi chúng ta hoàn toàn chưa có giống ngô lai của mình, cũng đã có lo ngại tương tự, rằng chúng ta sẽ phụ thuộc vào công ty nước ngoài, rằng việc mở cửa cho ngô lai chỉ có lợi cho công ty sản xuất hạt giống.... Sau hơn 20 năm mở cửa phát triển ngô lai, nhìn lại ta thấy, hiện nay hầu hết các cánh đông ngô được thay thế bằng ngô lai, khó có thể bắt người nông dân quay trở lại với ngô thuần truyền thống. Việc mở cửa không chỉ thúc đẩy lĩnh vực sản xuất ngô, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân mà còn góp phần thúc đẩy nghiên cứu ngô lai của Việt Nam. Chúng ta không giao khoán cho 3 công ty nước ngoài được phép khảo nghiệm và kinh doanh hạt giống ngô biến đổi gene mà chúng ta mở cửa cho tất cả các công ty có các sản phẩm biên đổi gene thuộc 3 loại cây là ngô, bông, và đậu tương, kể cả công ty trong và ngoài nước, có thể cạnh tranh phát triển ở Việt Nam. Ai mang lại nhiều lợi ích cho nông dân hơn, người nông dân sẽ chọn họ, người đó sẽ thắng trong cuộc cạnh tranh này. Vì vậy để thắng được trong cuộc cạnh tranh đó các công ty phải quan tâm đến người nông dân, như một đối tượng trung tâm nhất.
--------
*Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp

Lợi ích kinh tế nào khi Việt Nam có giống cây trồng biến đổi gene?

Lợi ích kinh tế nào khi Việt Nam có giống cây trồng biến đổi gene?
Nguyễn Quốc Vọng


Cây trồng biến đổi gene là kết quả của công nghệ tiên tiến, hiện đại, có khả năng giúp con người vượt qua chặng đường khó khăn về an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, tăng chất dinh dưỡng và đặc biệt hơn hết là vẫn an toàn không khác gì các loại cây trồng khác. Nhưng rất tiếc việc sử dụng thức ăn biến đổi gene lại không có sự đồng thuận rộng rãi của giới tiêu thụ trên thế giới, làm thành một lực cản về kinh tế cho một số nước đang phát triển ủng hộ nghiên cứu và trồng đại trà giống cây trồng biến đổi gene.

Việt Nam có chủ trương đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp. Nhưng hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp, trong đó sản xuất nông sản chiếm 20% GDP (2009) và xuất khẩu nông sản là một trong những “lợi ích cốt lõi” của Việt Nam. Gạo, cà phê, điều, hạt tiêu, tôm, cá tra…là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng đem hàng tỷ USD về cho đất nước cho nên việc nghiên cứu, ứng dụng và triển khai cây biến đổi gene phải được nhìn thêm một góc cạnh khác ngoài khoa học kỹ thuật. Đó là góc cạnh kinh tế và thương mại. Đó là thị hiếu của khách hàng. Chúng ta cần phải biết khi sản xuất đại trà thì liệu khách hàng của Việt Nam có chấp nhận thức ăn biến đổi gene không?
Cứ giả sử 4-5 triệu tấn gạo của Việt Nam là "gạo biến đổi gene" thì liệu ta có bán được để thu vào 2.6 tỷ USD như năm 2009 không? Một ví cụ thể là vào năm 2006, Hoa Kỳ đã không xuất khẩu được gạo, mất 1,2 tỷ USD vì có sự hiện diện của giống lúa biến đổi gene. Cũng cần nhắc lại trước đây, vào năm 1999, ngô của Hoa Kỳ cũng đã bị thị trường Âu châu tẩy chay vì là ngô biến đổi gene (Hình 1). Hoặc thức ăn cho tôm cá của Việt Nam được nuôi bằng ngô, đậu tương biến đổi gene thì liệu khách hàng của chúng ta có bỏ ra 5 tỷ USD như năm 2010 để mua thủy sản Việt Nam không? Chúng ta nên nhớ đối với Hoa Kỳ mất 1.2 tỷ USD vì không xuất khẩu được gạo, hoặc ngay cả 5 tỷ USD vì không xuất khẩu được tôm cá thì đó là chuyện nhỏ vì lợi nhuận trong việc bán giống biến đổi gene và những phụ kiện công nghệ sinh học của Hoa Kỳ còn lớn hơn nhiều. Chỉ với một công ty Monsanto thôi, họ đã thu vào 17.1 tỷ USD qua kênh biến đổi gene vào năm 2007 (hạt giống 5 tỷ USD, thuốc diệt cỏ và thuốc BVTV 3.6 tỷ USD, các sản phẩm công nghệ sinh học khác 8.5 tỷ USD).

Khách hàng chính của nông thủy sản Việt Nam là EU và Nhật. Đây là 2 khách hàng cực kỳ khó tính, chống đối thức ăn biến đổi gene một cách mãnh liệt. Phát biểu của Ủy Ban Nông nghiệp Âu Châu về việc Hoa kỳ mất thị trường ngô ở EU vì thức ăn biến đổi gene (Về thị trường ngô ở EU, thị phần của Hoa Kỳ đã giảm một cách rõ rệt trong khi thị phần của các bạn hàng khác, đặc biệt Argenetina và Hungary, đã tăng một cách đáng kể. Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ USDA đã nhận định rằng việc mất thị phần (ngô) ở thị trường EU là kết quả từ những vấn đề liên quan đến công nghệ sinh học (http://ec.europa.eu/agriculture/publi/gmo/ch5.htm), và có hơn 100 hội đoàn phi chính phủ của EU đã ký tên vào một lá thư ngỏ gửi cho OXFAM ngày 12/4/2010 để phản đối tổ chức này đưa ra bản báo cáo về hiệu quả cây biến đổi gene chỉ dựa vào kết quả tốt mà không nói đến kết quả xấu là những dẫn chứng có thật về sự chống đối mạnh mẽ thức ăn biến đổi gene của EU (www.gmwatch.org/).
Tại Úc, cho đến nay chưa sản xuất được hạt giống biến đổi gene. Hầu hết các tiểu bang (ngoại trừ Queensland) đều ngăn cấm không cho phép trồng cây biến đổi gene (www.gmo-compass.org/eng/news/stories). Bang Queensland nơi được phép thử nghiệm, người ta nhận thấy vì phải phụ thuộc vào công ty nước ngoài về giống và những phụ kiện khác, nông dân đã không thu được nhiều lợi nhuận và việc cải thiện môi trường không diễn ra tốt đẹp như nhiều người tưởng. Chỉ có doanh nghiệp là lời to, nhất là các công ty hạt giống siêu quốc gia. Tuy vậy, giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Bộ Nông nghiệp của chính phủ Liên bang Úc cũng nhận thấy Úc sẽ mất 1.8 – 7 tỷ USD nếu không tự mình phát triển giống cây biến đổi gene để tham gia vào sự phát triển chung của thế giới. Vì lý do đó mà nay Chính phủ Liên bang Úc châu đã cho phép nghiên cứu và trồng thử cây biến đổi gene. Nhưng cũng chỉ thử nghiệm bó gọn trong 3 loại: cải dầu, bông vải và hoa cẩm chướng. Không có thứ nào trực tiếp làm thức ăn cả.

Tại Việt Nam, Bộ NN&PTNT đã khẳng định cho đến nay đã có ba doanh nghiệp nước ngoài được phép thực hiện khảo nghiệm ba giống cây chủ lực là ngô, đậu tương và bông vải; và Việt Nam sẽ có giống cây trồng biến đổi gene năm 2011 và đến 2013 sẽ sản xuất giống đại trà để trồng trên diện rộng (Theo Tuoitre Online ngày 11/12/2010). Như vậy từ năm 2013 xác xuất ngô và đậu tương biến đổi gene dùng cho thức ăn gia súc và thủy sản của Việt Nam là rất cao, nếu không nói là toàn bộ. Nếu là vậy thì mặt hàng thịt và tôm cá của Việt Nam cũng được xem là có hàm lượng biến đổi gene. Như vậy khi xuất khẩu, hàng Việt Nam phải dán nhãn có thức ăn biến đổi gene. Việt Nam tự mình tạo thêm một rào cản khác ngoài an toàn vệ sinh thực phẩm: đó là thức ăn biến đổi gene.
Để phát triển một cách bền vững các giống cây biến đổi gene nói trên, và giúp các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam không dính vào những khó khăn như vụ cá tra bị EU
đưa vào sổ đỏ vào cuối năm 2010, Việt Nam cần phải tính đến mặt kinh tế khi bằng cách làm rõ những vấn đề sau:

1. Xác nhận xem khách hàng của ta, cụ thể là EU và Nhật, có chấp nhận mua tôm cá trong đó thức ăn là ngô và đậu tương biến đổi gene không?

2. Nghiên cứu xem để biết giống cây trồng biến đổi gene của Việt Nam có thể cạnh tranh với giống của các công ty siêu quốc tế (ví dụ như AmGene, Geneetech, Monsanto... nơi đã dành hàng tỷ USD cho nghiên cứu) về chất lượng hạt giống, về giá hạt giống không? Kinh nghiệm của nhiều nước trồng cây biến đổi gene trên thế giới cho biết chỉ khi nào (Việt Nam) tự sản xuất được giống cây biến đổi gene thì khi đó mới thực sự giúp nông nghiệp và nông dân Việt Nam phát triển bền vững.

3. Nếu giao khoán cho ba doanh nghiệp nước ngoài được phép thực hiện khảo nghiệm và sau đó (dĩ nhiên) được phép kinh doanh hạt giống thì xin điều tra kỹ về những thủ tục cực kỳ khó khăn trong việc mua hạt giống hoặc mua bản quyền giống từ các các công ty siêu quốc gia, để tìm ra giải pháp thích hợp có lợi cho nông dân và nông nghiệp Việt Nam.
Cho đến bây giờ không ai có thể bảo rằng thức ăn biến đổi gene là không an toàn cho nên đứng về mặt phát triển khoa học kỹ thuật, Việt Nam phải tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật biến đổi gene. Chúng ta cần phải nghiên cứu các loại lúa chống mặn, chống lụt (gene Sub1) để đối phó với biến đổi khí hậu; các loại cây cố định đạm để đối phó với đất bạc màu, đất phèn, đất bị ô nhiễm… để bảo vệ môi trường; các loại cây có dinh dưỡng cao (tăng lượng β carotene cho gạo, tăng lượng Oleic acid & Omega-3 cho đậu nành) để tăng dinh dưỡng cho thực phẩm; hoặc đánh giá cây biến đổi gene cho các loại nông sản quan trọng như lúa, ngô, đậu tương, bông vải và rau quả, cũng như chẩn đoán có hay không gene biến đổi trong nông sản hoặc thức ăn nhập khẩu như ngô, đậu tương, sữa, bơ, phó mát, khoai tây chiên… là những việc rất quan trọng mà Việt Nam cần phải làm ngay, vừa để theo kịp đà tiến bộ chung của thế giới, vừa sửa soạn cho đến khi giới tiêu thụ thế giới chấp nhận thức ăn biến đổi gene, thì Việt Nam cũng đã có sẵn cán bộ và các kỹ thuật công nghệ sinh học về giống, tạo giống và nhân nhanh giống biến đổi gene, phục vụ kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam, phát triển xuất khẩu.
Việc tiếp cận với công nghệ, kỹ thuật biến đổi gene là cần thiết song phải có lộ trình thích hợp, không nên vì lợi ích của một nhóm người rồi bị rơi vào cái bẫy của những công ty siêu quốc gia khi họ không xâm nhập được thị trường Âu châu và Nhật bản nay quay sang Việt Nam tìm kiếm thị trường mới.

Để nông dân không phải trả giá quá cao…
GS. Võ Tòng Xuân
Ý kiến của TS Nguyễn Quốc Vọng trên đây là ý kiến đã được nghiên cứu kỹ. Hiện nay nước ta đang theo sau nhiều quốc gia khác trên thế giới, ngay cả sau Philippines và Thái Lan trong ứng dụng giống cây trồng có gene biến đổi (giống GM), mặc dù đã có nhiều cuộc trồng thử không chính thức giống bông vải Bt (có lẽ nhập từ Trung Quốc). Sở dĩ có sự chậm trễ này là vì các nhà xây dựng chính sách của ta, từ Bộ NN&PTNT, Bộ KH&CN, đến Bộ Tài nguyên & Môi trường đều rất đắn đo trước những ý kiến ủng hộ (có nhiều bằng chứng) và chống đối (thường dùng lý do giả tưởng, không có minh chứng rõ ràng). Tình trạng này cũng giống như ý kiến phản bác đi ô-tô vì căn cứ vào sự kiện vài tai nạn đã gặp mà kết luận là đi ô-tô sẽ hoặc có thể gặp tai nạn. Cuối cùng thì các chuyên của các Bộ ngành đều nhất trí với các nhà khoa học hoạt động trong ngành CNSH kiến nghị với Chính phủ chính thức công nhận cho nghiên cứu giống GM bằng một loạt các văn bản chính qui: Qui định về an toàn sinh học năm 2005 đến Nghị định số 69/2010/NĐ-CP năm 2010.
Hiện nay hầu như các giống GM được bán trên thế giới là giống do một số ít công ty đa quốc gia đã đầu tư hàng tỉ USD để nghiên cứu và sản xuất như Monsanto (Mỹ), DuPont (Mỹ), Syngeneta (Thụy Sĩ), Bayer (Đức). Đây là những công ty chuyên sản xuất dược phẩm, thuê những chuyên viên CNSH trả lương rất cao và đầu tư thiết bị rất đắt tiền, mua cả những công ty giống cây trồng để tạo giống GM. Ngoài gene chủ yếu muốn đưa vào giống mới (năng suất cao, kháng sâu bệnh) họ còn đưa thêm gene kháng một loại hóa chất khác mà họ muốn bán kèm với hạt giống, thí dụ gene kháng thuốc diệt cỏ Roundup. Cho nên khi nông dân trồng bắp Bt họ phải mua thuốc diệt cỏ Roundup để sử dụng. Ở nước ta, việc nghiên cứu giống GM vẫn còn phôi thai, chủ yếu mới chỉ tập trung tại một ít cơ sở khoa học có thiết bị tương đối hiện đại như Viện Công nghệ sinh học ở Hà Nội và Viện Lúa ĐBSCL. Nhưng tất cả các cơ sở vẫn phải nhờ nguồn gene biếu từ các công ty đa quốc gia, và phải tranh thủ phần lớn kinh phí nước ngoài. Kết quả đến nay chúng ta vẫn chưa tạo được giống GM mà người nông dân nghèo rất cần có để trồng như lúa chịu hạn, lúa chịu mặn, bắp chịu hạn…
Vì thế khi quyết định sử dụng giống GM, chúng ta cần lưu ý các đề nghị mà TS Nguyễn Quốc Vọng đã nêu, nhất là giống mà ta có thể tạo ra trong nước để nông dân nghèo không phải trả giá quá cao.
 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved