.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn KÝ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KÝ. Hiển thị tất cả bài đăng

Cái Chết Bức Bối Của Một Nhà Thơ

Written By kinhtehoc on Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012 | 06:10


Phạm Nga

Ta buồn bã khiêng mùa thu xuống núi
Mưa phùn bay nhè nhẹ ở ngoài trời
Ta cóng lạnh nhìn em cười nụ nhỏ
Đẹp vô cùng nhưng ngắn ngủi, tan, vơi…
THƯỢNG THUẬT
(Khiêng Mùa Thu Xuống Núi – tạp chí Văn, 1972)
                                                                                   
Có ai đó gọi tên tôi trên phố. Một phụ nữ lạ mặt nhìn tôi cười và có vẻ chờ đợi. Như tình trạng của tôi lúc này, chắc cái mặt ngớ ngẩn, tra lục trí nhớ nào trông cũng ít nhiều buồn cười. Hồi lâu thì tôi chịu thua, xin lỗi là  không thể định vị chị vào một quãng nào đó đã qua trong cuộc sống của mình. Thì ra, mấy chục năm trước, tôi và chị cùng làm việc ở một rạp chiếu bóng vùng Phú Nhuận. Hỏi thăm về những người cùng làm việc hồi đó, chợt chị nói: “Còn bác Sáu ở Bà Rịa, ổng còn khỏe không anh? Hay ổng cũng… rồi?”. Lần này thì tôi khá hơn, nhớ ra ngay đầu đuôi một sự việc đau lòng…

Nguyên hồi còn làm ở rạp chiếu bóng, biết tôi là sĩ quan chế độ cũ, có lần người phụ nữ này đã cho biết mình là con gái vị chánh án tỉnh cũ, và ông cũng đã học tập cải tạo về.  Sau đó, trong một dịp nghỉ phép, tôi bay về Bà Rịa, vô tận  miếng đất rẫy nghèo nàn của Châu ở Long Đất, báo ngay tin này cho bác Sáu Tí – ba Châu -  vì ngẫu nhiên bác vốn là một cảnh sát viên áo trắng canh gác tại toà án tỉnh Phước Tuy thời trước. Cái tin tôi tình cờ làm việc cùng chỗ với con gái vị chánh án đã khiến bác Sáu hết sức phấn chấn, vui vẻ. Bác bắt Châu chạy đi lấy thêm ba xị nữa rồi truy cứu tiếp nơi tôi những thông tin quá nghèo nàn về vị xếp cũ của bác. Có gì đâu, ông cảnh sát già đang sống lại cảm giác vinh quang của cái hồi được chuyển công tác, từ gác chợ về gác tòa án tỉnh.  Sau bao nhiêu đổi thay, mất mát  từ ngày 30/4, ông già thầm lặng đóng cửa với hiện tại, tiếp tục sống tự hào ngấm ngầm về một chút quá khứ ‘làm công chức’ một thời mà bà con ở quê thường gọi một cách kính trọng là có “ mần việc”, “làm việc”. Thật may mắn, cần một xác minh hùng hồn trên cõi đời hiện tại này thì vị cấp trên cao nhất vẫn còn đó. Bác Sáu bắt tôi vô một ly đầy rồi trợn mắt quả quyết : “Bây giờ mà gặp thì chắc chắn ông Đẫu nhớ tao liền hà!”.
“Để bữa nào lên Sàigòn một chuyến, con dẫn thằng Châu với Sáu tới nhà ông Đẫu thăm ổng…”. Người già ở miền Nam có cái tật rất dễ thương là khi gần gũi, ân cần, họ xưng trõng trơ với con cháu bằng thứ bậc tư, năm, sáu, bảy… gì đó, lướt nhẹ tưng qua vai vế  chú, bác, cậu, dượng… vốn ấn định người trên kẻ dưới, để giữa ông già và bọn trai trẻ thắm đẫm hơn nữa cái tình trìu mến, tin cậy. Vào lúc ấy thì nói nào ngay, cái thằng tôi khố-rách-áo-ôm chẳng có gì đáng cho bác Sáu bấu lấy mà cậy nhờ. Chỉ có chuyện rất nhỏ nhoi là tôi sẵn sàng ra đón bác ở bến xe miền Đông rồi đưa bác đến nhà người mà bác muốn gặp lại với tất cả lòng kính mến. Trở về Sàigòn, tôi lập tức kể chuyện về bác Sáu cùng niềm mong mỏi của bác với cô con gái vị chánh án. Rất thuận lợi vì liền sau đó, vị xếp cũ của bác Sáu đã nhắn qua con gái mình rằng ông rất vui khi được gặp lại một thuộc cấp còn nhớ tới ông.

Rồi cuộc sống khó khăn đã xô dạt, nhấn chìm đâu mất cuộc hẹn gặp giữa hai ông già. Vị chánh án qua đời, đang khi trông ngóng hồ sơ H.O. nghe nói còn nằm đâu đó ở Thái Lan. Biết được tin buồn này vào lúc đã nghỉ việc tại rạp chiếu bóng, tôi lại phải bám chặt lấy Sàigòn để kiếm sống nên rất chậm trễ trong bổn phận đưa tin về Bà Rịa. Rồi bác Sáu đau ốm liên miên, lặng lẽ qua đời trong niềm tuyệt vọng, không còn cơ hội lên Sàigòn, đến viếng mộ phần cấp trên của mình, như một cách vớt vát cho một ước nguyện nhỏ bé cuối đời bác.

Từ biệt chị đồng nghiệp cũ mà không có gì vui vẻ để trao đổi số phone, địa chỉ hay nói hẹn gặp lại, tôi trở về nhà với cõi lòng trĩu nặng quá khứ.  Châu, bạn tôi, chứng nhân hàng đầu, thân thuộc nhất của cuộc hẹn bất thành giữa hai ông già, cũng vừa mất năm ngoái.

Đã có gì đó thúc thủ, cam chịu, rất “số phận” về cái chết của hai người già. Hai món đồ chơi cũ mèm mà bàn tay vô tâm của Định Mạng đã lạnh lùng vứt vào xọt rác Hư Vô. Nhưng đến lượt Châu ra đi thì dù cũng chết do bệnh tật, lại có nhiều điều bức bối khiến gần như tôi không muốn tin là thật. Nói theo phim cổ trang Trung quốc thì là: “Tại hạ không cam tâm trước việc này!”.

Chúng tôi bạn nhau từ gần 50 năm trước ở Sài Gòn, lúc hai đứa cùng chơi  thi văn đoàn học trò. Tên nhóm là ‘Văn Nghệ Tim’ do Châu nặn óc nghĩ ra. Châu nghỉ học sớm, nhưng bù lại anh sớm có thơ và truyện ngắn đăng ở nhiều nhựt báo, tạp chí, trong đó có tạp chí Văn, tờ báo văn học - nghệ thuật danh giá nhất miền Nam. Đến tuổi lính thì Châu trở về quê, đăng vô cán bộ xây dựng nông thôn ở Vũng Tàu rồi làm biên tập viên trong tờ Nước Ta, cơ quan ngôn luận của lực lượng “áo đen”.

Châu vừa ham mê đá banh đủ để viết bài tường thuật bóng đá, vừa mê mãi làm thơ lục bát đủ để gởi cho nhiều tờ báo lớn nhỏ và… tán gái. Thật ra, máu văn nghệ  trong anh chàng lùn thấp và thường xuyên túng bấn này đã không đủ tạo cho anh một vẻ phong nhã, hào hoa trước mắt con gái. Nhưng không riêng gì vài cô gái trẻ, người lớn tuổi cũng dễ cảm mến Châu vì anh rất cởi mở, vui vẻ, ân cần với bất cứ ai, và còn có tánh thật thà đến buồn cười. Tôi cũng vui vẻ bỏ qua cho bạn mình về chuyện có chút nhuận bút nào khi tôi viết cho tờ Nước Ta thì coi như tiền… “chiến sĩ trận vong” – đúng hơn phải là “chận vong”. Châu cười hề hề khi ăn “chận” làm tiêu “vong” hết số nhuận bút, chỉ để chi trả những chầu café thuốc lá cho bạn bè, dĩ nhiên có cả tôi. Do tôi rủ vô làm thân hữu, Châu gởi thơ tình đăng trên tập san Nghiên Cứu Triết Học của nhóm chúng tôi ở đại học Văn Khoa Sài Gòn. Khi nhóm ra tờ tạp chí văn học - nghệ thuật ‘Tự Thức’, Châu vừa đang soạn vài bài thơ, chuẩn bị gởi thì biến cố lịch sử 30-4 đã diễn ra…

Con người lạc quan, chất phác ấy khó mà còn vô tư cười nói sau ngày 30/4. Học tập cải tạo xong, anh rời Vũng Tàu rút về xã An Ngãi, thuộc huyện Long Đất, Bà Rịa, xin một ít đất của người bà con đề làm rẫy kiếm sống. Muốn đến vạt đất khô cằn đó thì phải vượt qua 2 cây số đường mòn quanh co đi về phía chân núi Dinh Cố rất vắng người, cây dại um tùm. Ai xui xẻo bị rắn cắn dọc đường thì rất ngặt nghèo vì phải lết đi mấy trăm thước mới thấy một căn nhà lá. Vậy mà trong những năm 80- 90, hễ gặp lúc phiền muộn, bất đắc chí là từ Sài Gòn, tôi mò lên rẫy Châu ở ít bữa. Cứ gọi là đi hoang, đi bụi, hay đi thiền, tôi tìm đến một khung cảnh hoang sơ, vắng lặng, không điện, không nước máy, không nhà xí…

Lúc nào cũng là manh chiếu rách trải dưới tàng cây. Thứ rượu độc địa, rẻ mạt đựng trong bình toong nhà binh, vài miếng cóc, ổi… hay một con rắn vô phước nào đó. Châu làm thơ, tôi viết truyện. Rồi anh Hai Lúa đất An Ngãi làm gì có tiền để lên thành phố, tôi lại đem những bài lục bát của bạn về Sài Gòn và sau đó, thấy đăng trên mấy tờ báo tuổi trẻ, học trò, như tờ Áo Trắng chẳng hạn.

Cuộc sống của Châu chợt đổi khác khi run rủi, uỷ ban xã cần thư ký đánh máy. Tuyển được một nhân viên gần như là người có chữ nghĩa nhất xã, mấy cán bộ giao luôn con dấu của ủy ban cho Châu giữ. Anh có thêm hai nghề mới, một là làm đơn mướn giá “bèo” cho bà con nông dân, hai là nghề … nhậu. Nhậu cả giấc trưa lẫn giấc chiều tối, nhậu lòng vòng trong xã với tay cán bộ nấu rượu ở nhà hay với anh nông dân cần làm đơn nhưng chỉ trả bằng chầu nhậu. Nhậu đến té bờ té bụi nhưng nhà thơ /thư ký xã đã có hoàn cảnh, cơ hội để phất lên.

Những lá đơn liên quan đến đất đai, như: xin lại đất tập đoàn, xin quyền sử dụng đất, xin tách thửa, xin thừa kế.v.v…, luôn luôn đem lại lợi lộc cho cán bộ ký giấy và Châu ta cũng được chia cho ít nhiều. Đó là chưa kể vô số những lần cán bộ cho anh đi theo “bồi dưỡng” sau các vụ ký giấy, ở những nhà hàng, khách sạn, quán bia ôm, massage…  tận bên Vũng Tàu cho kín đáo. Nhưng xin bỏ qua cho cái vụ phong-lưu-ăn-ké đó, nhà thơ có vẻ ù lì, chậm chạp vậy chứ rất biết lo.

Nhờ thân cận, cùng cánh vui chơi với cán bộ, Châu đã lần hồi mở rộng vạt đất 200m2 do người bà con cho ngày nào, thành lô đất hơn 2000m2. Cùng là đất thuộc diện “tự khai khẩn, phát hoang từ đất rừng” như nhiều người khác trong xã, nhưng phải là đất của gia đình anh thư ký xã thì mới được dễ dàng, nhanh chóng cho hợp thức hóa chủ quyền và chủ đất Châu chỉ tốn một chầu nhậu thịnh soạn thôi. Lô đất nằm ngay bên con đường nhựa mới mở theo qui hoạch, thay thế cho con đường mòn xưa cũ. Có điện, có đường nhựa, xã An Ngãi đươc treo bảng là khu du lịch – thắng cảnh tôn giáo với chùa Thiên Thai, chùa Ngũ Đế… và đặc biệt một ngôi chùa mới tinh, nguy nga đồ sộ, do một Việt kiều bỏ tiền ra xây cất, gần đất của Châu. Khách du lịch đi chơi biển Long Hải ít khi quên ghé khu vực này để tham quan, hành hương. Xóm làng đông vui hơn, nhưng vui nhất là giá đất lên vùn vụt!

Rồi vừa do sự nhắc nhở của bạn bè, vừa do ý chí bản thân, Châu bắt đầu giảm bớt mấy vụ đi chơi ké với cán bộ ban đêm ở Vũng Tàu, chú ý giúp đỡ tiền bạc và việc làm cho em, cháu trong nhà. Và Châu lấy vợ. Chuyện anh chọn vợ là người Thiên Chúa giáo đã bị bà mẹ và các cô em gái sùng tín đạo Phật chống đối kịch liệt. Rốt cuộc, vì Châu nắm toàn bộ kinh tế gia đình nên từ việc cưới hỏi tại nhà thờ cho đến việc Châu học giáo lý để theo đạo đều suông sẻ, vui vẻ. Chỉ có một điều hơi kém vui một chút là khi cưới vợ, chú rễ đã 55 tuổi.

Vậy mà, mới hơn một năm không gặp nhau, tôi sững sờ khi vợ Châu báo cho biết mới đưa chồng lên Sài Gòn, vô bịnh viện Chợ Rẫy cấp cứu. Xơ gan và loét bao tử - những bệnh không mới lạ, độc đáo gì đối với những bợm nhậu. Vợ Châu cho biết, cả năm rồi anh thường cảm thấy khó chịu, đau râm rang ở bao tử. Nhiều khi đi cầu ra phân đen như dầu hắc. Thôi rồi, y học gọi đó là xuất huyết nội, máu đã rỉ rã chảy từ vết loét tự hồi nào! Bị vợ con thấy phân đen thì Châu nói đại rằng do nhậu tiết canh vịt hay ăn cháo huyết.  Xuất huyết bên trong khiến người ớn lạnh và đổ mồ hôi thì Châu cho đó là trúng mưa, nóng lạnh. Rồi sau khi uống bậy mấy viên thuốc cảm, thuốc đau bụng, mấy gói thuốc Nam cho dễ tiêu hóa, anh hể hả nói “ợ một cái là khỏe!” rồi nhậu tiếp! Đến lúc quá đau đớn, Châu mới chịu mò ra trạm y tế xã, rồi trung tâm y tế huyện. Bác sĩ ở đây nói đích danh bệnh loét bao tử, yêu cầu bệnh nhân phải bỏ rượu và kiêng mấy thức  ăn cay-chua-cứng. Châu bắt đầu uống thuốc trị loét nhưng quá khó kiêng cữ. Ngày nào mà không ‘đụng’ với mấy xếp và dân nhờ làm đơn, nghĩa là tránh rượu thì gặp bia và mồi nhậu phải cay, chua thì nhậu mớibắt. Cuối cùng là sau một trận ói có máu lẫn vào những sợi bún, Châu nằm liệt…

Nhìn Châu ốm o, già háp, hôn mê thiêm thiếp, truyền nước biển rồi truyền máu, tôi hiểu bạn mình đã quị ngã thật sự lần sau cuối chứ không phải như những lần trước, chỉ là quá xỉn mà lủi xe xuống mương.

Tôi chợt nhớ có lần bị tôi chữi về chuyện đi đêm ở Vũng Tàu, Châu cười hề hà: “Đâu có ngu mậy! Xỉn cách mấy tao cũng đòi ‘áo mưa’ và xỏ vô đàng hoàng…”, nhưng anh nói tiếp ngay: “Con nhỏ nó cười tao, nó nói em đây mới hai mươi tuổi, sống hưởng chưa được bao nhiêu đâu mà em còn mặc kệ SIDA, chết là trời kêu ai nấy dạ thôi. Còn bố già ơi, anh đã hưởng đủ thứ trên đời rồi, có chết SIDA thì cũng đáng rồi, lời quá rồi, còn sợ gì nữa mà hỏi… bao cao su?” Cô gái điếm có cái triết lý chịu chơi đêm đó đã được Châu - con người ham sống, ham vui – bo riêng cho năm chục ngàn, chắc do anh  cảm thấy thích thú có thêm bạn đồng điệu là cô gái điếm về kiểu suy nghĩ “ trời kêu ai nấy dạ!”. Còn tôi, sau này thì được một chút an ổn rằng thật may mắn, bạn mình đã không đến nổi phải gục ngã một cách chua xót, ô nhục bởi HIV/AIDS.

Xưa nay, hẳn là ở địa phương nào trong nước cũng có nhưng riêng ở các vùng quê Nam bộ, tôi đã phải chứng kiến hoặc ghi nhận được, rằng có quá nhiều trường hợp các ông  - từ dân nát rượu cho đến người hiền lành – bị dính bệnh nặng hay chết một cách  không-đáng-chết bởi những chứng bệnh nào phải là nan y, hết cách chữa, thuốc chữa nếu phát hiện sớm kịp thời. Tất cả thường chỉ vì sự dốt nát cùng sự trây lười, mơ hồ ỷ lại và kiểu trì trệ nước-tới-chân-mới-nhảy.
Về bệnh đục thủy tinh thể chẳng hạn. Thường xuyên làm việc ngoài nắng bụi, nhưng bảo phải dùng kính mát thì mấy ông sợ lướng vướng, sợ dễ làm mất và sợ tốn tiền. Cứ gọi lẫn lộn là “cườm khô” với “cườm nước”, rồi đến lúc đã bị những báo động như mờ mắt, ảo thị, chảy nước mắt sống, mọc mộng thịt… thì mấy ông cho đó là do tuổi già. Bác sĩ bảo đã đến lúc phải giải phẫu mắt, thay thủy tinh thể nhân tạo, mỗ một mắt xong phải chuẩn bị mỗ luôn mắt kia.v.v…, thì quí ông ngại mất công và tốn tiền, chỉ muốn chữa trị sơ sài. Đến lúc mù hẳn thì mấy ông có thấy được hậu quả gì nữa đâu? 

Còn chuyện uống rượu quá nhiều và thường xuyên, ăn uống thì thất thường – bợm nhậu “chỉ uống không ăn” thường bị suy dinh dưỡng y như con nít vậy – dẫn tới bệnh đau bao tử  khó chữa và bệnh xơ gan cổ trướng khó sống. Hình như ông bợm rượu nào cũng biết ít nhiều về những hậu quả và nguy cơ này, nhưng cứ lì lợm xem thường, đồng thời lười biếng sửa đổi lối sống để phòng tránh bệnh tật. 

Lại có thêm một thánh tử đạo cho cái tôn giáo “kệ, tới đâu thì tới!”, ấy là Châu. Học lực đệ nhị ban C, cộng thêm tánh ham đọc sách báo, tạp chí đủ loại, có thể cũng tạm đủ cho bạn tôi hiểu biết tối thiểu về các bệnh tật đe dọa dân nhậu. Nhưng phải chăng do nghèo khốn lâu năm cùng tâm lý sống biết-ngày-nào-hay-ngày-nấy cố hữu đã khiến anh mất ý thức về việc chăm sóc bản thân?

Điều khiến cho tôi bức xúc, đau xót nữa là, cũng giống như nhiều quí ông khác, Châu đã bệnh và chết trong lúc có tiền, thừa tiền để phòng bệnh và chữa bệnh. Khi bác Sáu Tí mất, anh đã bán một, hai trăm mét vuông để lo tang ma, mộ phần cho cha và sửa sang lại căn nhà cho mẹ anh. Vậy mà từ khi đã nhuốm bệnh, nếu không sẵn có tiền mặt  hay vài chỉ vàng để đi chữa trị ở Sài Gòn thì Châu cứ bán tiếp một, hai trăm mét vuông nữa,  đã hết 2000m2 đâu?  Giá đất có lên tới trời cũng đâu bằng giá trị của sức khoẻ và mạng sống, để đến nỗi chết tức tưởi trên số tài sản gần bạc tỷ?  Đó là chưa nói đến những thương tổn đã có về mặt tâm hồn. Châu đã mơ hồ gác qua một bên chữ Tâm thuần khiết, lãng mạn của nhà thơ một khi cứ để cho chữ Thực,  óc thực dụng của anh thư ký xã dẫn mình vào những tính toán, tranh thủ mớ đất đai, của cải, mưu cầu lợi lộc một cách thiếu trong sáng. Và đành phải nói là “hư hõng” khi nhà thơ có bản chất nhân hậu lại để mình bị cuốn theo kiểu ăn chơi, hưởng thụ vật dục. Trong căn nhà đơn sơ 4mx10m, Châu vẫn sống bình dị, chia sẻ những bữa cơm đạm bạc với người vợ gần 40 tuổi và đùa giỡn với đứa con trai chỉ mới 6 tuổi. Nhưng trong những quán bia ôm thì Châu lại đánh mất con người mình, a dua theo những gã đàn ông dốt nát, đầu óc rỗng tuếch, chỉ biết sống theo ham muốn bản năng.

Điều quí giá được thừa nhận là khi từ bỏ cõi đời, Châu cũng kịp để lại chút của cải cho vợ con, cho mẹ cùng các em mình. Anh được chôn trong mảnh đất nhà, bên cạnh phần mộ bác Sáu Tí, gần gốc cây mít mà trong một thời cùng khổ, chúng tôi đã chia xẽ những xị rượu chán chường, bất đắc chí… Tôi tin rằng khi đã về cõi vĩnh hằng, không hệ lụy đất đai, của cải, rượu chè… gì nữa, Châu sẽ “sống” chân phương trở lại bằng tâm hồn nguyên thủy tốt đẹp của mình – cái Tâm cao quí, đích thực của một nhà thơ./.

KÝ-ỨC VỀ NHẠC-SĨ CHÂU KỲ (*)

Written By kinhtehoc on Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012 | 00:34



KÝ-ỨC VỀ NHẠC-SĨ CHÂU KỲ (*) 
Bài của Lê Xuân Nhuận
Thuở nhỏ, tôi thường được bà dẫn đi qua rạp hát bội An Cựu, sau chợ An Cựu (thuộc Phường Phú-Nhuận, Thành-Phố Huế) để xem "hát bội".
Trình-diễn hầu như thường-trực tại đây là Đoàn "Kim Sanh", một đoàn cải-lương "cải-lương", nghĩa là "cải-lương Nam-Kỳ" nhưng theo lối Huế (đối-thoại cũng như hát theo các điệu cải-lương Miền Nam mà dùng thổ-ngữ Huế và giọng Huế).

Nhớ Cổ Mai Trang



Nhớ Cổ Mai Trang

Lê Hoài Nam


 
Thành phố Nam Định có một địa chỉ mà hầu như tất cả những ai có một chút hiểu biết về lịch sử và văn chương đều biết, đó là ngôi nhà số 7 (cũ), phố Bến Ngự, còn có tên là Cổ Mai Trang. Đây là ngôi nhà của gia tộc cụ Tam nguyên Trần Bích San.

Người gom nhặt, chôn cất thai nhi.





Người gom nhặt, chôn cất thai nhi. Lê Hoài Nam
Cùng trong một huyện Nghĩa Hưng, từ thị trấn Liễu Đề nơi phần lớn gia đình tôi đang sinh sống đến thôn Quần Vinh, xã Nghĩa Thắng nơi sinh ra và dung dưỡng một con người đầy ấn tượng tên là Vũ Ngọc Bao

lớp học đầu đời

Written By kinhtehoc on Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012 | 23:51


Những lớp học đầu đời


Đỗ Đình Tuân

Mẹ...

Mẹ... Bích Phượng
"Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một như đường mía lau
Mẹ như bể rộng trời cao
Ngọt dòng suối mát sáng sao chín tầng."
(Dáng mẹ hiền - Việt Hải)
Tình mẹ là biểu tượng thiêng liêng cao đẹp nhất, truyền thống thờ mẹ kính cha đã in sâu vào tâm hồn của người dân Việt và văn hóa dân tộc Việt Nam. Người dân Tây phương có ngày lễ Hiền Mẫu, tổ chức vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5 dương lịch...Cũng như người dân Việt Nam có ngày lễ Vu Lan để tỏ lòng kính yêu người thân mến nhất trên đời, tức là người Mẹ của chúng ta.
Mẹ là tất cả, là những gi ngọt ngào và trân quý nhất ...Từ lúc cất tiếng khóc oa oa chào đời đến lúc thân xác trở về với cát bụi, không ai có liên hệ mật thiết và dịu dàng với ta cho bằng Mẹ. Không ai yêu thương và chăm sóc ta cho bằng Mẹ. Mẹ cưu mang ta chín tháng mười ngày, mang nặng đẻ đau, nâng niu bú mớm vỗ về yêu thương...
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chày thức đủ năm canh
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương
Ca Dao Việt Nam
Mẹ vui với niềm vui của con thơ, đau đứt cả ruột gan mỗi khi chăm sóc con trẻ ốm đau, Người vui trong cái vui nhỏ bé nhất, đau khổ trong cái khổ đau lớn nhất ...Suốt cuộc đời, đời mẹ đã gắn liền với đời con...Mẹ là dòng suối trong, là bóng mát dịu êm che chở và nuôi nấng ta lớn khôn, là chốn ta tựa nương tháng năm... Chỉ có trong vòng tay yêu thương của mẹ ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, thơm nồng nàn như "chuối ba hương", dịu như "xôi nếp một" và đậm đà ngọt lịm như "đường mía lau".
Mẹ, Mẹ là lọn miá ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm mương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời...
(Bông hồng cài áo - Thích Nhất Hạnh)
Mẹ là tình thương . Tình mẹ là nguyên thủy , là cội nguồn của mọi tình cảm thương yêu. Như dòng nước trong nguồn chảy ra, tình mẹ là bất tận. Mẹ yêu thương con, vô bến bờ, vô điều kiện. " Không có tình yêu nào hơn được tình của người thí mạng vì người mình thương. Đây mới là cách dựng xây tình yêu đích thật, bằng hy sinh quên mình " . . Trái tim mẹ chan chứa tình người, hy sinh, chịu đựng, sẳn sàng cho đi mà chẳng bao giờ chờ hồi đáp lại ...
Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào,
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.
Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu.
Tình Mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ.
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ.
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.
Thương con thao thức bao đêm trường,
Con đà yên giấc Mẹ hiền vui sướng biết bao.
Thương con khuya sớm bao tháng ngày.
Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn.
Dù cho mưa gió không quản thân gầy Mẹ hiền.
Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền.
Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm.
Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên...
(Lòng Mẹ - Y Vân)
Mẹ là vị giáo sư đầu tiên dạy cho ta biết thế nào là yêu thương, biết thể hiên tình yêu và cảm nhận tình yêu... Tục ngữ Việt nam có nói: "mất mẹ liếm lá đầu đường" ...Không có mẹ trái tim ta trở nên khô héo vô tình...
Mẹ là Thơ.Trong ngôn ngữ thi ca của thế giới, dân tộc nào cũng có những vần thơ chứa chan tình mẹ.
Only One
Hundreds of stars in the pretty sky;
Hundreds of shells on the shore together;
Hundreds of birds that go singing by;
Hundreds of bees in the sunny weather.
Hundreds of dewdrops to greet the dawn;
Hundreds of lambs in the purple clover;
Hundreds of butterflies on the lawn;
But only one mother the wide world over.
George Cooper (1820 - 1876)
Mẹ chỉ một mà thôi !
Trên trời lấp lánh hàng trăm vì sao
Dưới biển trăm ngàn ốc đảo xinh xắn
Hàng trăm loài chim đua hót cùng nhau
Trăm chú ong thảnh thơi bay trong nắng
Trăm giọt sương mai chào đón ngày mới
Hàng trăm cừu non nhởn nhơ trên đồi
Trăm con bướm lạ đùa vui bay lượn
Nhưng trên đời, mẹ chỉ một mà thôi!
(Diễm Vi phỏng dịch)
Mẹ là kết tinh, là nguồn sống của tất cả những thiên anh hùng ca, những đại sử thi, những trường thiên tình sử và cả trong những vần thơ đường thi đơn sơ, thâm thúy. Thế giới Đường thi là một thế giới huyền thoại thần tiên thoát tục, phong phú, đa dạng, bát ngát, vô biên, vô tận...Những bài thơ Đường Thi thường đậm nét trung- hiếu - nhân- nghĩa...Nhà thơ thời Trung Đường Mạnh Giao đã vinh danh hình ảnh người mẹ hiền qua bài " Du tử ngâm " :
DU TỬ NGÂM
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
Mạnh Giao
KHÚC NGÂM CHO ĐỨA CON ĐI XA
-Bản dịch của Trần Trọng San:
Mẹ hiền sợi chỉ cầm tay
Khâu lên tấm áo trước ngày con đi
Đường kim khăng khít chinh y
Sợ con chậm trễ không về lại ngay
Ai rằng tấc cỏ lòng này
Mà đền đáp nỗi ánh trời ba xuân?
Bản dịch của Trần Trọng Kim
Mẹ từ sợi chỉ trong tay
Trên mình du tử áo may vội vàng
Sắp đi mũi chỉ kỹ càng
Sợ con đi đó nhỡ nhàng trễ lâu
Chút lòng tấc cỏ dễ đâu
Bóng ba xuân đáp ơn sâu cho người
Hình ảnh người mẹ già chịu đựng đớn đau một đời như những bà mẹ Việt Nam, trong cảnh khói lửa triền miên ly loạn, giữa tang thương đổ nát điêu tàn, lặn lội nắng mưa, gánh nặng vai gầy sương gió, lưng còng lam lũ nhọc nhằn, chua xót đau quặn thắt ruột gan khi những người con du tử của Mẹ ra đi bảo vệ giang sơn gấm vóc, như những cánh chim bạt gió bay đi không hẹn ngày về...Mẹ già ngồi khâu chiếc áo nghĩa tình, gửi từng sợi nhớ sợi thương vào từng mũi chỉ đường kim, thầm mong manh áo có thể đủ sưởi ấm thân con trên con đường lưu lạc viễn xứ tha phương nơi đất khách quê người.
Mẹ là câu ca dao, là tiếng hát ru hời. Từ khi còn nằm nôi, lời ru của mẹ dắt dìu con thơ chập chững vào đời.
Gió mùa thu mẹ ru mà con ngủ
Năm (ơ) canh chày,
Năm (ơ) canh chày, thức đủ vừa năm
Hỡi chàng chàng ơi, hỡi người người ơi
Em nhớ tới chàng, em nhớ tới chàng
Hãy nín nín đi con, hãy ngủ ngủ đi con
Con hời là con hỡi, con hỡi con hời
Con hỡi con hời, hỡi con!
(Ru con- Dân ca Nam Bộ)
Hình ảnh người mẹ hiền đong đưa võng, ru con trong những buổi trưa hè oi bức hay trong những đêm trường, vò võ thức đủ năm canh cho ta thấy tình yêu của mẹ sâu diệu vợi, bao la như biển cả, êm ả như tiếng sáo chiều thu, ngọt ngào như cơn mưa đồng nội:
Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn, đong đưa võng buồn
Mẹ ngồi ru con mây qua đầu ghềnh, lạy trời mưa tuôn
Lạy trời mưa tuôn cho đất sợi mềm hạt mầm vun lên
Mẹ ngồi ru con nước mắt nhọc nhằn xót xa đời mình
Trịnh Công Sơn

Tình mẹ như hơi thở sưởi ấm lòng các con trong những ngày lữ thứ xa quê hương. Trên bước chân phiêu dạt xứ người, thời gian âm thầm trôi qua những tháng ngày phiền muộn nhớ thương, tưởng nhớ về mẹ luôn âm ỉ trong lòng từng đứa con du tử
Thấm thoát ra đi mấy độ rồi
Nhớ về quê mẹ mãi không thôi
Bao năm xa vắng lòng ray rứt
Nấc nghẹn tuôn trào lệ đắng môi
Mẹ ơi, con yêu nhớ mẹ nhiều
Âm thầm lăng lẽ dạ xót xa
Phố lạ gi ờ đây con lỡ bước
Lẫn thẫn lang thang mỗi sớm chiều...
(Nhớ mẹ - thơ VK)
Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Có bao giờ ta quên được những nụ cười hiền hoà, những ánh mắt trìu mến của Mẹ đã dành cho ta? Cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay, trái tim chúng ta sẽ vẫn còn rộn ràng xúc động khi nghe tên Mẹ, vì mẫu tử là tình yêu vĩnh cửu. Tất cả đều là hiện thân của mẹ.
Cám ơn mẹ đã là mẹ của con và đã yêu thương con... Giờ đây con cũng đã là mẹ , con đã hiểu thế nào là tấm lòng của mẹ . Nơi phương xa, con thành tâm dâng về mẹ lời nguyện chúc bình an...Con gái vẫn yêu mẹ suốt đời!
Mẹ chờ con gái đã lâu
Lấy chồng xứ lạ đêm thâu nhớ nhà
Bây giờ ở xứ người ta
Nguyện cầu cho mẹ tuổi già bình yên...
(Nửa đêm nhớ mẹ - thơ Việt Hải)
Bích Phượng
Viết tại Paris, ngày 14/5/2006

ĐƯỜNG VỀ KINH THÀNH HUẾ



ĐƯỜNG VỀ KINH THÀNH HUẾ

Bài và ảnh Võ Quang Yến





Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu











Orsay, một thị trấn ở miền nam Paris, phía bắc thung lũng Chevreuse, rất có duyên với Việt Nam vào mùa thu. Năm 1994, vào thời Đại học Orsay kết nghĩa với hai Đại học Tp Hồ Chí Minh và Cần Thơ, thị xã tổ chức cả một tuần Việt Nam với sự tham dự của nhiều nhà kinh tế học, nghệ sĩ, họa sĩ, võ sĩ, nhạc sĩ đứng đầu có anh giáo sư Trần Văn Khê. Năm 2002, chị Hỷ Khương, nhân chuyến đi Đức để giới thiệu vở Đông Lộ Địch của thân phụ cụ Ưng Bình, trên đường về có ghé lại Phật đường Khuông Việt ở Orsay để gặp gỡ bà con bạn bè trong một buổi văn nghệ hào hứng. Huế nay lại có mặt ở Orsay hôm chiều chủ nhật 15 tháng 11 năm 2009, ở nhà hát Jacques Tati, trong một chương trình rất hấp dẫn Đường về Kinh thành Huế (La Route vers la Cité Impériale de Hué). Đứng ra tổ chức là nhóm Nhóm Văn hóaCổ truyền Nhạc học và Giáo dục (OCTAVE : Orsay Culture Musique Tradition Association Vietnam Education) dưới sự hướng dẫn của cô Đỗ Duy Nguyệt Ánh, nghệ sĩ đàn tranh. Cô Nguyệt Ánh làm thư ký ở văn phòng khoa Bộ gien Tế bào Phát triển Tiến hóa GCDE ở viện Đại học Orsay tức Paris-Nam 11, có anh chồng làm giáo sư ở Đại học. Anh chị định cư đã hơn 40 năm ở Pháp, có ba con gái, đều biết nói tiếng Việt và chơi được nhạc cụ dân tộc. Đấy là một cách để các con không quên cội nguồn và thừa kế những nét tinh hoa của văn hóa dân tộc. Sống ở đất khách mà tập được cho các con như vậy là một nổ lực phi thường của cha mẹ. Anh chị nghĩ đúng là phải có một tổ chức tại hải ngoại để dễ thực hiện cuộc duy trì văn hóa cho thế hệ sau.



Nguyệt Ánh




Octave ra đời cách đây hai năm với hai tôn chỉ : khuyến khích nền văn hóa Việt Nam ở Orsay với một chương trình ngày càng mở rộng, đàn tranh, tiếng Việt, gia chánh ẩm thực,... ; xích lại gần nhau hai nền văn hóa Pháp và Việt qua những cuộc biểu diễn, những hoạt động văn nghệ. Đến nay, nhóm đã thực hiện nhiều cuộc biểu diễn ở Orsay (Ngày văn hóa, Nhà người già, Hòa nhạc jazz), Taverny (Nhà trong xóm, Ngày phụ nữ), Châtou (Nhạc viện), Paris (Trường Trung học La Fontaine, Trà đạo Hàn Quốc), Antony (40 năm Phượng ca), Villebon (Giờ kể chuyện xưa). Có thể xem nhóm là một nhánh của Đoàn Phượng ca Dân ca Quốc nhạc mà người thành lập là chị Phương Oanh, thầy dạy đờn tranh Nguyệt Ánh từ mười năm nay. Học sinh đông đúc đến từ bốn phương trời : ngoài người Việt còn có người Pháp, Bồ đào Nha Tây Ban Nha, Nhật bản,...chứng minh sự thành công của một hội đoàn đế cao cởi mở và tìm hiểu lẫn nhau. Ngoài ra, Octave còn dấn thân vào những hoạt động nhân đạo và xã hội qua cuộc liên lạc trực tiếp với Việt Nam : dự định học bổng cho học sinh tiểu học, cho sinh viện đại học và Khoa nhạc cổ truyền Việt Nam của Nhạc viện Nhạc học Tp Hồ Chí Minh. Cuối năm 2009, cô Nguyệt Ánh đã có về Tp Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 5 năm thành lập Câu lạc bộ Tài tử Cải lương.



T.Thu - Quế Lan Gaëlle - T.Thu


Chương trình buổi trình diễn Đường về Kinh thành Huế gồm có ba phần : hai phần đầu và cuối dành cho ca nhạc, phần giữa là chiếu ảnh. Trong khoảng hai tiếng đồng hồ, nhiều màn phong phú với toàn nhạc Huế đã lôi kéo khán giả về với đất Thần kinh : Lý mười thương, Ai ra xứ Huế, Thương về miền Trung, Tiếng sông Hương, Đăng đàn cung, Lý Nam sang, Lý Giang nam. Các cô xướng ngôn viên (T.Thủy, Quế Lan, Gaëlle, Hoàng) măc áo vàng, trong ban hợp tấu, ngoài anh Nguyễn Toàn một mình áo xanh chơi đàn bầu và ba người bạn ngoại quốc mặc Âu phục thổi sáo hay đàn dương cầm, hầu hết các cô các bà sử dụng đàn tranh (theo tờ chương trình) : Solène, Giáng Minh, Như Mai, Thu Nga, Quế Lan, Anh Đào, Hisako, Ngọc Oanh, Hiếu Thanh, Ti Ly, Nguyệt Ánh, đều mặc áo quần đủ màu trắng, vàng, đỏ, tím, đầu mang khăn vàng hoàng cung. Đây là cái khăn quen thuộc tôi được ngắm sáu, bảy chục năm trước trong Đại nội thành Huế, đi đôi với những áo rộng thêu rồng, vẽ phượng, bây giờ khắp Trung, Nam, Bắc, ở trong nước cũng như ở nước ngoài, đoàn ca nhạc nào cũng sử dụng, ghép với chiếc áo dài thướt tha không cùng màu thấy không đúng điệu (*). Tôi còn nhớ lúc trước đức Nam Phương chỉ chít có một cái khăn mỏng manh mà biết bao lịch sự. Buổi hòa nhạc mở đầu với hai bản Hành quân và Đăng đàn cung, tiếng đàn tranh rầm rập cùng nhau cho thoát ra một sức mạnh của vương triều. Trong trí tôi hiện ra hình ảnh đức vua mặc triều phục thong thả, bệ vệ bước lên ngai vàng, trước mặt bá quan văn vỏ nghiêm chỉnh cúi đầu sắp hàng trên sân rồng thiết đại triều nghi trước điện Thái hòa.
Sông càng rộng càng cao
Thời núi càng cao
Nhìn non nước
Nhẹ bước anh hào...







Tiếp theo là hai màn đàn tranh song và độc tấu. Hai cháu Solène và Giáng Minh trình diễn bài Em bé quê của Phạm Duy. Tuy còn trẻ, hai cháu đã tỏ ra rất khéo léo trong cách chơi. Cũng dễ hiểu khi biết Giáng Minh có thầy dạy ngay trong nhà. Ai đã sống thời trẻ bên nhà mà không biết bài hát nầy, nhất là hai câu đầu trong sách Tập đọc thời tiểu học.
Ai bảo chăn trâu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chứ
Ngồi mình trâu phát ngọn cờ lau
Và miệng hát nghêu ngao...

Đến lượt Nguyệt Ánh trổ tài với hai bản Lý Nam sang và Lý Giang nam. Cô là một trong những tay đàn tranh đang được nói đến ở Paris. Tiếng đàn thánh thót diễn tả bản sắc riêng của điệu lý Thừa Thiên (khác với lý Quảng Trị và không có ở Quảng Bình), một sản phẩm của nền ca nhạc truyền thống, chịu ảnh hưởng của nhạc thính phòng, rất gần với ca Huế về cả tiết tấu lẫn âm điệu. Âm nhạc của lý rất phong phú, tinh tế, trầm lắng nhưng cũng ríu rắt, có khả năng thể hiện tâm tình trìu mến, giận hờn, vui mừng cũng như đau khổ. Những câu
Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay xa

là lời của điệu lý Giang nam nhưng cũng thường được gọi là lý Con sáo tùy những câu đệm "hư hư hư a sang sông sang sông" hay "ơi người ơi". Điệu lý Nam sang (ở Huế nói xang) cùng với điệu lý Giang nam là hai trong số 30 điệu lý đã được thống kê ở Thừa Thiên - Quảng Trị (Dân ca Bình Trị Thiên - Tôn Thất Bình ; Ca huế và Ca kịch Huế - Văn Lang).



Sébastien Bidon, Bertrand Bidon, Nguyễn Toàn Solène, Giáng Minh




Vẫn ở trong địa hạt các điệu lý, cô Thu Thủy trình bày bài lý Mười thương. Như thiếu nữ Huế thời xưa, áo dài sát đất, một màu vàng lạt, tóc xỏa ngang vai, tay mang nón lá, Thu Thủy duyên dáng liệt kê những vẻ đẹp của cô gái Huế đã làm mê mệt mấy chàng trai, nhất là các cậu "học trò trong Quảng ra thi, thấy o gái Huế chân đi không đành". Đệm cho cô hát có Nguyệt Ánh đàn tranh, Sébastien Bidon và Bertrand Blondet thổi sáo.
Một thương tóc bỏ ngang vai,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên,
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua...

Mười thương chưa đủ nên một bài Mười thương thứ nhì Ký tên Phạm Đình Chương được sáng tác để kéo dài bài thứ nhất. Sau đó còn có nhiều bài Mười thương khác chẳng hạn để đề cao một nhân vật,...Sau cùng cách đây vài tháng một loại bài khác nữa gọi là Mười thương thời "hiện đại " (vô danh) ra đời, không còn chút màu sắc Huế nào.



Hoàng Thu Thủy




Màn tiếp sau trình bày một ngày chợ trình bày nhiều chi tiết mà một người khách du lịch có thể mang về sau một vòng quanh Việt Nam : quang gánh, rau quả, ông đồ,...và tấp nập khách hàng, con trẻ, trai gái, bà già,...

Trước giờ giải lao có chiếu hình Huế. Tôi hân hạnh đuợc mời viết bài thuyết minh. Một dịp để giới thiệu thành phố thân yêu của mình, tôi nhận lời ngay và suốt mùa hè cặm cụi trau dồi một bài gợi cảm nhan đề Dọc dòng sông Hương (Au fil de la Rivière des Parfums), minh họa với những hình ảnh tôi đã chụp, trong tinh thần trình bày một kinh thành mộng mơ, một "kiệt tác của nền thơ đô thị" (M'Bow, UNESCO) như tôi thường đã có dịp làm trước đây. Nhưng ban tổ chức, với thiện ý muốn cho khán giả biết rõ ràng thành phố, đã thêm vào hình ảnh, chú thích, làm mất mát tinh thần gợi cảm ban đầu của tác giả. Âu cũng là một cách giới thiệu đất nước Hương Bình quê tôi. Một số hình ảnh Huế của tôi cũng được chọn lọc để triển lãm.








Trở lại sân khấu, cô Huỳnh Mai trình diễn một điệu múa trên bản nhạc Ai ra xứ Huế của Duy Khánh. Cô mặc áo dài xanh, một dãy hoa thêu dọc trên tà áo, tay mang nón lá, trên vai quấn một khăn quàng vàng dài bay lượn với cô trong các động tác khi đứng, khi quỳ, tay đưa lên trời hay dang rộng lên hai bên. Với một nụ cười luôn nở trên môi, cô vui vẻ hết lòng mời bạn về lại chốn sông Hương núi Ngự.
Ai ra xứ Huế thì ra
Ai về là về sông Hương
Nước sông Hương còn vướn chưa cạn
Chim núi Ngự tìm bạn bay về...

Được một cô gái có sức quyến dũ như vậy làm sao mà không về được. Nhất là trong màn sau, song tấu tranh Nguyệt Ánh và sáo Sébastien Bidon (hay nói cho đúng tam tấu vì còn có bầu Nguyễn Toàn) cho thưởng thức một cảnh tượng khó quên của sông Hương lúc hoàng hôn, một miền có nắng hạ giữa mùa thu, một vùng mây khắp trời giữa mùa xuân.
Hoàng hôn rơi ngơ ngẩn hàng thùy dương
Lạnh lùng trong bóng chiều dòng sông Hương
Trường Tiền qua mấy nhip mờ trong sương
Ngỡ ngàng khách thấy hồn buồn mênh mang...




Nguyệt Ánh Huỳnh Mai




Hai bài đơn ca cuối cùng là do Ti Ly trình diễn qua tiếng đàn đệm Nguyệt Ánh tranh và Nguyễn Toàn bầu : Thương về miền Trung của Minh Kỳ và Thần kinh thương nhớ của Thế Minh. Ti Ly vui tươi sặc sỡ trong chiếc áo tím rất Huế, làm tôi tưởng nhớ đến một thời kỳ trai trẻ ngắm các cô nữ sinh Đồng Khánh vui vẻ nắm tay nhau qua cầu Trường Tiền hay nhẹ nhàng níu nhau nhảy xuống đò Thừa Phủ tròng trành, khúc khích cười sau mấy chiếc nón bài thơ. Cô em trách người ít về thăm
Đã lâu rồi không về miền Trung thăm người em
Nắng mưa đêm ngày cách trở giờ xa xôi đôi đường
Người ơi có về miền quê hương thùy dương
Nước chảy còn thương bao tình thương cho nhắn đôi lời...

Và ngược lại ngưòi cũng trách em không hay về lại
Sao em không về lại thăm miền Trung
Thăm đồi đỉnh Ngự và nước Hương Giang
Ngày nào đôi đứa đôi đuờng
Lòng anh thương nhớ vô vàng
Mong anh mấy mùa thu sang...




Ti Ly Phương Oanh




Hai màn sau cùng dành cho Phương Oanh từ đoàn Phượng ca. Phương Oanh bắt đầu tam tấu một bản đàn tranh với dương cầm Niels Lan Do Ky và sáo Bertrand Blondet. Chị cũng mặc chiếc áo một màu tím giản dị không thêu thùa, màu tím đơn sơ (Màu áo tím đơn sơ, Bay dài mây núi Ngự - Đinh Phong), màu tím thời gian (Màu thời gian không xanh, Màu thời gian tím ngát - Đoàn Phú Tứ) , màu tím Chiêm Thành một thuở. Cùng chơi với nhau những nhạc cụ Âu Á, khi biết chọn bài và biết sử dụng thì chắc chắn cho phát sinh những bản hòa tấu tuyệt diệu, êm tai. Đây là mong muốn của Phương Oanh luôn ôm ấp giữ gìn nguồn nhạc dân tộc trong một môi trường Âu tây luôn khuyến khích đổi mới. Sau đó, cùng với toàn thể các ca sĩ, nhạc sĩ, chị cho thính giả thưởng thức bài ca Tiếng sông Hương của Phạm Đình Chương mà chị yêu cầu cùng hát.
Miền Trung vọng tiếng
Em xinh em bé tên là Hương giang
Đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than
Hò ơi, phiên Đông Ba buồn qua cửa chợ
Bến Vân Lâu thuyền vó đơm sâu
Hỡi hò, hỡi hò...

Khán giả không lầm, vừa vổ tay đánh nhịp vừa hát theo những câu hát gần như quen thuộc dù trong phòng không chỉ có người Việt, còn người Huế thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Kết thúc một chiều Huế với bài hát Tiếng sông Hương thì không có gì đúng điệu bằng. Dù không có Nam ai, Nam bằng ai oán, vài điệu hò Huế quyến rũ thân thương, khán giả đã sống mấy giờ hân hoan trong nền ca nhạc Huế. Cám ơn Octave, tuy chỉ là một nhóm văn hóa nhỏ, phương tiện ít, đã có cố gắng tổ chức một chiều Đường về Kinh thành Huế thành công ở thị trấn Orsay xa xăm nầy.







Xô thành xuân Canh Dần 2010
Tạp chí Sông Hương số đặc biệt 2010
(có sửa chữa và bổ túc hình ảnh)




(*) Trong cuộc triển lãm báo Xuân ở Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp vào dịp Tết Canh Dần vừa qua, tôi vui mừng nhận thấy trên trang bìa mấy chục tờ báo đại diện cho hầu hết các tỉnh trong nước, phần lớn các cô đều mặc áo dài không màu sắc sực sỡ thêu vẽ rườm rà, không khăn mũ hoàng cung vành rộng chói lọi. Khăn mũ nầy có thể xem như đã được thả về quá khứ, chỉ sử dụng ngày nay ở các lễ hội lập lại tích xưa hoặc trong tinh thần folklore mua vui khách du lịch, qua ống kính mừng tưởng đã ghi chụp được một di tích quá khứ truyền thống xác thực.

SÀI GÒN, một mùa hè 2010

Written By kinhtehoc on Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012 | 23:25

SÀI GÒN, một mùa hè 2010

Anthony DUCOUTUMANY

Nguyễn Bảo Hưng dịch Việt
Ta quen dùng thành ngữ " con tạo xoay vần " để nói rằng không có gì ở đời là bất biến, rằng vạn vật đều phải thay đổi, phải tiến hóa, phải biến đổi. Vậy thì dù là lục địa, xứ sở, đô thị hay dân cư cũng thế thôi. Ngay tự khởi thủy, thế giới cũng đã biến hóa, và Á Châu cũng không thoát khỏi qui luật này. Trái lại : chính nó mới là lục địa tiến hóa nhiều nhất trong mấy thập niên qua và đã làm thay đổi trật tự thế giới.
Việt Nam, con rồng nhỏ bé của vùng trời Thái Bình Dương, có lẽ là xứ sở biến đổi mau lẹ nhất, cũng như Trung quốc lân bang hùng mạnh của nó ở phương bắc.
Bước vào niên kỷ 2000, một số người còn xếp Việt Nam vào hàng quốc gia thuộc loại " thế giới thứ ba ", nhưng sang tới năm 2010, Việt Nam lại chính là xứ sở thu hút được vốn trực tiếp đầu tư nước ngoài lớn nhất , theo chỉ số FDI của viện thống kê Forbes. Mai mốt, nếu bạn có ý làm một " tua " viếng xứ này bạn nên chờ đợi bắt gặp những ngỡ ngàng lớn nhất.
Tại miền Bắc, xưa kia gọi lã xứ Tonkin, thủ đô Hà Nội đang rầm rộ chuẩn bị lễ hội kỷ niệm 1000 năm thành lập Thăng Long (Rồng bay lên) mà người có công tạo dựng là vua Lý Thái Tổ. Và năm du lịch toàn quốc 2010 với chủ đề " Thăng long-Hà Nội, hội nguồn niên kỷ " gồm chín chương trình lễ hội và ba mươi sinh hoạt du lịch và văn hóa như " Người Hà Nội đón tiếp bạn bè ", " Năm du lịch xanh ", " Đại hội món ngon Hà Nội ", " Đại hội phố phường nở hoa ", " Đồ gốm Bát tràng - xưa và nay ", và còn nhiều sinh hoạt khác nữa.
Tại miền Trung, với cái tên An Nam xưa hay " Đất Nam an bình ", cố đô Huế, mặc dù hãy còn ngái ngủ, cũng đã có nhiều nỗ lực canh tân cải biến để tham dự vào sự vươn lên của con rồng Việt Nam nhỏ bé.
Nhưng chính miền Nam, cựu Cochinchine, với vùng đô thị Sài Gòn- TP Hồ Chí Minh, mới là đầu tầu cho cuộc phát triển khổng lồ của toàn bộ đát nước Việt Nam.
Từ phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất nơi bạn vừa đáp xuống, và trong chiếc taxi đưa bạn về khách sạn, hẳn bạn đã nhận ngay ra là đoạn đường Nguyễn văn Trỗi-Nam Kỳ Khởi Nghĩa tức Công Lý trước đây, đã được mở tộng hầu như gấp đôi so với lần bạn về thăm vừa rồi. Những người đi xe gắn máy đều đội mũ an toàn và, ồ, phép lạ nào đây! tất cả đều ngừng lại khi có đèn đỏ. Chỉ cần ngước mắt chút xíu, là bạn thấy ngay cái được coi như biểu tượng mới của thành phố, một thứ tháp Eiffel của Sài Gòn. tòa nhà tháp Bitexco Financial Tower. Dù đi tới trung tâm thành phố bằng bất cứ hướng nào, không ai là không nhìn thấy tòa nhà tháp Bitexco Financial Tour cao 300 mét bên bờ sông Sài Gòn, trước cửa nhà hàng Như Lan chuyên làm món ăn mua mang vê và được giới thực khách sành điệu biết đến nhiều nhất. Tòa nhà tháp tối tân này còn có cả một bãi đáp trực thăng, một độc quyền mà các nhà kinh doanh hẳn sẽ đánh giá cao bởi vì về mặt nạn kẹt xe, Sài Gòn không thua gì Bangkok cả. Tòa tháp BFT, khánh thành vào tháng 10 tới, sẽ hạ bệ tòa nhà tháp được coi là cao nhất Sài Gòn tới giờ, tháp Prudential Saigon Trader gần Sở Thú, chỉ cao có 145 mét so với 300 mét của tòa nhà BFT. Xin lỗi tí, đàn em muốn qua mặt cái rụp !
Nhưng mai mốt nếu bạn trở lại đây bạn sẽ thấy là " Tháp Eiffel "Bitexco không còn là tòa cao tấng duy nhất của Sài Gòn : ngay trước chợ Bến Thành, một trong những biểu tượng của Sài Gòn, sẽ mọc lên một cặp tháp đôi và, chính vì vậy, mới được đặt tên là Bến Thành Twin Towers cao " sơ sơ " 200 mét thôi. Chúng do chính hăng Bitexco Land nhận thầu và công trình xây cất sẽ bắt đầu tháng tám 2010 và dự trù hoàn tất vào năm 2012. Sài Gòn, rồi cũng như Shanghai, Hongkong hay Pékin..., sẽ lổn nhổn những tòa nhà chọc trời.
Nếu bạn có ý làm một vòng thăm Chợ Lớn, khu phố Tàu của Sài Gòn, có nhiều khả năng là chiếc taxi sẽ lấy cái trục Đông Tây vừa hoàn tất, " Đại Lộ Đông Tây ", nhằm giúp bạn khỏi bị chết cứng vì nạn kẹt xe không sao tránh được nếu đi theo những con đường khác. Phải chờ tới khoảng 2015-2020 khi các tuyến Métro được khánh thành mới mong giải tỏa được nạn kẹt xe này. Đại Lộ Đông Tây, cũng như con đường dành riêng cho xe hơi dọc theo sông Seine ở Paris, chạy dài theo con kinh Bén Nghé nối liền trung tâm Chợ Lớn với trung tâm Sài Gòn và chạy dưới chân mấy cây cầu mới được tái thiết và hiện đại hóa : trước hết là cây cầu Chữ Y nổi tiếng nhờ bộ phim " Một người Mỹ trầm lặng " phỏng theo cuốn truyện cùng tên mà tác giả GRAHAM Greene bị lối sống Việt thu hút đến độ chỉ chút xíu là xin vô đạo Cao Đài. Kế đến là cây cầu Nguyễn văn Cừ thuộc khu phố Nancy trước đây, nay là khu phố Cầu Ông Lãnh. Đây là cây cầu đưa ta tới các khu phố " sang " ở phía nam : khu phố 7 và Phù Mỹ Hưng là nơi tọa lạc Bệnh Viện Pháp-Việt. Tiếp nữa là cây cầu Calmette đẹp đẽ mới xây đưa ta tới khu phố 4 (tức quận Tư hay Khánh Hội cũ) là nơi nay chỉ tiếp nhận những thành phần dư giả thay vì giới lao động bình dân khiến ta phải sửng sốt vì sự thay đổi bộ mặt xã hội đột ngột của nó... Chặng chót của con lộ dọc theo bờ sông này là Ngân Hàng Quốc Gia và con đường hầm dẫn tới bán đảo Thủ Thiêm là nơi được dự trù sẽ trở thành trung tâm mới của thành phố để giải tỏa cho trung tâm cũ. Thế là dự án được hoạch định trong những năm 60 của thế kỷ trước sẽ được hình thành.
Và giờ đây bạn đã ở dưới chân " Tháp Eiffel Saigon " tức tòa nhà chọc trời Bitexco Financial cao 300 mét tôi đã nói ở trên.

Nếu từ đỉnh tòa nhà cao chót vót làm ta phát chóng mặt này để xuống hòa đồng với sinh hoạt hè phố, bạn sẽ tự hỏi : " Thế còn những người bán hàng rong hèn mọn, những người phu xích lô, tất cả những khuôn mặt đặc thù đem lại duyên dáng cho nếp sống Sài Gòn trước đây, họ đâu rồi? ". Những xích lô đạp nay hầu như đã biến mất do ý muốn của nhà cầm quyền vì cho rằng, chẳng biết đúng hay sai, chúng là tàn dư của hiện tượng chậm tiến hay của chủ nghĩa thực dân. Người ta đã bù cho họ một số tiền để mua chiếc xe Honda rồi tới tăng cường đội ngũ chạy " xe ôm " ngồi đợi ở các góc phố và ra dấu với bạn với hi vọng kiếm được một cuốc xe. Thỉnh thoảng trên đường phố ta cũng bắt gặp, đó đây - nhưng liệu còn bao lâu nữa ?- một vài người bán rong thường xuyên bị cảnh sát rượt bắt vì muốn xua đuổi họ ra khỏi phố phường. Vả lại những vỉa hè nay cũng không còn huyên náo như những lần bạn tới trước đây, khi mà bạn phải len lỏi giữa những gánh hàng rong bày la liệt và những xe gắn máy dựng vô tổ chức. Giờ đây chúng được dựng dọc theo bờ tường thẳng hàng ngay lối, bên này lằn ranh trắng vạch chính giữa vỉa hè. Chủ xe nào vi phạm sẽ bị phạt thẳng cánh 120000 đồng. Thêm vào đó, nhà nước bây giờ có vẻ cũng muốn khuyến khích khách bộ hành đi vào những khoang đường có kẻ dấu dành cho người đi bộ. Với giá rao phạt 80000 đồng cho những ai vi phạm, họ hi vọng sẽ đem lại kết quả.

Nhưng nếu ta đã biết người dân Việt vốn mắc bịnh dị ứng với các qui định thì ta có thê tin rằng điều này khó mà thực hiện.
Cho dù bạn có ưa thích lối sống " xưa " của người Việt, cũng có lúc bạn phải bực mình vì cứ phải mặc cả khi định chọn một món đồ ưa thích. Khi đã mua rồi với giá mà bạn cho là phải chăng, về nhà bạn mới được bạn bè Việt cho biết là bạn đã phải trả đắt gấp ba lần giá họ có thể mua. " Được rồi, bạn tự nhủ, lần sau ta sẽ vào một siêu thị, ở đấy mọi thứ đều ghi rõ giá cả như ở Tây phương ". Một số Việt kiều hay du khách cũng đã làm vậy, thí dụ như tới mua đồ tại Thương xá Tax tức Galeries Charner cũ. Còn như nếu họ trú ngụ tại các khu phố sang phía nam như Phú Mỹ Hưng hay Quận 7, họ có thể tới mua sắm tại Lotte Mart, một khu đại siêu thị Hàn quốc với các gian hàng cửa tiệm làm ta có cảm giác không hề lạc lõng vì đại siêu thị Lotte Mart không thua gì các đại siêu thị Carrefour, Auchan, Champion, Casino... với bảng hiệu ta thường thấy lấp ló ở ven đô các khu đô thị. Đây là dại siêu thi lớn nhất và duy nhất trong nước tới nay. Nhưng giờ đã thay đổi : kể từ ngày 1 tháng bảy 2010 một Lotte Mart thứ hai được khánh thành tại khu EverRich Phú Thọ tức Trường đua Phú Thọ cũ, đối diện với cư xá Lyautey mà một số bạn hẳn cũng có biết.
Chúng ta vẫn biết rằng các du khách ưa chuộng xa hoa thường chọn tới nghỉ mát tại Cannes hay Monaco, đảo Les Bahamas hay miền Bavière hơn là Việt Nam. Nhưng nếu có ai đó trong bọn họ, do tình cờ nào đó, đặt chân tới Viêt Nam thì tại đường Catinat tức Tự Do cũ và nay là Đồng Khởi đã có Vincom Center vừa khánh thành được vài tuần để phục vụ họ. Đây là một trung tâm thương mại đầy cao vọng gồm 27 tầng với 3 tầng hầm và 250 cửa tiệm chuyên bán các mặt hàng xa xỉ. Sao ! Anh vừa nhắc tới Singapore đấy à ?
Vậy thì Việt Nam, xứ sở thuộc Thế giới thứ ba hay đát nước đang mở mang ? Có thể nói hầu như đã phát triển, chỉ cần gắng thêm chút xíu nữa thôi... Con rồng nhỏ bé Thái Bình Dương vậy là nay đã mọc vây cánh rồi, và nếu bạn đến chứng kiến tại chỗ sẽ còn nhiều ngạc nhiên dành cho bạn. Như lời của một nhà báo nước ngoài : " Sài Gòn là thành phố ở đó người ta có thể chết vì đủ mọi thứ chuyện... ngoại trừ vì buồn nản ! "
(Nguyễn Bảo Hưng dịch theo Anthony Ducoutumany)




SAIGON, un été 2010
Anthony DUCOUTUMANY
Nous entendons souvent l'expression " la roue tourne ", lorsque l'on veut signifier que rien n'est immuable, tout change, tout évolue, tout se transforme, et il en va de même des continents, des pays, des villes et des peuples. Depuis le début des temps, le monde se métamorphose, et l'Asie ne fait pas exception, bien au contraire : c'est ce continent qui a le plus évolué depuis ces dernières décennies, changeant du même coup l'ancien équilibre du monde.
Le Vietnam, notre petit dragon de la sphère du Pacifique, est peut être le pays qui se transforme le plus rapidement, à l'instar de son puissant voisin du nord, la Chine.
Au début du millénaire, certains le classaient peut-être encore dans les pays dits du " Tiers monde ", mais en 2010, c'est lui qui attire le plus grand montant des investissements directs de l'étranger, les fameux FDI selon l'indice Forbes. Si vous avez l'intention d'y faire un petit séjour prochainement et si vous n'y êtes pas allé depuis longtemps, vous pouvez vous préparer à un grand nombre de surprises.
Au nord du pays, anciennement Tonkin, Hanoi la capitale fête cette année de façon grandiose l'anniversaire du millénaire de sa fondation en 1010, par le roi Lý thái Tổ, sous le nom de Thăng Long (dragon ascendant), et l'année touristique nationale de 2010, ayant pour thème " Thăng Long-Hanoi, confluent millénaire " comprend neuf programmes et trente activités touristiques et culturelles comme " Les Hanoïens reçoivent chez eux les amis ", " L'année touristique verte ", le Festival culinaire de Hanoi, le Festival des rues florales, l'exposition " les Céramiques de Bát Tràng - tradition et présent ", et bien d'autres festivités encore.
Dans le centre du pays, ex Annam le " sud pacifié " Huế l'ancienne capitale impériale, bien que passablement assoupie, passe aussi par son lot de métamorphoses pour se moderniser, participant à sa façon à l'éclosion du petit dragon vietnamien.
Mais c’est au sud du pays , l’ancienne Cochinchine, où nous trouvons la mégapole Saigon - Hồ chí Minh Ville qui est la vraie locomotive du formidable développement vietnamien, entrainant derrière elle la totalité du pays.
Depuis l'aéroport international de Tân sơn Nhất où vous aurez atterri, et dans le taxi vous emmenant à votre hôtel, vous remarquez déjà que la rue Nguyễn văn Trổi - Nam Kỳ Khởi Nghĩa ex Công Lý, a été bien élargie depuis votre dernière arrivée ici, doublant pratiquement sa largeur. Les motocyclistes portent tous un casque, et ô miracle, s'arrêtent bien aux feux rouges ! Si vous levez un peu les yeux, vous ne pouvez pas manquer de voir le nouveau symbole de la ville, sa tour Eiffel en quelque sorte. De quelque direction que l'on arrive vers le centre-ville, on ne peut pas ne pas remarquer cette tour de 300m, la Bitexco Financial Tower, sur le bord de la rivière de Saigon, devant Như Lan, le traiteur le plus connu de Saigon, pour vous les gourmets -gourmands. Cette tour ultra moderne dispose même d'un héliport, son exclusivité, que les hommes d'affaires pressés apprécieront, car Saigon n'a rien à envier à Bangkok concernant les embouteillages. La BFT sera inaugurée en octobre, détrônant ainsi l'ancienne plus haute tour de Saigon, la Prudential Saigon Trade Center près du Jardin Botanique, seulement 145m contre ses 300m, excusez du peu !
Mais si vous venez plus tard, la Bitexco " Tour Eiffel " ne sera plus seule dans les hauteurs saïgonnaises : juste devant le marché central, un des symboles de la ville, vont se dresser des tours jumelles baptisées justement Bến Thành Twin Towers, s’élevant " seulement " à 200m. Elles seront construites par la même entreprise Bitexco Land, les travaux commenceront en août de cette année 2010 et sont censés finir en 2012. La ville de Saigon va devenir comme Shanghai, Hongkong ou Beijing...hérissée de gratte-ciels.
S’il vous prenait l’envie d’aller faire un tour à Cholon la ville chinoise de Saigon, il est probable que votre taxi empruntera le tout nouvel axe Est Ouest, " Dai Lo Dong Tay " pour gagner du temps en contournant les embouteillages quasi inévitables, en attendant que les lignes de Métro prévues à l’horizon 2015 - 2020 soient mises en service. Cette voie sur berge à la parisienne longe les arroyos Kinh Bén Nghé et ex Arroyo Chinois, joignant le centre de Cholon au centre ville saigonnais,
passant aux pieds de nouveaux ponts récemment reconstruits et modernisés : le fameux Càu Chữ Y soit pont en Y, rendu célèbre par le film " Un Américain tranquille " , d’après le roman de Graham Greene, grand amoureux du Vietnam, à tel point qu’il a failli embrasser la religion Cao Daiste, ensuite le pont Nguyễn văn Cừ dans le quartier dit de Nancy, celui de Cầu Ông Lãnh après, qui mène vers les nouveaux " beaux " quartiers du sud, les Quartiers 7 et Phú Mỹ Hưng où vous trouvez l'Hopital Franco Vietnamien, pour passer au pied du nouveau joli pont Càu Calmette menant vers le Quartier 4 Quận Tư ex Khánh Hội qui a subi une transformation sociologique inouie en accueillant maintenant une tranche très aisée aux revenus confortables plutot que les classes modestes qui y logeaient auparavant....Cette voie sur berge de 6 files de voitures débouche pour finir vers la Banque Nationale, et l’entrée du tunnel menant à la presqu'ile de Thủ Thiêm, nouveau centre ville prévu pour décongestionner l’ancien, réalisant ainsi enfin le projet formé depuis les années soixante !
Vous débouchez donc au pied de la " Tour Eiffel " saigonnaise dont je vous entretenais au début, vous savez, la Bitexco Financial avec ses 300m...
Si de ces hauteurs vertigineuses, nous redescendons sur terre à hauteur humaine, vous vous direz : " Et les petits commerçants ambulants, les cyclos, toutes ces particularités qui donnaient son charme à la vie saïgonnaise ? ". Les cyclo-pousse ont presque tous disparu de la circulation, poussés vers la sortie par les autorités, qui y voient à tort ou à raison, un vestige de sous développement ou de colonialisme. On leur a donné un pécule pour s'acheter une petite Honda, et ils vont grossir le peloton des " xe ôm " (motos-taxis), qui vous hèlent aux carrefours, dans l'espoir d'une hypothétique course. L'on peut encore voir de ci de là - mais pour combien de temps encore ? - quelques vendeurs ambulants dans les rues, mais ils s'exposent aux rafles de la police qui veut les chasser des trottoirs. D'ailleurs ces trottoirs sont nettement moins pagailleux que lors de votre dernière venue, où l'on pouvait à peine se frayer un chemin à pied entre les étals des marchands et les motos garées n'importe comment. Maintenant elles sont bien alignées contre les murs, en deçà d'une grande ligne blanche peinte au milieu du trottoir. Les contrevenants s'exposent à une amende vraiment appliquée de 120 000 đồng ! D'ailleurs, maintenant les autorités essaient même d'inciter les piétons....à traverser dans les passages prévus à cet effet! Sous peine d'amende bien sûr de 80 000 đồng, l'on n'obtient de résultats qu'en s'attaquant au portefeuille...
Quand on connait le caractère vietnamien plutôt allergique aux réglementations, l'on se dit que cela va être difficile à appliquer!
Même si vous aimez la vie Viet " à l'ancienne ", vous avez dû être agacé plus d'une fois de devoir marchander l'article qui vous intéresse. Une fois votre achat fait à un prix que vous pensez acceptable, vos amis viets, à votre retour, vous apprennent que vous avez payé trois fois le prix qu’eux auraient réglé ! Là, vous vous dîtes : " la prochaine fois, je vais dans un supermarché où tous les prix sont clairement indiqués, comme en Occident ". Certains Việt kiều (Vietnamiens de l’étranger) ou touristes le font vraiment d'ailleurs, par exemple à Tax ex Galeries Charner. Ou, s'ils habitent les nouveaux quartiers chic au sud vers Phú Mỹ Hưng ou Quận 7, ils vont effectuer leurs achats au Lotte Mart, supermarché coréen avec galerie marchande - rien à envier aux Carrefour, Auchan, Champion, Casino...qui ornent nos périphéries - où les clients ne sont pas vraiment dépaysés. Cette grande surface était la plus grande du pays, et la seule jusqu'à aujourd'hui. Mais tout change : le 1er juillet 2010, le deuxième Lotte Mart vient d'ouvrir, situé à EverRich Phú Thọ, à la place de l'ancien hippodrome, en face de l'ancienne Cité Lyautey que certains auront connue...
Alors Vietnam, pays du Tiers Monde ou pays émergent ? Presque tout à fait émergé alors, il s'en faut de peu...Le petit dragon du Pacifique a pris des forces, et si vous venez sur place vous en rendre compte par vous-même, vous ne serez pas au bout de vos surprises.
Comme l'avait écrit un journaliste étranger : " Saigon est la ville où l'on peut mourir de tout....sauf d'ennui ! ".


Anthony DUCOUTUMANY



[ Trở Về ]


 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved