.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn HOÀNG SA - TRƯỜNG SA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HOÀNG SA - TRƯỜNG SA. Hiển thị tất cả bài đăng
00:09
Xây dựng hồ sơ PSSA – Giải pháp mới bảo vệ chủ quyền lãnh hải
Written By kinhtehoc on Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012 | 00:09
Xây dựng hồ sơ PSSA – Giải pháp mới bảo vệ chủ quyền lãnh hải

Malpelo - Vùng biển được IMO công nhận là PSSA
Vùng biển
Việt Nam là vùng biển có tính đa dạng sinh học đặc biệt của thế giới và tuân thủ
Công ước đa dạng sinh học và Hướng dẫn Jakarta về đa dạng vùng ven bờ và biển
chúng ta phải xây dựng hệ thống các khu bảo tồn biển và ven biển (CMPA) phục vụ
phát triển bền vũng. Tại các vùng biển Việt Nam có 7 khu trong 16 khu bảo tồn
biển đã được Chính Phủ ký Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 là các hải đảo
tiền tiêu của Tổ Quốc, và cũng là các đảo thuộc đường cơ sở - biên giới tuân thủ
Công ước Luật biển 82 như Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Cù Lao Chàm, Phú Quý,
Côn Đảo, Phú Quốc, Nam Yết. Tất cả những vùng này đều đủ tiêu chí của IMO để có
thể trở thành PSSA.
Với phương tiện, kỹ thuật quân sự hạn chế, tình hình biển Đông đang có những diễn biến phức tạp, Việt Nam có thể xem xét trong thời gian sớm nhất xây dựng hồ sơ PSSA Trường Sa trình IMO. Nếu được công nhận chúng ta dễ dàng kiểm soát, bảo vệ tài nguyên biển và đồng thời bảo vệ, khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển, đảo.
---
Tài liệu tham khảo:
1. IMO, 2007.
2. PSSA- công cụ quản lý môi trường biển. Tạp chí Hàng hải, 12/2010.
3. Quyết định số 742/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020.
4. Nguyễn Huy Yết, Đặng Ngọc Thanh. Bảo tồn đa dạng sinh học biển Việt Nam. Nhà XB KHTN và CN, Hà Nội.
| Dư Văn Toán-Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam |
Malpelo - Vùng biển được IMO công nhận là PSSA
Việt Nam đã ký kết tham gia và thực thi nhiều điều
ước, công ước quốc tế về môi trường biển như Công ước Luật biển Liên hợp quốc
1982, Công ước đa dạng sinh học, Các công ước của tổ chức Hàng hải quốc tế -
(IMO). Tuy nhiên, chúng ta chưa tận dụng được lợi thế nhiều từ các công ước
trên.
Hiện nay, một số quốc gia đang xem các quy định về Vùng biển nhạy cảm đặc biệt (Particularly Sensitive Sea Areas – PSSA) – tổng hợp của nhiều công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển – như giải pháp mới về bảo vệ chủ quyền quốc gia dựa vào khoa học công nghệ về xây dựng khu bảo tồn biển. Đây cũng có thể là một gợi ý cho chúng ta - quốc gia thành viên của IMO.
Hiện nay, một số quốc gia đang xem các quy định về Vùng biển nhạy cảm đặc biệt (Particularly Sensitive Sea Areas – PSSA) – tổng hợp của nhiều công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển – như giải pháp mới về bảo vệ chủ quyền quốc gia dựa vào khoa học công nghệ về xây dựng khu bảo tồn biển. Đây cũng có thể là một gợi ý cho chúng ta - quốc gia thành viên của IMO.
PSSA do IMO công nhận là vùng biển có giá trị cao về
môi trường sinh thái, kinh tế - xã hội, khoa học và giáo dục, chủ yếu là các
vùng đã là các khu bảo tồn biển hay khu đa dạng san hô. Hiện tại, đến năm 2011
trên thế giới đã có 13 vùng PSSA tại hầu hết các vùng biển trên thế giới và đã
phát huy tác dụng bảo vệ đồng thời tài nguyên và chủ quyền lãnh thổ cho một số
vùng đảo, quần đảo như Malpelo (Colombia), Canary (Tây Ban Nha), Galapos
(Ecuador), Hawaii (Mỹ).
Khi được ghi danh công nhận là vùng PSSA thì vùng biển đó được Tổ chức thủy đạc quốc tế IHO vẽ ranh giới cụ thể vùng PSSA trên bản đồ Hàng hải thế giới, và IMO công bố cho các quốc gia thành viên về việc hạn chế hay nghiêm cấm hàng hải bắt buộc đối với tầu thuyền qua vùng biển PSSA.
Đảo Malpelo (Colombia) – Một ví dụ của PSSA
Phân tích lợi ích về an ninh biên giới và quản lý tài nguyên-môi trường biển của các vùng PSSA đã được công nhận, các tài nguyên thiên nhiên được phát triển hơn rất nhiều, nhiều vùng đã trở thành kỳ quan thiên nhiên thế giới sau đó.
Một ví dụ cụ thể về lợi ích PSSA là đảo Malpelo của quốc gia Mỹ Latinh Colombia nằm ở vị trí (3°58'00"N, 81°37'00"W), thuộc phía Đông của Thái Bình Dương, cách bờ biển hơn 500 km. Diện tích vùng biển là 857,5 ha, bao gồm diện tích đảo 0,35 ha và biển là 857,15 ha. Địa hình dao động từ độ sâu 1000 m dưới biển đến độ cao của đảo là 376 m. Malpelo là một đảo cô lập với những vách đá bazan, cằn cỗi, gồ ghề, khắc nghiệt không có điều kiện để cho nhân dân sinh sống, thảm thực vật thưa thớt của nó tùy thuộc vào phân chim và xói mòn hạn chế. Loài thực vật rất ít và nhỏ như dương xỉ, cây họ đậu và cỏ, rêu, địa y và tảo mà cũng phổ biến rộng rãi dưới nước, tài nguyên biển của nó là rất phong phú.
Nhiệt độ nước biển thường giữa 26oC và 28oC, với độ mặn 33-34 ppt và thủy triều dao động từ 0,6 m và 5 m. Hệ thống dòng chảy của vùng biển nhiệt đới phía Đông Thái Bình Dương tạo thành một hành lang sinh thái cho cuộc sống cá, hải sản, một môi trường sống quan trọng đối với các hệ động thực vật và quá trình phân tán các ấu trùng sống ở các rạn san hô, cá và động vật thân mềm xung quanh khu vực. Vùng này có 17 loài thú biển, 7 loài bò sát, 61 loài chim, 394 loài cá, 340 loài động vật thân mềm. Hòn đảo này cung cấp thực phẩm cho các loài thú biển và rùa, và nơi tập tụ của con cá lớn và cá mập biển khơi nhất là vào mùa đông.
Ở tại khu vực đảo không có cảng, mưa là nguồn nước duy nhất. Tại đảo Malpelo không có người dân nào sinh sống, mà chỉ có sáu binh sĩ quân đội quốc gia Colombia, luân chuyển định kỳ sáu tháng, cộng thêm vài người từ tàu hải quân thi thoảng tuần tra.
Trước năm 2002, Malpelo là khu bảo vệ thực vật và động vật cấp quốc gia, ngư dân Colombia và các nước kế cận thường xuyên đi vào vùng biển bất hợp pháp để đánh bắt, tận thu hải sản gây ra sự hỗn độn và tranh giành nhau, ảnh hưởng đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên biển và cả an ninh quốc phòng tại đây. Chính vì vậy Colombia đã nộp hồ sơ trình lên IMO với biện pháp vùng cấm tất cả tầu thuyền các nước qua lại (ATBA) và đã được chấp thuận.
Sau năm 2002, khi được IMO công nhận là PSSA thì tất cả các tầu thuyền đều không được ra vào, trừ tầu có cấp phép và tầu du lịch nhỏ. An ninh quốc phòng và tài nguyên biển được đảm bảo tại vùng biển Malpelo. Các hệ sinh thái biển đã được phục hồi nhanh và năm 2006 vùng này đã trở thành di sản thiên nhiên biển thế giới của UNESCO. Tầu thuyền nhỏ du lịch được qua lại đây với du lịch lặn biển và câu cá thể thao, một số tầu đánh bắt cá vào đây đánh bắt cá theo cấp phép vào một số thời gian nhất định trong năm. Các tổ chức bảo tồn thiên thế giới, Mỹ, Colombia có hỗ trợ kinh phí quản lý bảo tồn và di sản. Vùng Malpelo đã trở thành kỳ quan thiên nhiên biển thế giới.
Việc bảo vệ an ninh chủ quyền khu biển đảo Malpelo từ sau khi được công nhận là PSSA, và sau đó là di sản UNESCO đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Gợi ý cho Việt Nam
Vùng biển Malpelo có thể là kinh nghiệm quý để Việt Nam và các nước khác tham khảo trong quá trình làm hồ sơ PSSA cho các vùng biển được bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học cấp quốc gia.
Khi được ghi danh công nhận là vùng PSSA thì vùng biển đó được Tổ chức thủy đạc quốc tế IHO vẽ ranh giới cụ thể vùng PSSA trên bản đồ Hàng hải thế giới, và IMO công bố cho các quốc gia thành viên về việc hạn chế hay nghiêm cấm hàng hải bắt buộc đối với tầu thuyền qua vùng biển PSSA.
Đảo Malpelo (Colombia) – Một ví dụ của PSSA
Phân tích lợi ích về an ninh biên giới và quản lý tài nguyên-môi trường biển của các vùng PSSA đã được công nhận, các tài nguyên thiên nhiên được phát triển hơn rất nhiều, nhiều vùng đã trở thành kỳ quan thiên nhiên thế giới sau đó.
Một ví dụ cụ thể về lợi ích PSSA là đảo Malpelo của quốc gia Mỹ Latinh Colombia nằm ở vị trí (3°58'00"N, 81°37'00"W), thuộc phía Đông của Thái Bình Dương, cách bờ biển hơn 500 km. Diện tích vùng biển là 857,5 ha, bao gồm diện tích đảo 0,35 ha và biển là 857,15 ha. Địa hình dao động từ độ sâu 1000 m dưới biển đến độ cao của đảo là 376 m. Malpelo là một đảo cô lập với những vách đá bazan, cằn cỗi, gồ ghề, khắc nghiệt không có điều kiện để cho nhân dân sinh sống, thảm thực vật thưa thớt của nó tùy thuộc vào phân chim và xói mòn hạn chế. Loài thực vật rất ít và nhỏ như dương xỉ, cây họ đậu và cỏ, rêu, địa y và tảo mà cũng phổ biến rộng rãi dưới nước, tài nguyên biển của nó là rất phong phú.
Nhiệt độ nước biển thường giữa 26oC và 28oC, với độ mặn 33-34 ppt và thủy triều dao động từ 0,6 m và 5 m. Hệ thống dòng chảy của vùng biển nhiệt đới phía Đông Thái Bình Dương tạo thành một hành lang sinh thái cho cuộc sống cá, hải sản, một môi trường sống quan trọng đối với các hệ động thực vật và quá trình phân tán các ấu trùng sống ở các rạn san hô, cá và động vật thân mềm xung quanh khu vực. Vùng này có 17 loài thú biển, 7 loài bò sát, 61 loài chim, 394 loài cá, 340 loài động vật thân mềm. Hòn đảo này cung cấp thực phẩm cho các loài thú biển và rùa, và nơi tập tụ của con cá lớn và cá mập biển khơi nhất là vào mùa đông.
Ở tại khu vực đảo không có cảng, mưa là nguồn nước duy nhất. Tại đảo Malpelo không có người dân nào sinh sống, mà chỉ có sáu binh sĩ quân đội quốc gia Colombia, luân chuyển định kỳ sáu tháng, cộng thêm vài người từ tàu hải quân thi thoảng tuần tra.
Trước năm 2002, Malpelo là khu bảo vệ thực vật và động vật cấp quốc gia, ngư dân Colombia và các nước kế cận thường xuyên đi vào vùng biển bất hợp pháp để đánh bắt, tận thu hải sản gây ra sự hỗn độn và tranh giành nhau, ảnh hưởng đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên biển và cả an ninh quốc phòng tại đây. Chính vì vậy Colombia đã nộp hồ sơ trình lên IMO với biện pháp vùng cấm tất cả tầu thuyền các nước qua lại (ATBA) và đã được chấp thuận.
Sau năm 2002, khi được IMO công nhận là PSSA thì tất cả các tầu thuyền đều không được ra vào, trừ tầu có cấp phép và tầu du lịch nhỏ. An ninh quốc phòng và tài nguyên biển được đảm bảo tại vùng biển Malpelo. Các hệ sinh thái biển đã được phục hồi nhanh và năm 2006 vùng này đã trở thành di sản thiên nhiên biển thế giới của UNESCO. Tầu thuyền nhỏ du lịch được qua lại đây với du lịch lặn biển và câu cá thể thao, một số tầu đánh bắt cá vào đây đánh bắt cá theo cấp phép vào một số thời gian nhất định trong năm. Các tổ chức bảo tồn thiên thế giới, Mỹ, Colombia có hỗ trợ kinh phí quản lý bảo tồn và di sản. Vùng Malpelo đã trở thành kỳ quan thiên nhiên biển thế giới.
Việc bảo vệ an ninh chủ quyền khu biển đảo Malpelo từ sau khi được công nhận là PSSA, và sau đó là di sản UNESCO đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Gợi ý cho Việt Nam
Vùng biển Malpelo có thể là kinh nghiệm quý để Việt Nam và các nước khác tham khảo trong quá trình làm hồ sơ PSSA cho các vùng biển được bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học cấp quốc gia.
Trường Sa |
Với phương tiện, kỹ thuật quân sự hạn chế, tình hình biển Đông đang có những diễn biến phức tạp, Việt Nam có thể xem xét trong thời gian sớm nhất xây dựng hồ sơ PSSA Trường Sa trình IMO. Nếu được công nhận chúng ta dễ dàng kiểm soát, bảo vệ tài nguyên biển và đồng thời bảo vệ, khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển, đảo.
---
Tài liệu tham khảo:
1. IMO, 2007.
2. PSSA- công cụ quản lý môi trường biển. Tạp chí Hàng hải, 12/2010.
3. Quyết định số 742/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020.
4. Nguyễn Huy Yết, Đặng Ngọc Thanh. Bảo tồn đa dạng sinh học biển Việt Nam. Nhà XB KHTN và CN, Hà Nội.
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
04:09
Một tấm dư đồ bị lãng quên
Written By kinhtehoc on Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012 | 04:09
Một tấm dư đồ bị lãng quên

Đông Nam Á trên bản đồ của Hondius xuất bản
năm 1606 tại Amsterdam
| Theo Dainamax Magazine |
| Nguyễn Xuân Nghĩa |
Đông Nam Á trên bản đồ của Hondius xuất bản
năm 1606 tại Amsterdam
Có tài liệu cho thấy người ngoại quốc
đã đến Việt Nam trước khi Lê Quý Đôn theo quân Trịnh vào Thuận Hoá. Và họ ghi
lại 170 năm trước “Phủ Biên Tạp Lục” sự căn thuộc Việt Nam của quần đảo ta gọi
là Hoàng Sa. Khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn
tộc!
Gerardus
Mercator và Jodocus Hondius là hai nhà địa dư học nổi tiếng của xứ Hoà Lan
(Netherland) từ thế kỷ 17, vào năm 1600 trở về sau. Thời ấy, để cạnh tranh với
Công ty Đông Ấn của Anh, Công ty Đông Ấn của Hoà Lan được lập ra năm 1602 và
phát triển cơ sở kinh doanh ở khắp nơi nên mới tập trung lại các tài liệu tham
khảo về địa hình địa thế Á Đông. Tấm bản đồ này được in vào năm 1613 do Jodocus
Hondius (1563-1612) vẽ lại theo bản đồ ĐNA xuất bản 1606, căn cứ trên những dữ
kiện của nhà địa dư học Bồ Đào Nha (Portugal) là Bartolomeu Lasso vào đầu thế kỷ
16 – tức là trước đó khoảng trăm năm.
Tấm bản đồ trình bày bằng tiếng Latinh, có tên là “Insulae Indiae Orientalis Praecipuae“, ghi rõ vùng biển Đông Nam Á từ đảo Sumatra phía Tây đến New Guinea và cả… đảo Guam phía cực Đông trong một chuỗi đảo họ mệnh danh là “quần đảo thổ phỉ” (Islas de las Vellas), và từ đảo Timor gần Úc Đại Lợi phía Nam lên tới Hải Nam của Trung Quốc ở phía Bắc.
Thời ấy, thế giới Tây phương vẫn mơ hồ về đảo Java, với hướng Nam còn ghi bằng hàng dấu chấm trên bản đồ. Nhưng qua tài liệu tô màu này, các sử gia thích thú tìm thấy chứng cớ cập bến của nhà thám hiểm và Phó Đề đốc nổi tiếng của Nữ Hoàng Anh Elizabeth I là Sir Francis Drake (sinh khoảng năm 1540 và mất năm 1596): tại một hải cảng ở miền Nam Java có ghi hàng chữ “Huc Franciscus Dra. Appulit“.
Họ rất vui với việc đó, nhưng người Việt chúng ta lại chú ý đến nhiều dữ kiện khác.
Góc Tây-Bắc của tấm dư đồ là đất “Cauchin, có tên khác là Cauchinchina“, là Cochinchine theo lối gọi thời Tây sau này. Đấy là địa đồ của Đàng Trong khi mở ra cục diện Trịnh-Nguyễn phân tranh: chúa Nguyễn Hoàng mất năm 1613, là khi tấm bản đồ được đưa vào cuốn Atlas Mercator Hondius.
Nhân đây, xin ghi một chi tiết tồn nghi về tên gọi.
Từ thế kỷ 13, các nước đã theo Marco Polo mà gọi tên nước ta là Caugigu (phiên âm từ “Giao Chỉ quốc), sau đọc trại thành Kiaoche rồi Coci – là cách gọi của người Bồ Đào Nha. Thế rồi, để khỏi lầm với đất Koci của Ấn Độ, người ta mới thêm chữ China hay Cina, nên Cauchinchina trở thành tên gọi chung của nước Đại Việt. Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, người ta mới gọi Đàng Ngoài là Tunking hay Tonkin, từ chữ Đông Kinh là Hà Nội ngày nay. Còn Đàng Trong vẫn giữ tên Cauchinchina hay Cochinchine như Pháp gọi sau này.
Nếu cứ theo mặt tên mà nói thì các nhà báo Tây phương ngày nay có thể kết luận rằng toàn cõi Việt Nam là… của Trung Quốc. Đất Cochin của nước China mà! Chúng ta nên giảng điều này cho con cháu, nhất là những thế hệ sinh đẻ ở bên ngoài, để chúng khỏi nhận giặc làm cha.
Trên tấm dư đồ, ta nhận ra Thuận Hoá dưới tên viết Latinh là Sinoa – chứ không phải là Chinois! – sau này mình mới gọi là Phú Xuân rồi Huế. Nhiều địa danh khác thì phải nghiên cứu thêm thì mới biết được – và đấy cũng là một mục tiêu khi chúng tôi giới thiệu tài liệu này. Như tại phía Bắc có thành phố ghi tên Bicuputri, dịch từ tiếng Latinh ra là “trụ đá” hay “Thạch trụ”, “Thạch bi”. Chẳng lẽ là núi Thạch Bi?
Xin các nhà địa dư học tìm hiểu và chỉ cho.
Tại phía Nam, quãng Phú Yên Khánh Hoà thì có địa danh Lantam. Thực tế là gì thì mình chưa rõ – hoặc nếu ai tìm ra cách lý giải thì xin góp ý – chỉ nhớ rằng tấm bản đồ được vẽ theo những tài liệu của Bồ Đào Nha cách đó trăm năm.
Đáng chú ý hơn cả, tấm bản đồ ghi rất rõ ngoài khơi Việt Nam một vùng quần đảo có nhiều bãi cát nông chạy dài xuống hướng Tây-Nam được ghi là Pracel.
Đối diện với quần đảo – và trên lãnh thổ Việt Nam được viền màu vàng - là tên “Costa de Pracel” – Bờ Pracel. Chẳng liên hệ gì đến đảo Hải Nam của Trung Quốc được tô hồng với tên là Ainan!
Chúng ta nhớ lại thì Lê Quý Đôn viết trong “Phủ Biên Tạp Lục” (soạn thảo từ 1776) rằng: “… Trước đó, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, mỗi năm cứ Tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng. Đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy.”
Bây giờ, có tài liệu cho thấy người ngoại quốc đã đến Việt Nam trước khi Lê Quý Đôn theo quân Trịnh vào Thuận Hoá. Và họ ghi lại 170 năm trước “Phủ Biên Tạp Lục” sự căn thuộc Việt Nam của quần đảo ta gọi là Hoàng Sa. Khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn tộc!
Chúng ta không quên rằng người Bồ Đào Nha và Hoà Lan đã tiếp xúc và buôn bán với cả hai chúa Trịnh và Nguyễn, Khi thương thuyền Grootenbrook bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa, người cầm đầu thương điếm của Công ty Đông Ấn Hòa Lan tại Faifo lại không lên… đảo Hải Nam mà vào Thuận Hoá để cám ơn Chúa Thượng việc thủy thủ đoàn của họ được người Việt cứu vớt. Chúng ta cũng biết rằng dưới thời Trịnh Nguyễn, nhà Đại Thanh còn phải củng cố quyền lực sau khi diệt nhà Minh vào năm 1644, cho đến lúc lẫy lừng nhất vào đời Càn Long thì bị Quang Trung bợp tai đá đít năm 1789.
Những người Hoa duy nhất mà dân ta gặp trên cái đất được Tây phương gọi là Cauchinchina là dân tỵ nạn của triều Minh, là “thuyền nhân” hay hải tặc tìm đất dung thân ở Đàng Trong, Họ được dân ta đón nhận, đối xử tử tế và bình đẳng theo truyền thống Việt Nam mà các nhà hàng hải Hoà Lan đã sớm ghi nhận. Họ góp phần khai phá miền Nam, trở thành kiện tướng hay công thần của các Chúa rồi các Hoàng đế nhà Nguyễn.
Cùng thời đó, Hondius còn có một tấm bản đồ thứ nhì (India Orientalis), chú trọng trình bày Ấn Độ dương từ Vịnh Bengale phía Đông qua Biển Á Rập phía Tây, nhưng vẫn đầy đủ chi tiết về đất Cauchinchina này… Không hề có chuyện người Trung Hoa hay nước Trung Quốc cai quản hoặc làm chủ Hoàng Sa hay Trường Sa.
Tấm bản đồ trình bày bằng tiếng Latinh, có tên là “Insulae Indiae Orientalis Praecipuae“, ghi rõ vùng biển Đông Nam Á từ đảo Sumatra phía Tây đến New Guinea và cả… đảo Guam phía cực Đông trong một chuỗi đảo họ mệnh danh là “quần đảo thổ phỉ” (Islas de las Vellas), và từ đảo Timor gần Úc Đại Lợi phía Nam lên tới Hải Nam của Trung Quốc ở phía Bắc.
Thời ấy, thế giới Tây phương vẫn mơ hồ về đảo Java, với hướng Nam còn ghi bằng hàng dấu chấm trên bản đồ. Nhưng qua tài liệu tô màu này, các sử gia thích thú tìm thấy chứng cớ cập bến của nhà thám hiểm và Phó Đề đốc nổi tiếng của Nữ Hoàng Anh Elizabeth I là Sir Francis Drake (sinh khoảng năm 1540 và mất năm 1596): tại một hải cảng ở miền Nam Java có ghi hàng chữ “Huc Franciscus Dra. Appulit“.
Họ rất vui với việc đó, nhưng người Việt chúng ta lại chú ý đến nhiều dữ kiện khác.
Góc Tây-Bắc của tấm dư đồ là đất “Cauchin, có tên khác là Cauchinchina“, là Cochinchine theo lối gọi thời Tây sau này. Đấy là địa đồ của Đàng Trong khi mở ra cục diện Trịnh-Nguyễn phân tranh: chúa Nguyễn Hoàng mất năm 1613, là khi tấm bản đồ được đưa vào cuốn Atlas Mercator Hondius.
Nhân đây, xin ghi một chi tiết tồn nghi về tên gọi.
Từ thế kỷ 13, các nước đã theo Marco Polo mà gọi tên nước ta là Caugigu (phiên âm từ “Giao Chỉ quốc), sau đọc trại thành Kiaoche rồi Coci – là cách gọi của người Bồ Đào Nha. Thế rồi, để khỏi lầm với đất Koci của Ấn Độ, người ta mới thêm chữ China hay Cina, nên Cauchinchina trở thành tên gọi chung của nước Đại Việt. Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, người ta mới gọi Đàng Ngoài là Tunking hay Tonkin, từ chữ Đông Kinh là Hà Nội ngày nay. Còn Đàng Trong vẫn giữ tên Cauchinchina hay Cochinchine như Pháp gọi sau này.
Nếu cứ theo mặt tên mà nói thì các nhà báo Tây phương ngày nay có thể kết luận rằng toàn cõi Việt Nam là… của Trung Quốc. Đất Cochin của nước China mà! Chúng ta nên giảng điều này cho con cháu, nhất là những thế hệ sinh đẻ ở bên ngoài, để chúng khỏi nhận giặc làm cha.
Trên tấm dư đồ, ta nhận ra Thuận Hoá dưới tên viết Latinh là Sinoa – chứ không phải là Chinois! – sau này mình mới gọi là Phú Xuân rồi Huế. Nhiều địa danh khác thì phải nghiên cứu thêm thì mới biết được – và đấy cũng là một mục tiêu khi chúng tôi giới thiệu tài liệu này. Như tại phía Bắc có thành phố ghi tên Bicuputri, dịch từ tiếng Latinh ra là “trụ đá” hay “Thạch trụ”, “Thạch bi”. Chẳng lẽ là núi Thạch Bi?
Xin các nhà địa dư học tìm hiểu và chỉ cho.
Tại phía Nam, quãng Phú Yên Khánh Hoà thì có địa danh Lantam. Thực tế là gì thì mình chưa rõ – hoặc nếu ai tìm ra cách lý giải thì xin góp ý – chỉ nhớ rằng tấm bản đồ được vẽ theo những tài liệu của Bồ Đào Nha cách đó trăm năm.
Đáng chú ý hơn cả, tấm bản đồ ghi rất rõ ngoài khơi Việt Nam một vùng quần đảo có nhiều bãi cát nông chạy dài xuống hướng Tây-Nam được ghi là Pracel.
Đối diện với quần đảo – và trên lãnh thổ Việt Nam được viền màu vàng - là tên “Costa de Pracel” – Bờ Pracel. Chẳng liên hệ gì đến đảo Hải Nam của Trung Quốc được tô hồng với tên là Ainan!
Chúng ta nhớ lại thì Lê Quý Đôn viết trong “Phủ Biên Tạp Lục” (soạn thảo từ 1776) rằng: “… Trước đó, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, mỗi năm cứ Tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng. Đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy.”
Bây giờ, có tài liệu cho thấy người ngoại quốc đã đến Việt Nam trước khi Lê Quý Đôn theo quân Trịnh vào Thuận Hoá. Và họ ghi lại 170 năm trước “Phủ Biên Tạp Lục” sự căn thuộc Việt Nam của quần đảo ta gọi là Hoàng Sa. Khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn tộc!
Chúng ta không quên rằng người Bồ Đào Nha và Hoà Lan đã tiếp xúc và buôn bán với cả hai chúa Trịnh và Nguyễn, Khi thương thuyền Grootenbrook bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa, người cầm đầu thương điếm của Công ty Đông Ấn Hòa Lan tại Faifo lại không lên… đảo Hải Nam mà vào Thuận Hoá để cám ơn Chúa Thượng việc thủy thủ đoàn của họ được người Việt cứu vớt. Chúng ta cũng biết rằng dưới thời Trịnh Nguyễn, nhà Đại Thanh còn phải củng cố quyền lực sau khi diệt nhà Minh vào năm 1644, cho đến lúc lẫy lừng nhất vào đời Càn Long thì bị Quang Trung bợp tai đá đít năm 1789.
Những người Hoa duy nhất mà dân ta gặp trên cái đất được Tây phương gọi là Cauchinchina là dân tỵ nạn của triều Minh, là “thuyền nhân” hay hải tặc tìm đất dung thân ở Đàng Trong, Họ được dân ta đón nhận, đối xử tử tế và bình đẳng theo truyền thống Việt Nam mà các nhà hàng hải Hoà Lan đã sớm ghi nhận. Họ góp phần khai phá miền Nam, trở thành kiện tướng hay công thần của các Chúa rồi các Hoàng đế nhà Nguyễn.
Cùng thời đó, Hondius còn có một tấm bản đồ thứ nhì (India Orientalis), chú trọng trình bày Ấn Độ dương từ Vịnh Bengale phía Đông qua Biển Á Rập phía Tây, nhưng vẫn đầy đủ chi tiết về đất Cauchinchina này… Không hề có chuyện người Trung Hoa hay nước Trung Quốc cai quản hoặc làm chủ Hoàng Sa hay Trường Sa.
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
03:27
Cần có nhiều công bố quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông
Cần có nhiều công bố quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên Biển
Đông

TS Lê Vĩnh Trương (phải)
| Hữu Long thực hiện |
TS Lê Vĩnh Trương (phải)
Năm qua, chủ
quyền của từng quốc gia ở Biển Đông trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng
của khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học về chủ
quyền biển đảo đã trở nên sôi động hơn và đạt được một số thành tựu dù chưa đáp
ứng được kỳ vọng của nhiều người. Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với TS
Lê Vĩnh Trương và nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc về vấn đề
này.
* Tiến sĩ Lê Vĩnh
Trương (thành viên Quỹ nghiên
cứu Biển Đông)
Xin ông cho biết một cách khái quát hoạt động nghiên cứu chủ quyền Biển Đông trong năm 2011?
Hoạt động nghiên cứu biển đảo trong năm 2011 đã có bước chuyển biến rất lớn trong phạm vi Quỹ nghiên cứu Biển Đông (QNCBĐ) cũng như trong cộng đồng các giới Việt Nam. Riêng QNCBĐ đã có trên 100 bài viết trên các báo trong nước và một số bài báo trên các báo Asia Times, Asia Sentinel, Diplomat, Manila Times. Cùng với sự có mặt mạnh mẽ của các trang nghiencuubiendong.vn thuộc Học viện Ngoại giao, VietNamNet, biengioilanhtho.vn,… đã mang lại nhiều thông tin bổ ích cho độc giả quan tâm trên báo mạng.
Ngoài ra những ngày cuối năm 2011, những trí thức Việt kiều như TS Lê Văn Út (Phần Lan), GS Phạm Quang Tuấn và GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia) cũng đã có những thư phản kháng khiến các tạp chí Nature và Science (có uy tín lớn) đã bác bỏ việc ngầm phổ biến đường chữ U trên tạp chí quốc tế. Song việc này cần tiếp nối bền bỉ và vĩnh viễn, không thể ngày một ngày hai được.
Có ý kiến cho rằng sự tham gia của các trí thức Việt Nam trong và ngoài nước trên các tạp chí khoa học quốc tế là khá đáng kể, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc phản đối các thông tin sai trái về chủ quyền của chúng ta. Ý kiến của ông về vấn đề này?
Trong thời gian qua, vài trí thức Việt đã có những phản biện kịp thời đối với các giọng điệu tuyên truyền sai trái của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa. Trí thức Việt trong và ngoài nước đã gửi thư phản đối những nơi có “đường lưỡi bò” xuất hiện và đã mang lại một số kết quả to lớn. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có nhiều công bố khoa học hay bài viết về chủ quyền trên Biển Đông trên các tạp chí khoa học hay báo quốc tế. Rất mong các cơ quan khoa học cũng như các nhà khoa học trong nước lưu tâm hơn về vấn đề này.
Theo ông, hoạt động nghiên cứu về chủ quyền Biển Đông năm 2011 có điểm gì nổi bật?
Mạnh mẽ hơn, lan tỏa hơn và nhiều người góp mặt hơn so với năm 2010, đặc biệt sau sự kiện cắt cáp tàu Bình Minh 2 (26/5/2011) và Viking II (9/6/2011). Giới nghiên cứu trong và ngoài nước từ bấy lâu nay âm thầm làm việc đã viết và đăng nhiều bài có tính khoa học cao, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức và kiến thức cho đông đảo người đọc. Hoạt động nghiên cứu đã khởi sắc hơn với nhiều cuộc hội thảo được tổ chức bên ngoài nước, quy tụ được đông đảo các nhà nghiên cứu đến từ các quốc gia khác nhau có quan tâm đến tranh chấp Biển Đông. Tại các cuộc hội thảo này học giả Trung Quốc không còn nêu lên quan điểm “lợi ích cốt lõi” mà chuyển hướng trọng tâm sang bàn về khía cạnh cùng hợp tác khai thác tài nguyên tại khu vực như đánh bắt cá, quan điểm của Trung Quốc vẫn là song phương bẻ gãy từng chiếc đũa trong bó đũa.
Các nhà xuất bản trong nước như NXB Lao Động, NXB Trẻ đã có nhiều đầu sách hay giúp cho độc giả tìm hiểu thêm về kiến thức đặc biệt trong hoàn cảnh này. Chúng tôi cho rằng cần phải có thêm nhiều sách giấy hơn nữa, viết phổ thông hơn nữa để nhân dân Việt Nam ở các vùng sâu vùng xa đều có kiến thức và tự hào về công cuộc khai khẩn và bảo vệ biển đảo Việt Nam.
Năm 2012, chúng ta cần tập trung vào nghiên cứu những vấn đề gì?
Trong khuôn khổ QNCBĐ, chúng tôi được đề nghị tìm viết và nghiên cứu các án lệ của tòa án quốc tế về các tranh chấp biển, đảo và đất, các cách thức đấu tranh bằng biện pháp hòa bình.
Chúng tôi cũng cố gắng xuất bản một số đầu sách giấy và điện tử, gia tăng tham dự các hội thảo để tìm kiếm thông tin và nâng cao sức mạnh mềm cho Việt Nam.
Nhóm bút chiến Trúc Nam Sơn của QNCBĐ vẫn làm công việc bền bỉ là comment (bình luận) trên các diễn đàn tiếng Anh để đưa ra cái nhìn khoa học, duy lý, bảo vệ chính nghĩa Việt Nam.
Ngoài ra, viết bài cho báo tiếng Anh và dịch các bài có giá trị học thuật cao sang tiếng Anh cũng là một ưu tiên của chúng tôi.
Chúng tôi cũng nỗ lực kết hợp với các trí thức Việt kiều uy tín ngoài nước để có những hoạt động bảo vệ chủ quyền Việt Nam bằng các bài phản biện với các trí thức phương Tây vẫn còn đang mù mờ trước làn sóng phủ thông tin một chiều rộng rãi nhưng sai lệch của trí thức và chính giới Trung Quốc.
Xin cảm ơn ông!
Xin ông cho biết một cách khái quát hoạt động nghiên cứu chủ quyền Biển Đông trong năm 2011?
Hoạt động nghiên cứu biển đảo trong năm 2011 đã có bước chuyển biến rất lớn trong phạm vi Quỹ nghiên cứu Biển Đông (QNCBĐ) cũng như trong cộng đồng các giới Việt Nam. Riêng QNCBĐ đã có trên 100 bài viết trên các báo trong nước và một số bài báo trên các báo Asia Times, Asia Sentinel, Diplomat, Manila Times. Cùng với sự có mặt mạnh mẽ của các trang nghiencuubiendong.vn thuộc Học viện Ngoại giao, VietNamNet, biengioilanhtho.vn,… đã mang lại nhiều thông tin bổ ích cho độc giả quan tâm trên báo mạng.
Ngoài ra những ngày cuối năm 2011, những trí thức Việt kiều như TS Lê Văn Út (Phần Lan), GS Phạm Quang Tuấn và GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia) cũng đã có những thư phản kháng khiến các tạp chí Nature và Science (có uy tín lớn) đã bác bỏ việc ngầm phổ biến đường chữ U trên tạp chí quốc tế. Song việc này cần tiếp nối bền bỉ và vĩnh viễn, không thể ngày một ngày hai được.
Có ý kiến cho rằng sự tham gia của các trí thức Việt Nam trong và ngoài nước trên các tạp chí khoa học quốc tế là khá đáng kể, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc phản đối các thông tin sai trái về chủ quyền của chúng ta. Ý kiến của ông về vấn đề này?
Trong thời gian qua, vài trí thức Việt đã có những phản biện kịp thời đối với các giọng điệu tuyên truyền sai trái của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa. Trí thức Việt trong và ngoài nước đã gửi thư phản đối những nơi có “đường lưỡi bò” xuất hiện và đã mang lại một số kết quả to lớn. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có nhiều công bố khoa học hay bài viết về chủ quyền trên Biển Đông trên các tạp chí khoa học hay báo quốc tế. Rất mong các cơ quan khoa học cũng như các nhà khoa học trong nước lưu tâm hơn về vấn đề này.
Theo ông, hoạt động nghiên cứu về chủ quyền Biển Đông năm 2011 có điểm gì nổi bật?
Mạnh mẽ hơn, lan tỏa hơn và nhiều người góp mặt hơn so với năm 2010, đặc biệt sau sự kiện cắt cáp tàu Bình Minh 2 (26/5/2011) và Viking II (9/6/2011). Giới nghiên cứu trong và ngoài nước từ bấy lâu nay âm thầm làm việc đã viết và đăng nhiều bài có tính khoa học cao, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức và kiến thức cho đông đảo người đọc. Hoạt động nghiên cứu đã khởi sắc hơn với nhiều cuộc hội thảo được tổ chức bên ngoài nước, quy tụ được đông đảo các nhà nghiên cứu đến từ các quốc gia khác nhau có quan tâm đến tranh chấp Biển Đông. Tại các cuộc hội thảo này học giả Trung Quốc không còn nêu lên quan điểm “lợi ích cốt lõi” mà chuyển hướng trọng tâm sang bàn về khía cạnh cùng hợp tác khai thác tài nguyên tại khu vực như đánh bắt cá, quan điểm của Trung Quốc vẫn là song phương bẻ gãy từng chiếc đũa trong bó đũa.
Các nhà xuất bản trong nước như NXB Lao Động, NXB Trẻ đã có nhiều đầu sách hay giúp cho độc giả tìm hiểu thêm về kiến thức đặc biệt trong hoàn cảnh này. Chúng tôi cho rằng cần phải có thêm nhiều sách giấy hơn nữa, viết phổ thông hơn nữa để nhân dân Việt Nam ở các vùng sâu vùng xa đều có kiến thức và tự hào về công cuộc khai khẩn và bảo vệ biển đảo Việt Nam.
Năm 2012, chúng ta cần tập trung vào nghiên cứu những vấn đề gì?
Trong khuôn khổ QNCBĐ, chúng tôi được đề nghị tìm viết và nghiên cứu các án lệ của tòa án quốc tế về các tranh chấp biển, đảo và đất, các cách thức đấu tranh bằng biện pháp hòa bình.
Chúng tôi cũng cố gắng xuất bản một số đầu sách giấy và điện tử, gia tăng tham dự các hội thảo để tìm kiếm thông tin và nâng cao sức mạnh mềm cho Việt Nam.
Nhóm bút chiến Trúc Nam Sơn của QNCBĐ vẫn làm công việc bền bỉ là comment (bình luận) trên các diễn đàn tiếng Anh để đưa ra cái nhìn khoa học, duy lý, bảo vệ chính nghĩa Việt Nam.
Ngoài ra, viết bài cho báo tiếng Anh và dịch các bài có giá trị học thuật cao sang tiếng Anh cũng là một ưu tiên của chúng tôi.
Chúng tôi cũng nỗ lực kết hợp với các trí thức Việt kiều uy tín ngoài nước để có những hoạt động bảo vệ chủ quyền Việt Nam bằng các bài phản biện với các trí thức phương Tây vẫn còn đang mù mờ trước làn sóng phủ thông tin một chiều rộng rãi nhưng sai lệch của trí thức và chính giới Trung Quốc.
Xin cảm ơn ông!
* Nhà nghiên cứu
Đinh Kim Phúc (Trung tâm Nghiên
cứu Đông Nam Á, Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh)
Ông đánh giá như thế nào về các cuộc hội thảo về Biển Đông được tổ chức trong và ngoài nước trong năm 2011?
Tháng 10/2011, Hội thảo quốc tế về tranh chấp ở Biển Đông với chủ đề “Con đường tiến tới hòa bình, ổn định và phát triển” đã diễn ra tại thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia, hay trước đó vào tháng 5/2011, Hội thảo quốc tế “Triển vọng hợp tác, những vấn đề hội tụ và động lực ở Biển Đông” tại Jakarta (Indonesia) do Trung tâm Habibie của Indonesia và Trung tâm nghiên cứu chiến lược châu Á (CASS) của Ấn Độ phối hợp tổ chức…
Nhìn chung, phần lớn trọng tâm của các cuộc hội thảo này là nhằm khẳng định việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải với “Đường 9 điểm” trên bản đồ (đường lưỡi bò) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông là không phù hợp với luật pháp quốc tế và đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích chứ tôi chưa thấy có nhiều những phát hiện mới trong việc củng cố chứng cứ cho chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa.
Nếu nội dung thứ nhất đã được đề cập là thắng lợi của giới ngoại giao thì nội dung thứ hai theo tôi là sự giậm chân tại chỗ của giới sử học Việt Nam.
Theo ông, các kết quả nghiên cứu khoa học về chủ quyền Biển Đông hiện nay đã đủ để Việt Nam bảo vệ được lập trường của mình trong các tranh chấp chưa?
Tài liệu lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa không thiếu nhưng nó đã được chuyển hóa thành hồ sơ pháp lý chưa thì đây mới là một vấn đề quan trọng. Vì vậy, theo tôi việc xây dựng một bộ hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa không thể chậm trễ.
Xin cảm ơn ông!
Ông đánh giá như thế nào về các cuộc hội thảo về Biển Đông được tổ chức trong và ngoài nước trong năm 2011?
Tháng 10/2011, Hội thảo quốc tế về tranh chấp ở Biển Đông với chủ đề “Con đường tiến tới hòa bình, ổn định và phát triển” đã diễn ra tại thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia, hay trước đó vào tháng 5/2011, Hội thảo quốc tế “Triển vọng hợp tác, những vấn đề hội tụ và động lực ở Biển Đông” tại Jakarta (Indonesia) do Trung tâm Habibie của Indonesia và Trung tâm nghiên cứu chiến lược châu Á (CASS) của Ấn Độ phối hợp tổ chức…
Nhìn chung, phần lớn trọng tâm của các cuộc hội thảo này là nhằm khẳng định việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải với “Đường 9 điểm” trên bản đồ (đường lưỡi bò) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông là không phù hợp với luật pháp quốc tế và đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích chứ tôi chưa thấy có nhiều những phát hiện mới trong việc củng cố chứng cứ cho chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa.
Nếu nội dung thứ nhất đã được đề cập là thắng lợi của giới ngoại giao thì nội dung thứ hai theo tôi là sự giậm chân tại chỗ của giới sử học Việt Nam.
Theo ông, các kết quả nghiên cứu khoa học về chủ quyền Biển Đông hiện nay đã đủ để Việt Nam bảo vệ được lập trường của mình trong các tranh chấp chưa?
Tài liệu lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa không thiếu nhưng nó đã được chuyển hóa thành hồ sơ pháp lý chưa thì đây mới là một vấn đề quan trọng. Vì vậy, theo tôi việc xây dựng một bộ hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa không thể chậm trễ.
Xin cảm ơn ông!
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:20
Con bạch tuộc “đi hoang” trên biển Đông
Written By kinhtehoc on Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011 | 01:20
Con bạch tuộc “đi hoang” trên biển Đông
Bài viết được đăng lúc 8:29:08 AM, 09.06.2011
Bài viết được đăng lúc 8:29:08 AM, 09.06.2011
LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
Bán bà con xa mua láng giềng gần, điều đó đúng trong trường hợp người láng giềng có đủ nhân cách và mức độ tự tin để chúng ta làm được điều đó.
Nhưng lại có những kẻ láng giềng “treo đầu dê bán thịt chó”, mồm nói đường miệng làm nẻo, bụng khó đo dạ khó lường thì liệu việc “mua” có nên không? Chúng ta có một “láng giềng định mệnh” như thế đã mấy nghìn năm nay. Người láng giềng ấy đã đánh những dấu vàng và cũng đã bôi không ít vệt đen lên lịch sử dân tộc Việt Nam ta. Từ lâu lắm, người hàng xóm ấy hầu như là thường xuyên quen đến bằng những cuộc không mời đầy thâm ý.
Diễn biến hàng chục năm qua ở biển Đông, chuyện những con “tàu lạ” đi lại trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam không còn là sự xa lạ nữa. Những vị khách không mời ấy thật sự đến không vì tấm lòng thành mà bằng những mưu đồ chước quỷ đầy toan tính. Sự kiện 26/5 gần đây nhất, một lần nữa trát thêm vết đen trong quan hệ hai nước và những vấn đề liên quan đến biển Đông. Sáng 26/5, các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động thăm dò khảo sát của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn dầu khí Petro Vietnam. Vị trí mà ba tàu hải giám Trung Quốc xâm nhập, chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý, nằm hoàn toàn trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam. 5 ngày sau, chiều 31/5, 3 tàu quân sự khác thuộc lực lượng hải quân Trung Quốc đã nổ sung uy hiếp, ngăn cản 4 tàu cá của tỉnh Phú Yên trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Sự việc diễn ra trong lúc 4 tàu đánh cá của ngư dân TP Tuy Hòa đang hành nghề đánh bắt cá ngừ đại dương ở vị trí 8 độ 56’ vĩ độ bắc, 112 độ 45’ kinh độ đông, cách đảo Đá Đông, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa khoảng 5 hải lý về phía đông nam, thì 3 chiếc tàu Hải quân Trung Quốc tiến đến. Cách tàu Việt Nam khoảng 40 m, họ đã nổ súng bắn xuống nước uy hiếp, đe dọa không cho ngư dân Việt Nam hành nghề. Trong một diễn biến khác, hôm qua ngày 1/6, anh Huỳnh Công Kính (32 tuổi) ở thôn Đông, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), chủ tàu cá QNg-66369 TS cho biết, tàu cá của anh bị tàu chiến Trung Quốc phá hoại dây lặn, lấy toàn bộ lương thực, thực phẩm và các ngư lưới cụ khác khi tàu đang khai thác hải sản trên vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tính tới thời điểm này, đây là tàu thứ 4 của ngư dân Quảng Ngãi trong tháng 5/2011 bị Trung Quốc trấn lột và phá hoại tài sản khi hành nghề trên vùng biển của Việt Nam. Lại một lần nữa Trung Quốc liên tiếp “ném những hạt sạn gai góc” vào vấn đề biển Đông.
Những hành động trên trong những ngày vừa qua đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình, vi phạm Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002.
Rõ ràng đó là một chuỗi những hành động táo tợn nhất từ trước tới nay của Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền lãnh hải, gây tổn hại đến quan hệ giữa hai nước. Phương châm “16 chữ vàng” chẳng còn đáng giá gì ở đây, nó đã hóa thành thứ kim loại rẻ tiền. Trung Quốc đã dùng chiêu cũ “cá lớn nuốt cá bé”, nhân danh bề trên kẻ cả để áp đặt “luật rừng” trong quan hệ quốc tế hiện đại, đi ngược lại hoàn toàn với những mong mỏi của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới.
Một chuỗi sự kiện, hành động liên tiếp ấy không phải là sự tình cờ, ngẫu ý nữa. Trung Quốc đã đi quá xa những gì chúng ta có thể chấp nhận. Thực tế họ muốn chứng minh điều gì khi sử dụng lực lượng tàu hải giám và tàu quân sự trong hai vụ việc vừa rồi với tư cách quốc gia để làm một việc trái với luật pháp và logic thông thường trong ứng xử quốc tế. Việt Nam không phải là một trường hợp đặc biệt, hành động này Trung Quốc cũng đã áp dụng ở vùng biển Philippines vào tháng 3 vừa rồi. Điều này cho thấy Trung Quốc đang muốn chứng minh tuyên bố về lãnh hải “đường lưỡi bò” và điều kiện áp đặt về chủ quyền trên biển Đông mà Quốc vụ viện Trung Quốc đã thông qua vào năm 2009. Mặt khác hành động này cũng là sự “thử gan”, kiểm chứng sự phản ứng của các đối tượng chiến lược cần áp chế quyền lực trên biển của Trung Quốc trong tương lai. Đồng thời, nghiệm xem dư luận quốc tế và các hành động bênh vực của “một nước thứ ba” nào đó trong vấn đề mang tính chất song phương này. Mưu đồ Trung Quốc rất lớn, tham vọng bành trướng bá quyền mang tầm chiến lược thế kỉ, liên quan đến sự tồn tại và chủ quyền biển đảo của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Con rồng đã thức giấc, thực sự vươn mình để quẫy đuôi đạp sóng. Cái bụng Trung Hoa mấy ngàn năm chỉ toàn khói lửa và tương lai sẽ phun ra những gì của quá khứ. Truyền thống “viễn giao cận công” của giới chính trị Trung Quốc từ xưa đến nay luôn là phương châm chiến lược. Diễn biến sự kiện trong những năm đầu thế kỉ này đã chứng minh điều đó. Dĩ nhiên, nếu một chú rồng hành động như vậy thì nó đã tự biến mình thành loài bạch tuột đáng sợ đi hoang, ứng xử hẹp hòi và thiếu văn minh.
Một kẻ láng giềng giàu tham lam và táo tợn sẽ hành động gì với “hàng rào” của họ? “Người trong nhà” sẽ không khó để nhận biết. Vậy chúng ta sẽ làm gì? Chỉ có thể nói bằng hai từ “ĐOÀN KẾT” để vạch ra một cơ sách chiến lược đối phó lâu dài và chuẩn bị trước các tình huống xấu nhất có thể. Đó là sức mạnh của giống nòi, là chân lí làm nên lịch sử, quyết định vận mệnh của chúng ta - một dân tộc Việt Nam bền gan, vững chí trước những biến động to lớn của lịch sử.
L.V.T.G.
Diễn biến hàng chục năm qua ở biển Đông, chuyện những con “tàu lạ” đi lại trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam không còn là sự xa lạ nữa. Những vị khách không mời ấy thật sự đến không vì tấm lòng thành mà bằng những mưu đồ chước quỷ đầy toan tính. Sự kiện 26/5 gần đây nhất, một lần nữa trát thêm vết đen trong quan hệ hai nước và những vấn đề liên quan đến biển Đông. Sáng 26/5, các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động thăm dò khảo sát của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn dầu khí Petro Vietnam. Vị trí mà ba tàu hải giám Trung Quốc xâm nhập, chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý, nằm hoàn toàn trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam. 5 ngày sau, chiều 31/5, 3 tàu quân sự khác thuộc lực lượng hải quân Trung Quốc đã nổ sung uy hiếp, ngăn cản 4 tàu cá của tỉnh Phú Yên trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Sự việc diễn ra trong lúc 4 tàu đánh cá của ngư dân TP Tuy Hòa đang hành nghề đánh bắt cá ngừ đại dương ở vị trí 8 độ 56’ vĩ độ bắc, 112 độ 45’ kinh độ đông, cách đảo Đá Đông, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa khoảng 5 hải lý về phía đông nam, thì 3 chiếc tàu Hải quân Trung Quốc tiến đến. Cách tàu Việt Nam khoảng 40 m, họ đã nổ súng bắn xuống nước uy hiếp, đe dọa không cho ngư dân Việt Nam hành nghề. Trong một diễn biến khác, hôm qua ngày 1/6, anh Huỳnh Công Kính (32 tuổi) ở thôn Đông, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), chủ tàu cá QNg-66369 TS cho biết, tàu cá của anh bị tàu chiến Trung Quốc phá hoại dây lặn, lấy toàn bộ lương thực, thực phẩm và các ngư lưới cụ khác khi tàu đang khai thác hải sản trên vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tính tới thời điểm này, đây là tàu thứ 4 của ngư dân Quảng Ngãi trong tháng 5/2011 bị Trung Quốc trấn lột và phá hoại tài sản khi hành nghề trên vùng biển của Việt Nam. Lại một lần nữa Trung Quốc liên tiếp “ném những hạt sạn gai góc” vào vấn đề biển Đông.
Những hành động trên trong những ngày vừa qua đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình, vi phạm Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002.
Rõ ràng đó là một chuỗi những hành động táo tợn nhất từ trước tới nay của Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền lãnh hải, gây tổn hại đến quan hệ giữa hai nước. Phương châm “16 chữ vàng” chẳng còn đáng giá gì ở đây, nó đã hóa thành thứ kim loại rẻ tiền. Trung Quốc đã dùng chiêu cũ “cá lớn nuốt cá bé”, nhân danh bề trên kẻ cả để áp đặt “luật rừng” trong quan hệ quốc tế hiện đại, đi ngược lại hoàn toàn với những mong mỏi của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới.
Một chuỗi sự kiện, hành động liên tiếp ấy không phải là sự tình cờ, ngẫu ý nữa. Trung Quốc đã đi quá xa những gì chúng ta có thể chấp nhận. Thực tế họ muốn chứng minh điều gì khi sử dụng lực lượng tàu hải giám và tàu quân sự trong hai vụ việc vừa rồi với tư cách quốc gia để làm một việc trái với luật pháp và logic thông thường trong ứng xử quốc tế. Việt Nam không phải là một trường hợp đặc biệt, hành động này Trung Quốc cũng đã áp dụng ở vùng biển Philippines vào tháng 3 vừa rồi. Điều này cho thấy Trung Quốc đang muốn chứng minh tuyên bố về lãnh hải “đường lưỡi bò” và điều kiện áp đặt về chủ quyền trên biển Đông mà Quốc vụ viện Trung Quốc đã thông qua vào năm 2009. Mặt khác hành động này cũng là sự “thử gan”, kiểm chứng sự phản ứng của các đối tượng chiến lược cần áp chế quyền lực trên biển của Trung Quốc trong tương lai. Đồng thời, nghiệm xem dư luận quốc tế và các hành động bênh vực của “một nước thứ ba” nào đó trong vấn đề mang tính chất song phương này. Mưu đồ Trung Quốc rất lớn, tham vọng bành trướng bá quyền mang tầm chiến lược thế kỉ, liên quan đến sự tồn tại và chủ quyền biển đảo của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Con rồng đã thức giấc, thực sự vươn mình để quẫy đuôi đạp sóng. Cái bụng Trung Hoa mấy ngàn năm chỉ toàn khói lửa và tương lai sẽ phun ra những gì của quá khứ. Truyền thống “viễn giao cận công” của giới chính trị Trung Quốc từ xưa đến nay luôn là phương châm chiến lược. Diễn biến sự kiện trong những năm đầu thế kỉ này đã chứng minh điều đó. Dĩ nhiên, nếu một chú rồng hành động như vậy thì nó đã tự biến mình thành loài bạch tuột đáng sợ đi hoang, ứng xử hẹp hòi và thiếu văn minh.
Một kẻ láng giềng giàu tham lam và táo tợn sẽ hành động gì với “hàng rào” của họ? “Người trong nhà” sẽ không khó để nhận biết. Vậy chúng ta sẽ làm gì? Chỉ có thể nói bằng hai từ “ĐOÀN KẾT” để vạch ra một cơ sách chiến lược đối phó lâu dài và chuẩn bị trước các tình huống xấu nhất có thể. Đó là sức mạnh của giống nòi, là chân lí làm nên lịch sử, quyết định vận mệnh của chúng ta - một dân tộc Việt Nam bền gan, vững chí trước những biến động to lớn của lịch sử.
L.V.T.G.
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:19
quốc nhìn từ biển - Thơ của Nguyễn Việt Chiến
quốc nhìn từ biển - Thơ của Nguyễn Việt ChiếnBài viết được đăng lúc 8:36:52 AM, 09.06.2011
(*) Mới đây người dân huyện đảo Lý Sơn đã tìm thấy một sắc chỉ của vua triều Nguyễn năm 1835 Theo cử dân binh ra canh giữ đảo Hoàng Sa
Theo Thanh Niên
| Minh họa của Văn Nguyễn |
Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi
Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình góa phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng
Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước (*)
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi
Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình góa phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng
Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước (*)
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi
Nguyễn Việt Chiến
(*) Mới đây người dân huyện đảo Lý Sơn đã tìm thấy một sắc chỉ của vua triều Nguyễn năm 1835 Theo cử dân binh ra canh giữ đảo Hoàng Sa
Theo Thanh Niên
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:18
Thủ tướng: VN đủ ý chí và sức mạnh dân tộc bảo vệ biển đảo
Thủ tướng: VN đủ ý chí và sức mạnh dân tộc bảo vệ biển đảoBài viết được đăng lúc 9:01:04 AM, 09.06.2011
Trong bài phát biểu quan trọng tối 8/6 tại Nha Trang, Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: “Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Đồng thời, ông khẳng định:“Nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình”. Kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền biển “Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam được tổ chức tại thành phố biển Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa – một thành phố du lịch xinh đẹp và danh tiếng. Thành phố năng động, có nhiều tiềm năng phát triển của tỉnh Khánh Hòa và Nam Trung bộ của nước ta. Tôi đánh giá cao việc Bộ Tài nguyên và môi trường – UBND tỉnh Khánh Hòa và TW Đoàn TNCS HCM và các bộ ngành, đoàn thể đã phối hợp tổ chức sự kiện quan trọng này. Đây chính là dịp để một lần nữa chúng ta khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ các vùng biển, hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc, hưởng ứng các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu, gìn giữ môi trường biển vì sự phát triển bền vững của hành tinh chúng ta. Nhân sự kiện trọng đại này chúng ta cần tiếp tục khẳng định và tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ quan trọng sau đây: Tiếp tục khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ý chí quyết tâm cao nhất của toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc. Từ bao đời nay, tiếp nối liên tục qua rất nhiều thế hệ, ông cha ta đã đổ biết bao công sức và cả máu xương để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Ngày nay chúng ta cần vận dụng sáng tạo những bài học của lịch sử, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao chính nghĩa, lẽ phải, phát huy nội lực, đi đôi với tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và các hoạt động kinh tế biển. Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cải của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hiệp quốc. Nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình. Chúng ta kiên trì chủ trương giải quyết các tranh chấp ở biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp quốc, đồng thời phản đối mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền và lợi ích chính đáng trên biển của chúng ta. Trong khi kiên trì đàm phán, trong khi kiên trì phấn đấu tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, Việt Nam yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình ở biển Đông, tuân thủ cam kết giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 và năm nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường các nỗ lực, xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an toàn biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm, cùng nhau nghiêm chỉnh thực hiện tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) ký năm 2002 giữa một bên là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và một bên là Trung Quốc; hướng tới xây dựng bộ qui tắc ứng xử (COC), để biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị và phát triển vì lợi ích tất cả các nước trong khu vực; vì an ninh chung của khu vực và trên toàn thế giới. Giữ vững chủ quyền lãnh thổ và giữ vững hòa bình, ổn định ở biển Đông là những vấn đề mang tính toàn cục. Việc xử lý các vấn đề nảy sinh ở biển Đông cần đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước và trong chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế; không để các thế lực phản động tìm cách lợi dụng, công kích chống phá sự lãnh đạo của đảng và nhà nước, xuyên tạc, chia rẽ quan hệ quốc tế giữa nước ta và các nước liên quan.” Hoàn thiện cơ chế chính sách và luật pháp về biển đảo Liên quan đến phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường biển, đảo Việt Nam, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu ra thêm các nhiệm vụ phải thực hiện tốt. Trong đó, có nhiệm vụ: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống, cơ chế chính sách và luật pháp về lĩnh vực biển, đảo, quản lý tài nguyên và môi trường biển, hình thành cơ sở pháp lý đồng bộ và tổ chức thực hiện có hiệu quả để quản lý chặt chẽ, giữ gìn và khai thác có hiệu quả các nguồn lợi từ biển, đảo cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vì lợi ích của nhân dân.” Đồng thời, cần phải:“Có chính sách thích hợp để hình thành các doanh nghiệp mạnh đồng thời huy động các thành phần kinh tế trong nước và nguồn lực quốc tế để khai thác hiệu quả các tiềm năng về biển và hải đảo, đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước; tăng nhanh tỷ trọng của kinh tế biển vào tăng trưởng của cả nền kinh tế. Tăng cường và thực thi có hiệu quả các biện pháp đồng bộ để bảo vệ ngư dân, các lực lượng làm kinh tế và các hoạt động hợp pháp trong các vùng biển, đảo của của Tổ quốc”. Thủ tướng nói: “Trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế biển nói riêng phải gắn với với bảo vệ môi trường, phải lấy phòng ngừa ô nhiễm làm phương châm hành động. Phải loại bỏ tư tưởng chạy theo lợi ích trước mắt mà coi nhẹ việc bảo vệ và tái tạo môi trường. Phải huy động tối đa và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường, đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo”. Theo Trúc Nam Sơn - vietnamnet |
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:16
Mỗi người dân Việt Nam – một cọc nhọn Bạch Đằng
Mỗi người dân Việt Nam – một cọc nhọn Bạch ĐằngBài viết được đăng lúc 10:22:30 AM, 09.06.2011
Thơ PHẠM XUÂN DŨNG
Biển Đông của chúng ta thấm đầy mồ hôi và cả máu …
Của người Việt nam qua muôn nỗi đoạn trường
Dân biển chỉ muốn yên ổn làm ăn kiếm con tôm con cá
Lương thiện đến tận cùng lấy sóng gió làm cơm.
Biển Đông của chúng ta thấm đầy mồ hôi và cả máu …
Của người Việt nam qua muôn nỗi đoạn trường
Dân biển chỉ muốn yên ổn làm ăn kiếm con tôm con cá
Lương thiện đến tận cùng lấy sóng gió làm cơm.
Nhưng nào được yên thân dẫu nhọc nhằn khuya sớm
Lũ Tàu kia trên biển cứ hung hăng
Chúng muốn biến biển ta thành ao nhà của chúng
Đã vội quên sao những cọc nhọn Bạch đằng?
Ta yêu chuộng hòa bình và căm ghét trò gây hấn
Muốn yên thân mà chẳng được yên thân
Giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Sóng biển kia dìm xác giặc bao lần.
Giấc mộng thiên triều ngàn đời không đổi sắc
Ai tin chi chuyện kẻ cướp la làng
Cướp biển , cướp rừng,cướp từng tấc đất
Chuyện cũ rồi chuyện mới đã ngàn năm.
Đêm ta ngủ hồn thức cùng biên cương Tổ quốc
Mơ thấy Chi lăng,nhớ đến Bạch đằng…
Và thấy xôn xao đất rừng Bản Giốc
Thấy biển Đông nổi sóng chỗ ta nằm.
Nghe Trường sa, Hoàng sa nóng dần trong huyết quản
Thịt xương đồng bào dựng biết mấy hải đăng
Nếu tàu lạ còn hung hăng cướp biển
Mỗi người dân Việt nam- một cọc nhọn Bach đằng!
Lũ Tàu kia trên biển cứ hung hăng
Chúng muốn biến biển ta thành ao nhà của chúng
Đã vội quên sao những cọc nhọn Bạch đằng?
Ta yêu chuộng hòa bình và căm ghét trò gây hấn
Muốn yên thân mà chẳng được yên thân
Giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Sóng biển kia dìm xác giặc bao lần.
Giấc mộng thiên triều ngàn đời không đổi sắc
Ai tin chi chuyện kẻ cướp la làng
Cướp biển , cướp rừng,cướp từng tấc đất
Chuyện cũ rồi chuyện mới đã ngàn năm.
Đêm ta ngủ hồn thức cùng biên cương Tổ quốc
Mơ thấy Chi lăng,nhớ đến Bạch đằng…
Và thấy xôn xao đất rừng Bản Giốc
Thấy biển Đông nổi sóng chỗ ta nằm.
Nghe Trường sa, Hoàng sa nóng dần trong huyết quản
Thịt xương đồng bào dựng biết mấy hải đăng
Nếu tàu lạ còn hung hăng cướp biển
Mỗi người dân Việt nam- một cọc nhọn Bach đằng!
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:15
Nói với con về đảo xa Tổ quốc
Nói với con về đảo xa Tổ quốcBài viết được đăng lúc 10:32:11 AM, 09.06.2011
Thơ NGUYỄN ĐĂNG TẤN
Cha đã đi qua cuộc chiến 30 năm
Và hiểu thế nào là đất đai tổ quốc
Cha đã đi qua cuộc chiến 30 năm
Và hiểu thế nào là đất đai tổ quốc
Máu và máu chảy dài như nước
Mỗi luống cày hồn đất nước thẳm sâu.
Mỗi luống cày hồn đất nước thẳm sâu.
Biển xanh kia mây bạc trắng mái đầu
Hoàng Sa, Trường Sa, ngực trần nơi dông bão
Nơi niềm tin đã một lần đánh tráo
Nơi bạn bè thành kẻ cướp giơ nanh.
Hoàng Sa, Trường Sa, ngực trần nơi dông bão
Nơi niềm tin đã một lần đánh tráo
Nơi bạn bè thành kẻ cướp giơ nanh.
Lớp lớp sóng xanh hòa lẫn tuổi xanh
Những Hải đội vẫn cười khi lễ khao lề thế
Dẫu biết không trở về chẳng bao giờ ngấn lệ
Đất của mình, chẳng tiếc tuổi xanh.
Những Hải đội vẫn cười khi lễ khao lề thế
Dẫu biết không trở về chẳng bao giờ ngấn lệ
Đất của mình, chẳng tiếc tuổi xanh.
Và hôm nay máu của cha anh
Hàng ngày, hàng ngày vẫn chảy trên biển xanh sóng vỗ
Kẻ thù ở bên ta muốn chiếm nhà ta đó
Biển của ta vẫn muốn biến ao nhà.
Hàng ngày, hàng ngày vẫn chảy trên biển xanh sóng vỗ
Kẻ thù ở bên ta muốn chiếm nhà ta đó
Biển của ta vẫn muốn biến ao nhà.
Tuổi trẻ con vẫn cứ hát tình ca
Bàn tay con, những công trình rộng mở
Nhưng biển chưa yên con hãy luôn ghi nhớ
Dẫu đổ máu xương vẫn quyết giữ yên bình.
Bàn tay con, những công trình rộng mở
Nhưng biển chưa yên con hãy luôn ghi nhớ
Dẫu đổ máu xương vẫn quyết giữ yên bình.
1-6-2011
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:14
Sử thi… cháy
Sử thi… cháy Bài viết được đăng lúc 11:00:12 AM, 09.06.2011
LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
Có một cuốn sử thi cháy rực giữa sóng chiều
mấy nghìn năm lửa còn rừng rực đỏ
dẫu biển trời gió bão há đổi càn khôn?
Ngày đó…
thuở man khai, bọc trứng hạ sinh thường
dân Đại Việt trấn nghiêm bờ cõi
lập đại nghiệp
giữa trùng khơi ngút ngát
Hoàng Sa!
Trường Sa!
da thịt thiêng liêng của Tổ Quốc
Mới đây
lũ diều hâu – tàu lạ hung hăng
dám xé nước vào sâu đất có chủ
phá đạo trời, cố thiết đạo lưu manh
xưng nước lớn, bụng dạ nước hèn lu
Cuốn sử thi cháy miết giữa trời không
thắc thỏm choàng…
chủ quyền không đổi
nghìn năm lịch sử còn ghi
Hãy hò đi một khúc hừng xuân cổ
rực tấm lòng tri ân nghĩa muôn người
kiến quốc gia!
thiết lại nhà, chí khí sông biển tạ
giành lại biển trời ta đã đổ nghìn xương
Đời đời…hậu thế
khảm sâu trong lòng con dân Việt:
dáng đứng đoan hùng
hải đảo kiên trung
Huế, 9/6/2011
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:13
Hiện diện để khẳng định chủ quyền
Hiện diện để khẳng định chủ quyềnBài viết được đăng lúc 4:49:37 PM, 09.06.2011
Đó là ý kiến của PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN tại Diễn đàn kinh tế biển VN 2011, do Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tổ chức ngày 8.6, tại TP Nha Trang (Khánh Hòa). Khẳng định chủ quyền thực tế Đề cập đến định hình chiến lược kinh tế biển VN, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh vấn đề “hiện diện để khẳng định chủ quyền”. Ông phân tích: “Thực lực hiện diện của VN trên các vùng biển và đại dương đã được xác lập và khẳng định, song chưa đủ mạnh. Chúng ta không dừng lại ở “chủ quyền lãnh hải” tại biển Đông mà cần đặc biệt chú ý đến việc khẳng định sự hiện diện đại dương (trên các vùng biển quốc tế). Đây là cách chứng tỏ năng lực khẳng định chủ quyền thực tế, năng lực chinh phục, vươn xa thực sự của VN. Đây cũng là cách để thoát khỏi lối tư duy và phương thức sinh tồn “quay lưng ra biển”, “đánh bắt gần bờ”, thiếu ý chí và văn hóa chinh phục”. Để thực hiện mục tiêu trên, theo PGS.TS Trần Đình Thiên, cần tập trung ưu tiên phát triển lực lượng hàng hải viễn dương và khẩn trương vươn lên thành cường quốc hàng hải; xác lập và tăng cường các tuyến bay qua các hành lang biển; củng cố và phát triển các đảo thuộc chủ quyền ở tất cả các khía cạnh khẳng định chủ quyền - không chỉ quân sự mà tập trung mạnh các khía cạnh chủ quyền dân sự: dân cư, kinh tế, văn hóa; phát triển nhanh, mạnh du lịch biển đảo với tư cách là một hình thức hiện diện chủ quyền được thừa nhận quốc tế; hình thành một số dự án nghiên cứu, khai thác kinh tế biển, nhất là các dự án ở vùng biển xa, có tầm cỡ, chú trọng liên doanh với nước ngoài (các tập đoàn lớn) với những điều kiện thỏa đáng và đặt trong tầm nhìn chiến lược. Ngoài ra, cần ưu tiên xây dựng một số cứ điểm phát triển chiến lược mạnh ven biển. Những cứ điểm này là các tổ hợp phát triển lớn bao gồm đô thị biển, cảng biển lớn, khu kinh tế mở (hay khu kinh tế tự do).
“Đã đến lúc cần có những đột phá mới trong tư duy và chiến lược phát triển kinh tế biển. Phải chuyển nhanh từ phương thức “mò cua bắt ốc” sang phương thức kết hợp: khai thác mặt tiền (biển - lợi thế địa chiến lược) và tự do hóa (thể chế vượt trước). Đây là công thức thành công của nhiều quốc gia đi trước trong nỗ lực phát triển kinh tế biển và trở thành cường quốc biển”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh. Khu kinh tế tự do ven biển
PGS.TS Bùi Tất Thắng (Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư), đề xuất: “Trong tư duy phát triển kinh tế biển, cùng với việc xây dựng hệ thống các khu kinh tế ven biển, có thể nghiên cứu lựa chọn một vài khu xây dựng thành các khu kinh tế tự do ven biển, nhằm tạo ra sự đột phá đủ lớn, mở ra một thời kỳ phát triển kinh tế biển với mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển”. Theo PGS.TS Bùi Tất Thắng, nhìn chung, các khu kinh tế tự do thành công đều có chung đặc điểm: thể chế hiện đại, áp dụng luật pháp quốc tế, nguồn lực phát triển đa dạng và mức độ tập trung cao, thời gian xây dựng ngắn, trở thành nơi hội tụ của đông đảo các công ty hàng đầu thế giới. Vì vậy, khi chọn một khu kinh tế ven biển để tập trung phát triển, VN nên quan tâm đến kinh nghiệm này. TS Trần Du Lịch, chuyên gia kinh tế, người tham gia phản biện tại diễn đàn cho biết: nhìn chung, cơ cấu kinh tế biển của các địa phương không có tầm nhìn quốc gia, nguồn lực đầu tư phân tán, nên kém hiệu quả. Dẫn chứng, các tỉnh duyên hải từ Thừa Thiên - Huế đến Khánh Hòa đầy tiềm năng về biển, nhưng hiện nay chỉ có Đà Nẵng và Khánh Hòa đóng góp ngân sách, còn lại là tỉnh nghèo. Ngoài ra, tình trạng một lĩnh vực kinh tế biển nhưng quá nhiều bộ, ngành quản lý đã gây ra sự chồng chéo, làm hạn chế việc phát triển. “Sau diễn đàn này, chúng ta nên kiến nghị Chính phủ cần phải giao trách nhiệm cho một bộ hoặc văn phòng chịu trách nhiệm xử lý đồng bộ những nội dung về phát triển kinh tế biển”, ông nói.
|
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:12
Tổ quốc ở phía Đông
Tổ quốc ở phía ĐôngBài viết được đăng lúc 10:28:24 AM, 10.06.2011
NGUYỄN HỮU QUÝ
Tùy bút
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh…
Thuở bé thơ, tôi đã nhìn ra biển. Mùa lặng sóng. Cửa Gianh quê tôi sớm sớm mặt trời lên chói lòa rạng rỡ. Biển lộng lẫy trong những bình minh đỏ. Biển xanh biếc trong ánh nắng ban trưa. Và, biển dịu dàng tím lại khi trời đổ bóng hoàng hôn. Biển là một phần quê đau đáu của tôi với những cánh buồm nâu buồm trắng nhấp nhô, với mỗi cơn gió nồm mát rượi thổi căng bầu trời mùa hạ cao xanh, với mùi thơm cá trích nướng lan tỏa đêm đêm, với thìa nước mắm cốt đậm đà thít tha đầu lưỡi, với nụ hôn đầu đời bên chân sóng mặn…Chưa dứt trong tôi lời hát ru buồn buồn của mạ giữa mang mang gió biển thổi vào: Về Đá Nhảy lao xao sóng bể/ Nỗi buồn theo Vụng Hóp, Khe Giang/ Từ Đồng Miếu sang Cha Màn/ Lên Đá Bụt tới Mạ Ca năn nỉ/ Trời Nam biển Bắc bao nỗi nhớ thương/ Ơn cha nghĩa mẹ lỗi đạo thường báo đáp. Dân Việt mình, thường vận núi sông vào tình cảm con người hay mượn rừng biển để bày tỏ cái kín đáo ủ giữa tâm can. Trong những lần về quê, trước mênh mang trời biển, tôi vẫn thường đặt câu hỏi với Cửa Gianh: Ở đâu, năm 1471 Vua Lê Thánh Tông khi đi đánh Chiêm Thành đã tức cảnh sinh tình đưa bút phác nên bài thơ Linh Giang Hải tấn? Xin được trích 2 câu cuối trong bài thơ làm theo thể Đường luật của đấng Hiền minh này: Ký nam thánh hóa hoằng nhu viễn/ Khẳng hạn phong cương ngoại đạo vi (Dịch nghĩa: Bậc thánh nhân đi giáo hóa đến miền Nam để vỗ về phương xa/ Không vì ngoài biên cương hiểm trở mà bỏ người dân nơi hải đảo này). Chao ôi, từ thời xa xưa biên cương biển đảo đã là mối toan lo vời vợi của ông cha. Cân nhắc cương nhu để nghĩ ra những kế sách và tập trung nhân tài vật lực nhằm giữ gìn giang sơn bờ cõi mãi là việc phải làm, nên làm, đặng cho xứng với Tuyên ngôn Đại Việt: Nam quốc sơn hà Nam đế cư…
Nhắc lại, đọc lại người xưa để ngẫm nghĩ kỹ hơn, sâu hơn về bàn cờ thế cuộc, thời vận bây giờ. Vật đổi sao dời, bao phen dâu bể, thế mà sau nghìn năm, những mưu toan bành trướng chiếm đoạt của kẻ láng giềng phương Bắc hình như không thay đổi mấy. Bán anh em xa mua láng giềng gần. Ta cũng mong điều ấy nên sau mấy lầnlấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều thành công vẫn chủ động bang giao hòa hiếu. Nhưng, lịch sử đã nhiều lần lặp lại chữ nhưng này, kẻ làm anh làm ả vẫn không biết ngả mặt lên (lấy ý từ câu thành ngữ ở quê tôi:làm anh làm ả phải ngả mặt lên) để sống nhu hiền với em út, trái lại cậy thế lớn, thế mạnh làm bao điều càn rỡ. Mấy phen kẻ ấy bí mật mặc cả mua bán quyền lợi ích kỷ của họ trên lưng dân tộc ta. Những cuộc đi đêm ấy đã bị phanh phui chỉ trích. Kẻ ấy, từng vượt biển đánh cắp Hoàng Sa của ta, từng gây ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc tàn khốc năm 1979 và nay lại cố tình gây hấn với vụ tàu Bình Minh 02 trên biển của Việt Nam trong mùa hạ nóng bỏng này. Vừa ăn cướp vừa la làng. Phải sòng phẳng gọi ra đúng tên sự việc như thế. Gây sự trong vùng biển của Việt Nam thế mà họ vẫn cứ leo lẻo mắng mỏ ta là làm mất ổn định khu vực. Họ, cái kẻ láng giềng cậy lớn, cậy mạnh đó vẫn ngang ngược cho việc làm của mình là đúng. Trời ơi, kẻ đi cướp lại lên giọng dạy bảo người bị cướp về sự tử tế. Tôi nghĩ, chưa bao giờ, vâng, chưa bao giờ, người anh em ấy người đồng chí ấy, người láng giềng ấy thực lòng với ta. Họ muốn ta mãi mãi là cái cây cớm nắng dưới cái bóng sum suê tầm cỡ đại thụ của họ.
Một kỷ niệm không quên với tôi trong chuyến đi Trung Quốc mùa Đông năm 2009. Bản đồ Trung Quốc với cái hình lưỡi bò tham lam muốn nuốt hết Biển Đông vẫn thường hiện ra trên màn hình ở máy bay. Một nhà văn ngồi cạnh tôi nói: “Ông coi, cái chất Đại Hán đang hiện lộ từng ngày”. Tôi nói: “Máu bành trướng của Trung Quốc vẫn nguyên vẹn. Dân tộc mình còn khổ sở với họ nhiều đấy”. Và, có vẻ như sau khi xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh trong đó có chiếc tàu sân bay đầu tiên sắp được hạ thủy họ đang từng bước biến cái lưỡi bò trên bản đồ thành chiếc lưỡi bò thật trên Biển Đông. Chiếc lưỡi bò Đại Hán do họ vẽ ra chiếm hàng triệu cây số vuông biển. Họ cũng biết rằng, trở ngại lớn nhất của họ khi thực thi chiến lược Biển Đông là Việt Nam và vụ Bình Minh 02 là khúc dạo đầu của Trung Quốc trong cuộc Nam tiến trên đại dương.
Đêm qua ngồi xem lại những trang nhật ký đi Trường Sa bỗng xao lòng quá. Cuộc đi của tôi ra quần đảo thân yêu của Tổ quốc đã hơn mười năm rồi mà những hình ảnh về cảnh vật và con người ở đây vẫn hiện rõ mồn một, rất sinh động. Văn hóa Việt đã cắm mốc trên những đảo nổi đảo chìm xa xôi mà vô cùng gần gũi đó. Hành trình Trường Sa ngân rung trong tôi những cung bậc tình cảm không dễ gì đánh đổi được qua những dòng ghi chép chân thật trên biển Tổ quốc yêu thương:
“...Đảo Trường Sa đây rồi. Cầu cảng. Bãi cát san hô vàng nhạt, hạt thô. Có nhiều cây xanh. Cây bàng vuông, cây bàng ta, phi lao và tất nhiên không thể thiếu cây bão táp (cây phong ba). Đảo có nhà hai tầng, bộ đội đã được ở nhà xây. Nhiều chó, lợn, gà, chim bồ câu…Gặp một số chiến sỹ ở đảo. Lính rắn rỏi, da biển mặn mòi. Rất hiền, rất tự nhiên và chân thành cởi mở với nhau. Lính để tóc dài, không phải là lính đầu sư như dạo trước. Chiều, sau giờ làm việc mặc áo phông, tắm xà phòng thơm lựng…Tối, ăn cơm với Trung đội Thông tin. Trung đội trưởng tên Xuân. Mình bảo có con gái đầu lòng 18 tuổi, các chú lính tranh nhau nhận làm bố vợ…Đoàn Văn công Quân khu 4 diễn ở mốc chủ quyền. Lính ngồi xem rất trật tự và nồng nhiệt. Vỗ tay luôn luôn. Không có hoa tươi tặng diễn viên, các chàng lính tặng hoa nhựa…
…Đá Tây là đảo chìm, ta phải xây nhà kiên cố lên. Có 4 điểm đảo. Đoàn lên điểm D. Điểm D, cột mốc chủ quyền ghi khắc bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt, trước có đặt lư hương. Không có cây xanh. Rau muống trồng trong khay. Khá xanh tốt. Hoa muống trắng ở đất liền nhìn bình thường ra Trường Sa thấy thương quá. Lính ta tuổi còn rất trẻ mà 5 anh tóc đã bạc lốm đốm. Những người lính mặt trẻ tóc già. Văn công biểu diễn giữa trời nắng chang chang. Lính lấy hoa rau muống trắng tặng diễn viên…
…Đảo Trường Sa Đông có những cây bàng ta rất xanh tốt. Lá đang non, xanh mượt. Anh em trồng nhiều loại bầu bí và rau. Cả ớt. Lính đảo thích ăn ớt tươi. Ớt chưa kịp già đã được hái ăn. Đảo không nuôi được lợn. Chỉ có chó. Nhưng anh em nuôi chim. Chim khướu, chim chèo bẻo nuôi trong lồng hót lảnh lót giữa trùng khơi...
…Tàu đến đảo Phan Vinh. Từ tàu Ti Tan trong ánh nắng chiều đã nhìn thấy đảo và vành khuyên san hô nổi chìm trong sóng. Đảo Phan Vinh phần chìm dựng đứng, nước sâu hoắm, sóng xô vào bị cuộn trở ra. Chỉ cần sóng cấp 5 xuồng đã khó vào đảo…Biển xanh màu ngọc bích. Trời trong. Thế mà khi vào bờ sóng vẫn chồm nghiêng ngả. Cán bộ, chiến sỹ ta đã đứng đợi ở trên bờ, một số lính ta đứng sẵn dưới nước để phụ dìu xuồng cao su vào…Lính Trường Sa, ở đảo nào cũng đều có nước da đen mặn mòi, câu chào nụ cười luôn đi trước. Trường Sa quý người, hiếu khách lắm. Được người đất liền nắm tay cười hỏi đều bối rối cảm động. Phan Vinh có 3 cây bàng vuông và 1 cây dừa. Đều do bộ đội trồng. Cây dừa được trồng năm 1988. Dừa nay đã cao chừng 4 mét, đang ra 4 buồng quả non (như quả cau lớn). Các tàu lá ở rìa bị nắng đốt sém. Cây dừa Phan Vinh được trồng bên cột mốc chủ quyền, cạnh đó có tấm bảng xi măng ghi lời Bác “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài và tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn lấy nó”…
Tôi đã đi qua đảo Thuyền Chài, Tiên Nữ, Núi Le…rồi sau đó trên hải trình trở lại đất liền ghé thăm các Nhà giàn DK1. Đến đâu cũng gặp cuộc sống Việt, tâm hồn Việt, tinh thần Việt tỏa sáng. Tiếng Việt, ngôn ngữ mẹ đẻ của tôi nghe giữa trùng khơi càng thân quen thương mến. Những gì bình thường nhất ở đất liền khi ra đảo, nhà giàn cũng làm ta rưng rưng muôn nỗi. Một người lính trên nhà giàn đã nói với tôi: chúng em nghe tiếng gà gáy như nghe tiếng quê. Không có gì giản dị mà sâu sắc hơn thế. Đứng nơi đầu sóng ngọn gió, mỗi người lính, người dân trên biển đảo Tổ quốc là một cột mốc sống của cương vực bờ cõi. Những công dân Việt Nam ấy, từ người kỹ sư công nhân dầu khí, quan trắc khí tượng đến nhà khoa học, người lính đảo lính tàu tới những người dân bình thường đánh bắt hải sản trên vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa là một phần Tổ quốc ở phía Đông. Họ, bất chấp hiểm nguy để mỗi ngày, mỗi ngày khẳng định lãnh hải không thể chối cãi của Đất nước trên một vùng trời nước mênh mang. Đó cũng là sự kế tiếp hành trình xưa của ông cha ra biển đảo muôn vàn gian truân để hôm nay ta có những Bạch Long Vỹ, Cô Tô, Quan Lạn, Hòn Mê, Cồn Cỏ, Côn Lôn, Phú Quốc…và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa yêu dấu. Cả dân tộc chạy tiếp sức trong hành trình dài lâu ra biển với tinh thần tự tôn tự trọng Việt Nam. Sẽ có những thế lực ngáng trở phá hoại hành trình đó, sẽ có những cuộc xâm lăng mới của kẻ tham lam cậy thế mạnh giàu. Đừng nghi ngờ điều đó. Tôi nghĩ, sự ổn định bình yên thuận hòa sẽ rất mong manh ở Biển Đông dù đó là mong ước khát khao của chúng ta. Và, hệ quả của nó sẽ là Biển Đông dậy sóng. Dậy sóng không phải từ những tâm bão thiên nhiên mà từ những mưu mô xâm chiếm của kẻ vẽ nên chiếc lưỡi bò quái đản kia.
Kẻ gieo gió ắt sẽ gặp bão. Nói theo cách dân gian Đất Việt là thế. Nói theo cách của Lý Thường Kiệt là Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Thất bại đang chờ lũ chúng bay. Nói theo cách Nguyễn Trãi là Dơ bẩn thay! Nước bể không rửa hết mùi./ Lẽ nào trời đất tha cho,/ Ai bảo thần nhân nhịn được? Nói theo Hồ Chí Minh là: Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…
Vẫn tin rằng, sẽ có một ngày như Trương Hán Siêu ngày xưa, trước biển mênh mông, ta vừa đi vừa ca rằng:
Sông Đằng một dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về Biển Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh…
Tháng 6 năm 201
Tùy bút
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh…
Không ít lần khi đi qua Trung tâm Hội nghị Quốc gia tại Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội tôi lại ngoái nhìn mái nhà hình sóng lượn. Chủ ý sâu xa của người thiết kế thế nào, có phải đó là hình tượng của Biển Đông dậy sóng được thể hiện bằng ngôn ngữ kiến trúc? Cái vùng nước mặn mênh mông ở phía Đông dải đất cong cong chữ S, một phần thiêng liêng của lãnh thổ Việt Nam chưa bao giờ yên ả. Đã có bao ngọn sóng dựng cao bởi xoáy lốc bão tố của thiên nhiên. Từ xưa đến nay, đã từng xảy ra những cuộc đối chiến đầm đìa máu giữa những người yêu nước và quân xâm lược ở đây. Cuộc chiến giữ gìn biển đảo của Tổ quốc đã, đang và sẽ vô cùng nghiệt ngã, vô cùng phức tạp, vô cùng dài lâu. Xét về mặt thời gian, có lẽ đây sẽ là cuộc chiến dằng dặc nhất, tính bằng con số hàng chục năm, hàng trăm năm và có thể hàng nghìn năm. Biển, từng ấy cây số vuông. Đảo, nổi chìm ngần ấy hòn. Nhưng, thời gian sẽ là thăm thẳm với những thách thức khổng lồ mà dân tộc Việt này nếu nhụt ý chí, non bản lĩnh, kém khôn ngoan sẽ bị lấn lướt, áp đặt, thua thiệt. Hình như, hình tượng Biển Đông dậy sóng trên mái nhà Trung tâm Hội nghị Quốc gia đã “vận” vào số phận định mệnh dân tộc ta ở hai chiều quá khứ và tương lai. Số phận của một dân tộc, đất không rộng lắm, người không đông lắm, đến đầu thế kỷ 21 mới rụt rè bước qua ngưỡng những nước có thu nhập trung bình đã từng, đang và sẽ gắn mãi với Biển Đông. Danh dự của dân tộc sẽ là đây, tương lai của dân tộc cũng sẽ là đây; nhất định như thế, không thể nào khác được.
Thuở bé thơ, tôi đã nhìn ra biển. Mùa lặng sóng. Cửa Gianh quê tôi sớm sớm mặt trời lên chói lòa rạng rỡ. Biển lộng lẫy trong những bình minh đỏ. Biển xanh biếc trong ánh nắng ban trưa. Và, biển dịu dàng tím lại khi trời đổ bóng hoàng hôn. Biển là một phần quê đau đáu của tôi với những cánh buồm nâu buồm trắng nhấp nhô, với mỗi cơn gió nồm mát rượi thổi căng bầu trời mùa hạ cao xanh, với mùi thơm cá trích nướng lan tỏa đêm đêm, với thìa nước mắm cốt đậm đà thít tha đầu lưỡi, với nụ hôn đầu đời bên chân sóng mặn…Chưa dứt trong tôi lời hát ru buồn buồn của mạ giữa mang mang gió biển thổi vào: Về Đá Nhảy lao xao sóng bể/ Nỗi buồn theo Vụng Hóp, Khe Giang/ Từ Đồng Miếu sang Cha Màn/ Lên Đá Bụt tới Mạ Ca năn nỉ/ Trời Nam biển Bắc bao nỗi nhớ thương/ Ơn cha nghĩa mẹ lỗi đạo thường báo đáp. Dân Việt mình, thường vận núi sông vào tình cảm con người hay mượn rừng biển để bày tỏ cái kín đáo ủ giữa tâm can. Trong những lần về quê, trước mênh mang trời biển, tôi vẫn thường đặt câu hỏi với Cửa Gianh: Ở đâu, năm 1471 Vua Lê Thánh Tông khi đi đánh Chiêm Thành đã tức cảnh sinh tình đưa bút phác nên bài thơ Linh Giang Hải tấn? Xin được trích 2 câu cuối trong bài thơ làm theo thể Đường luật của đấng Hiền minh này: Ký nam thánh hóa hoằng nhu viễn/ Khẳng hạn phong cương ngoại đạo vi (Dịch nghĩa: Bậc thánh nhân đi giáo hóa đến miền Nam để vỗ về phương xa/ Không vì ngoài biên cương hiểm trở mà bỏ người dân nơi hải đảo này). Chao ôi, từ thời xa xưa biên cương biển đảo đã là mối toan lo vời vợi của ông cha. Cân nhắc cương nhu để nghĩ ra những kế sách và tập trung nhân tài vật lực nhằm giữ gìn giang sơn bờ cõi mãi là việc phải làm, nên làm, đặng cho xứng với Tuyên ngôn Đại Việt: Nam quốc sơn hà Nam đế cư…
Nhắc lại, đọc lại người xưa để ngẫm nghĩ kỹ hơn, sâu hơn về bàn cờ thế cuộc, thời vận bây giờ. Vật đổi sao dời, bao phen dâu bể, thế mà sau nghìn năm, những mưu toan bành trướng chiếm đoạt của kẻ láng giềng phương Bắc hình như không thay đổi mấy. Bán anh em xa mua láng giềng gần. Ta cũng mong điều ấy nên sau mấy lầnlấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều thành công vẫn chủ động bang giao hòa hiếu. Nhưng, lịch sử đã nhiều lần lặp lại chữ nhưng này, kẻ làm anh làm ả vẫn không biết ngả mặt lên (lấy ý từ câu thành ngữ ở quê tôi:làm anh làm ả phải ngả mặt lên) để sống nhu hiền với em út, trái lại cậy thế lớn, thế mạnh làm bao điều càn rỡ. Mấy phen kẻ ấy bí mật mặc cả mua bán quyền lợi ích kỷ của họ trên lưng dân tộc ta. Những cuộc đi đêm ấy đã bị phanh phui chỉ trích. Kẻ ấy, từng vượt biển đánh cắp Hoàng Sa của ta, từng gây ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc tàn khốc năm 1979 và nay lại cố tình gây hấn với vụ tàu Bình Minh 02 trên biển của Việt Nam trong mùa hạ nóng bỏng này. Vừa ăn cướp vừa la làng. Phải sòng phẳng gọi ra đúng tên sự việc như thế. Gây sự trong vùng biển của Việt Nam thế mà họ vẫn cứ leo lẻo mắng mỏ ta là làm mất ổn định khu vực. Họ, cái kẻ láng giềng cậy lớn, cậy mạnh đó vẫn ngang ngược cho việc làm của mình là đúng. Trời ơi, kẻ đi cướp lại lên giọng dạy bảo người bị cướp về sự tử tế. Tôi nghĩ, chưa bao giờ, vâng, chưa bao giờ, người anh em ấy người đồng chí ấy, người láng giềng ấy thực lòng với ta. Họ muốn ta mãi mãi là cái cây cớm nắng dưới cái bóng sum suê tầm cỡ đại thụ của họ.
Một kỷ niệm không quên với tôi trong chuyến đi Trung Quốc mùa Đông năm 2009. Bản đồ Trung Quốc với cái hình lưỡi bò tham lam muốn nuốt hết Biển Đông vẫn thường hiện ra trên màn hình ở máy bay. Một nhà văn ngồi cạnh tôi nói: “Ông coi, cái chất Đại Hán đang hiện lộ từng ngày”. Tôi nói: “Máu bành trướng của Trung Quốc vẫn nguyên vẹn. Dân tộc mình còn khổ sở với họ nhiều đấy”. Và, có vẻ như sau khi xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh trong đó có chiếc tàu sân bay đầu tiên sắp được hạ thủy họ đang từng bước biến cái lưỡi bò trên bản đồ thành chiếc lưỡi bò thật trên Biển Đông. Chiếc lưỡi bò Đại Hán do họ vẽ ra chiếm hàng triệu cây số vuông biển. Họ cũng biết rằng, trở ngại lớn nhất của họ khi thực thi chiến lược Biển Đông là Việt Nam và vụ Bình Minh 02 là khúc dạo đầu của Trung Quốc trong cuộc Nam tiến trên đại dương.
Đêm qua ngồi xem lại những trang nhật ký đi Trường Sa bỗng xao lòng quá. Cuộc đi của tôi ra quần đảo thân yêu của Tổ quốc đã hơn mười năm rồi mà những hình ảnh về cảnh vật và con người ở đây vẫn hiện rõ mồn một, rất sinh động. Văn hóa Việt đã cắm mốc trên những đảo nổi đảo chìm xa xôi mà vô cùng gần gũi đó. Hành trình Trường Sa ngân rung trong tôi những cung bậc tình cảm không dễ gì đánh đổi được qua những dòng ghi chép chân thật trên biển Tổ quốc yêu thương:
“...Đảo Trường Sa đây rồi. Cầu cảng. Bãi cát san hô vàng nhạt, hạt thô. Có nhiều cây xanh. Cây bàng vuông, cây bàng ta, phi lao và tất nhiên không thể thiếu cây bão táp (cây phong ba). Đảo có nhà hai tầng, bộ đội đã được ở nhà xây. Nhiều chó, lợn, gà, chim bồ câu…Gặp một số chiến sỹ ở đảo. Lính rắn rỏi, da biển mặn mòi. Rất hiền, rất tự nhiên và chân thành cởi mở với nhau. Lính để tóc dài, không phải là lính đầu sư như dạo trước. Chiều, sau giờ làm việc mặc áo phông, tắm xà phòng thơm lựng…Tối, ăn cơm với Trung đội Thông tin. Trung đội trưởng tên Xuân. Mình bảo có con gái đầu lòng 18 tuổi, các chú lính tranh nhau nhận làm bố vợ…Đoàn Văn công Quân khu 4 diễn ở mốc chủ quyền. Lính ngồi xem rất trật tự và nồng nhiệt. Vỗ tay luôn luôn. Không có hoa tươi tặng diễn viên, các chàng lính tặng hoa nhựa…
…Đá Tây là đảo chìm, ta phải xây nhà kiên cố lên. Có 4 điểm đảo. Đoàn lên điểm D. Điểm D, cột mốc chủ quyền ghi khắc bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt, trước có đặt lư hương. Không có cây xanh. Rau muống trồng trong khay. Khá xanh tốt. Hoa muống trắng ở đất liền nhìn bình thường ra Trường Sa thấy thương quá. Lính ta tuổi còn rất trẻ mà 5 anh tóc đã bạc lốm đốm. Những người lính mặt trẻ tóc già. Văn công biểu diễn giữa trời nắng chang chang. Lính lấy hoa rau muống trắng tặng diễn viên…
…Đảo Trường Sa Đông có những cây bàng ta rất xanh tốt. Lá đang non, xanh mượt. Anh em trồng nhiều loại bầu bí và rau. Cả ớt. Lính đảo thích ăn ớt tươi. Ớt chưa kịp già đã được hái ăn. Đảo không nuôi được lợn. Chỉ có chó. Nhưng anh em nuôi chim. Chim khướu, chim chèo bẻo nuôi trong lồng hót lảnh lót giữa trùng khơi...
…Tàu đến đảo Phan Vinh. Từ tàu Ti Tan trong ánh nắng chiều đã nhìn thấy đảo và vành khuyên san hô nổi chìm trong sóng. Đảo Phan Vinh phần chìm dựng đứng, nước sâu hoắm, sóng xô vào bị cuộn trở ra. Chỉ cần sóng cấp 5 xuồng đã khó vào đảo…Biển xanh màu ngọc bích. Trời trong. Thế mà khi vào bờ sóng vẫn chồm nghiêng ngả. Cán bộ, chiến sỹ ta đã đứng đợi ở trên bờ, một số lính ta đứng sẵn dưới nước để phụ dìu xuồng cao su vào…Lính Trường Sa, ở đảo nào cũng đều có nước da đen mặn mòi, câu chào nụ cười luôn đi trước. Trường Sa quý người, hiếu khách lắm. Được người đất liền nắm tay cười hỏi đều bối rối cảm động. Phan Vinh có 3 cây bàng vuông và 1 cây dừa. Đều do bộ đội trồng. Cây dừa được trồng năm 1988. Dừa nay đã cao chừng 4 mét, đang ra 4 buồng quả non (như quả cau lớn). Các tàu lá ở rìa bị nắng đốt sém. Cây dừa Phan Vinh được trồng bên cột mốc chủ quyền, cạnh đó có tấm bảng xi măng ghi lời Bác “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài và tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn lấy nó”…
Tôi đã đi qua đảo Thuyền Chài, Tiên Nữ, Núi Le…rồi sau đó trên hải trình trở lại đất liền ghé thăm các Nhà giàn DK1. Đến đâu cũng gặp cuộc sống Việt, tâm hồn Việt, tinh thần Việt tỏa sáng. Tiếng Việt, ngôn ngữ mẹ đẻ của tôi nghe giữa trùng khơi càng thân quen thương mến. Những gì bình thường nhất ở đất liền khi ra đảo, nhà giàn cũng làm ta rưng rưng muôn nỗi. Một người lính trên nhà giàn đã nói với tôi: chúng em nghe tiếng gà gáy như nghe tiếng quê. Không có gì giản dị mà sâu sắc hơn thế. Đứng nơi đầu sóng ngọn gió, mỗi người lính, người dân trên biển đảo Tổ quốc là một cột mốc sống của cương vực bờ cõi. Những công dân Việt Nam ấy, từ người kỹ sư công nhân dầu khí, quan trắc khí tượng đến nhà khoa học, người lính đảo lính tàu tới những người dân bình thường đánh bắt hải sản trên vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa là một phần Tổ quốc ở phía Đông. Họ, bất chấp hiểm nguy để mỗi ngày, mỗi ngày khẳng định lãnh hải không thể chối cãi của Đất nước trên một vùng trời nước mênh mang. Đó cũng là sự kế tiếp hành trình xưa của ông cha ra biển đảo muôn vàn gian truân để hôm nay ta có những Bạch Long Vỹ, Cô Tô, Quan Lạn, Hòn Mê, Cồn Cỏ, Côn Lôn, Phú Quốc…và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa yêu dấu. Cả dân tộc chạy tiếp sức trong hành trình dài lâu ra biển với tinh thần tự tôn tự trọng Việt Nam. Sẽ có những thế lực ngáng trở phá hoại hành trình đó, sẽ có những cuộc xâm lăng mới của kẻ tham lam cậy thế mạnh giàu. Đừng nghi ngờ điều đó. Tôi nghĩ, sự ổn định bình yên thuận hòa sẽ rất mong manh ở Biển Đông dù đó là mong ước khát khao của chúng ta. Và, hệ quả của nó sẽ là Biển Đông dậy sóng. Dậy sóng không phải từ những tâm bão thiên nhiên mà từ những mưu mô xâm chiếm của kẻ vẽ nên chiếc lưỡi bò quái đản kia.
Kẻ gieo gió ắt sẽ gặp bão. Nói theo cách dân gian Đất Việt là thế. Nói theo cách của Lý Thường Kiệt là Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Thất bại đang chờ lũ chúng bay. Nói theo cách Nguyễn Trãi là Dơ bẩn thay! Nước bể không rửa hết mùi./ Lẽ nào trời đất tha cho,/ Ai bảo thần nhân nhịn được? Nói theo Hồ Chí Minh là: Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…
Vẫn tin rằng, sẽ có một ngày như Trương Hán Siêu ngày xưa, trước biển mênh mông, ta vừa đi vừa ca rằng:
Sông Đằng một dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về Biển Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh…
Tháng 6 năm 201
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:11
Tuyên bố của Liên đoàn Luật sư Việt Nam (VBF) phản đối Trung Quốc
Tuyên bố của Liên đoàn Luật sư Việt Nam (VBF) phản đối Trung Quốc Bài viết được đăng lúc 9:39:19 AM, 13.06.2011
Ngày 12/6, Liên Đoàn Luật sư Việt Nam đã ra tuyên bố phản đối Trung Quốc xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Dưới đây là toàn văn Tuyên bố:
Theo thông báo chính thức của người phát ngôn Bộ Ngoại giao và thông tin từ các cơ quan chức năng của Việt Nam:
- Ngày 26/05/2011, 03 tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại vị trí 12 độ 48,25 phút Bắc và 111 độ 26,48 phút Đông cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) (đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam) 116 hải lý, cách bờ biển đảo Hải Nam Trung Quốc là 340 hải lý.
- Chiều ngày 31/05/2011, 04 tàu đánh cá của ngư dân thành phố Tuy Hòa đang đánh cá ở vị trí 8 độ 56 phút Bắc và 112 độ 45 phút Đông thuộc thềm lục địa Việt Nam bị 03 tàu Hải quân Trung Quốc nổ súng bắn xuống nước uy hiếp, đe dọa không cho ngư dân Việt Nam hành nghề.
- Sáng ngày 09/06/2011, tàu cá Trung Quốc có sự yểm trợ của 02 tàu ngư chính Trung Quốc đã cố tình lao vào tuyến cáp khảo sát của tàu Viking II do Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thuê khảo sát địa chấn trên vùng biển tại vị trí 6 độ 47,5 phút Bắc và 109 độ 17,5 phút Đông thuộc thềm lục địa Việt Nam.
Căn cứ vào Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa chính phủ các nước thành viên ASEAN và nước CHND Trung Hoa, các hành động nêu trên của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; làm cho tình hình của Biển Đông tiếp tục căng thẳng. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý để tuyên bố rằng:
1. Các hành động nói trên của phía Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế - đó là không được đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào. Hành động này cũng xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam phù hợp với Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 76, Điều 77, Điều 301 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982; đi ngược lại điểm 1 và điểm 4 Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa chính phủ các nước thành viên ASEAN và nước CHND Trung Hoa.
2. Liên đoàn Luật sư Việt Nam cực lực phản đối hành vi của phía Trung Quốc xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và yêu cầu phía Trung Quốc không làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông bằng các hành vi đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực; xử sự phù hợp với vai trò là một thành viên của Liên hợp quốc, đặc biệt là thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và với tư cách là một quốc gia có vai trò quan trọng ở Châu Á Thái Bình Dương và trên thế giới.
3. Liên đoàn Luật sư Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc xuất phát từ tầm cao chiến lược và quan hệ lâu dài giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc, chấm dứt ngay và không tái diễn mọi hành động vi phạm trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông; đồng thời chịu trách nhiệm bồi thường mọi thiệt hại đã gây ra cho Tập đoàn Dầu khí và ngư dân Việt Nam.
4. Liên đoàn Luật sư Việt Nam luôn trân trọng và mong muốn tình hữu nghị cũng như quan hệ hợp tác truyền thống giữa nhân dân và tổ chức luật sư của hai nước Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục được củng cố trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cùng nhau giải quyết những bất đồng giữa hai nước bằng biện pháp hòa bình, ngăn ngừa và chống lại những hành động làm tổn hại tới quan hệ hòa bình, hữu nghị của hai nước.
5. Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề nghị các tổ chức luật sư quốc gia của nước thành viên ASEAN, Hiệp hội Luật Châu Á Thái Bình Dương (LAWASIA) Hiệp hội Luật sư Trung Quốc cùng nhau có trách nhiệm bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới, chung sức xây dựng một thế giới dân chủ công bằng và văn minh.
6. Liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ làm hết sức mình để góp phần vào công cuộc đấu tranh pháp lý của Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nói chung và biển đảo nói riêng tại mọi diễn đàn bằng các thiết chế luật pháp quốc tế.
Theo TTXVN
- Ngày 26/05/2011, 03 tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại vị trí 12 độ 48,25 phút Bắc và 111 độ 26,48 phút Đông cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) (đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam) 116 hải lý, cách bờ biển đảo Hải Nam Trung Quốc là 340 hải lý.
- Chiều ngày 31/05/2011, 04 tàu đánh cá của ngư dân thành phố Tuy Hòa đang đánh cá ở vị trí 8 độ 56 phút Bắc và 112 độ 45 phút Đông thuộc thềm lục địa Việt Nam bị 03 tàu Hải quân Trung Quốc nổ súng bắn xuống nước uy hiếp, đe dọa không cho ngư dân Việt Nam hành nghề.
- Sáng ngày 09/06/2011, tàu cá Trung Quốc có sự yểm trợ của 02 tàu ngư chính Trung Quốc đã cố tình lao vào tuyến cáp khảo sát của tàu Viking II do Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam thuê khảo sát địa chấn trên vùng biển tại vị trí 6 độ 47,5 phút Bắc và 109 độ 17,5 phút Đông thuộc thềm lục địa Việt Nam.
Căn cứ vào Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa chính phủ các nước thành viên ASEAN và nước CHND Trung Hoa, các hành động nêu trên của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; làm cho tình hình của Biển Đông tiếp tục căng thẳng. Liên đoàn Luật sư Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý để tuyên bố rằng:
1. Các hành động nói trên của phía Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế - đó là không được đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào. Hành động này cũng xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam phù hợp với Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 76, Điều 77, Điều 301 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982; đi ngược lại điểm 1 và điểm 4 Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa chính phủ các nước thành viên ASEAN và nước CHND Trung Hoa.
2. Liên đoàn Luật sư Việt Nam cực lực phản đối hành vi của phía Trung Quốc xâm phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và yêu cầu phía Trung Quốc không làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông bằng các hành vi đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực; xử sự phù hợp với vai trò là một thành viên của Liên hợp quốc, đặc biệt là thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và với tư cách là một quốc gia có vai trò quan trọng ở Châu Á Thái Bình Dương và trên thế giới.
3. Liên đoàn Luật sư Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc xuất phát từ tầm cao chiến lược và quan hệ lâu dài giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc, chấm dứt ngay và không tái diễn mọi hành động vi phạm trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông; đồng thời chịu trách nhiệm bồi thường mọi thiệt hại đã gây ra cho Tập đoàn Dầu khí và ngư dân Việt Nam.
4. Liên đoàn Luật sư Việt Nam luôn trân trọng và mong muốn tình hữu nghị cũng như quan hệ hợp tác truyền thống giữa nhân dân và tổ chức luật sư của hai nước Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục được củng cố trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cùng nhau giải quyết những bất đồng giữa hai nước bằng biện pháp hòa bình, ngăn ngừa và chống lại những hành động làm tổn hại tới quan hệ hòa bình, hữu nghị của hai nước.
5. Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề nghị các tổ chức luật sư quốc gia của nước thành viên ASEAN, Hiệp hội Luật Châu Á Thái Bình Dương (LAWASIA) Hiệp hội Luật sư Trung Quốc cùng nhau có trách nhiệm bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới, chung sức xây dựng một thế giới dân chủ công bằng và văn minh.
6. Liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ làm hết sức mình để góp phần vào công cuộc đấu tranh pháp lý của Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhằm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nói chung và biển đảo nói riêng tại mọi diễn đàn bằng các thiết chế luật pháp quốc tế.
Theo TTXVN
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA
01:10
Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt NamBài viết được đăng lúc 2:28:53 PM, 14.06.2011
| Bức tượng Vệ sĩ dân chài đảo Hoàng Sa 1835 |
Cách đây hơn 3 thế kỷ, ông cha ta đã xác lập và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, những việc đó được ghi trong cả sách của ta, của quốc tế và ngay cả của Trung Quốc. Ông cha chúng ta cũng đã biết cắm mốc, đo đạc, vẽ bản đồ và hàng năm cử người ra để kiểm tra và thu hồi sản vật trên vùng đất mà nước mình quản lý.
Nước Việt Nam thân yêu của chúng ta có bờ biển dài 3.260km. Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích khoảng trên 1 triệu km2, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ gần và xa bờ.
Biển Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, giao lưu quốc tế rất thuận lợi, lại có nhiều tài nguyên quý hiếm.
Quần đảo Hoàng Sa nằm ở vĩ độ 15o45' đến 17o15' Bắc, kinh độ 111o đến 113o Đông, cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi khoảng 120 hải lý; là một quần đảo đá san hô, cồn, bãi cát gồm hơn 30 hòn đảo, nằm trên vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, diện tích chừng 15.000km2.
Quần đảo Trường Sa nằm ở vĩ độ 6o50' đến 12o vĩ Bắc, kinh độ 111o3' đến 117o2' Đông, gồm trên 100 đảo đá, cồn san hô, bãi cạn, bãi ngầm nằm rải rác trên vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 350 hải lý, từ Bắc xuống Nam 360 hải lý, có diện tích khoảng 180.000km2, diện tích phần nổi thường xuyên khoảng 10km2, cách tỉnh Khánh Hoà 248 hải lý.
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện trong Đại nhất thống toàn đồ. |
Những chứng cứ lịch sử pháp lý xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Văn bản lịch sử của Việt Nam
- Thời Lê Thánh Tông (1460-1497), trong “Toàn tập Thiên Nam tứ chi lộ đồ thư” ta đã vẽ bản đồ Hoàng Sa và Trường Sa, lúc đó ta gọi là “bãi cát vàng” và “Vạn lý Trường Sa”. (Nguyên bản này hiện đang lưu giữ tại Tokyo Nhật Bản).
- Thế kỷ thứ XVIII, trong “Đại Nam nhất thống toàn đồ” đã ghi rõ Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa là một trong những đảo của Việt Nam.
- Lê Quý Đôn (1726-1786) trong cuốn “Phủ biên tạp lục”, ông đã tả kỹ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
- Phan Huy Chú (1782-1840) trong sách “Lịch triều hiến dương loại chí” và “Hoàng Việt địa dư chí”, ông còn mô tả việc quản lý Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Ngoài ra còn có thể kể tên 5 cuốn sách của Việt Nam từng đề cập đến hai quần đảo này.
- Thời thuộc Pháp: Từ ngày 6/6/1884, sau khi triều Nguyễn ký với Pháp Hiệp ước Giáp Thân, công nhận sự thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam. Từ đó, Pháp thực hiện chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
- Năm 1887, Pháp và triều đình Mãn Thanh ký công ước hoạch định biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Ngày 15/6/1938, toàn quyền Đông Dương I.Brévie ký Nghị định số 156-SC, quyết định tổ chức hành chính, quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Ngày 21/12/1933, Thống đốc Krautheimer ký Nghị định số 4702-CP, sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức bàn giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền của Bảo Đại quản lý. Hôm đó, Tướng Phan Văn Giáo lúc đó là Thủ hiến Trung Phần đã đích thân đến đảo Hoàng Sa để chủ tọa buổi lễ.
Tháng 9/1951, tại Hội nghị San Franxitco, ông Trần Văn Hữu - Thủ tướng Chính phủ của Bảo Đại, trưởng phái đoàn của Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau khi Nhật đã trả lại tất cả lãnh thổ họ đã chiếm cứ trong chiến tranh thế giới thứ hai, 51 quốc gia tham dự, không hề có ý kiến phản đối.
Bản đồ đường qua xứ Quảng đời Lê, theo Thiên lộ đồ vẽ lại năm 1741(bản sao chép của Dumoutier, có chữ quốc ngữ). Bãi cát vàng trên bản đồ tức là Hoàng Sa. |
Tài liệu nước ngoài
Một tài liệu giữ ở kho lưu trữ của Pháp đề ngày 10/4/1768 mang tên là “Note sur l'Asedemandés pas M. de la bonde à M. d' Etaing” cho biết là hồi đó hải quân Việt Nam đã tuần tiễu đều đặn giữa bờ biển Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa. Đô đốc d'Estaing đã tả hệ thống phòng thủ của Việt Nam có nhiều đại bác, phần lớn là mang huy hiệu của Bồ Đào Nha, có ghi năm 1661, và những khẩu nhỏ hơn mang hiệu xứ Campuchia và dấu khắc tên “Anh Quốc Ấn Độ công ty” (Brifish company of India). Những khẩu pháo nhỏ này đã được thu lượm ở Hoàng Sa.
Ngoài ra còn có các tác giả Le Poivre (1740), J Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833), Gutzlagip (1840)… cũng từng khẳng định Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Ngay cả các tác giả người Trung Quốc trước đây cũng từng viết sách nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Nhà sư Thích Đại Sán trong cuốn Hải ngoại ký sự viết năm 1696 đã xác nhận các chúa Nguyễn hàng năm cho thuyền khai thác các sản vật từ các tàu bị đắm ở vùng Vạn lý Trường Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam). Tập tài liệu của Trung Quốc “Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hội biên” do Hàn Chấn Hoa chủ biên, trang 115 thiên thứ nhất, cũng ghi chép dấu vết trên đảo Vinh Hưng (Phú Lâm) ở Hoàng Sa có miếu gọi là Hoàng Sa tự. (Hoàng Sa tự được vua Minh Mạng triều Nguyễn cho xây dựng).
Trong cuốn Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ, bản đồ Trung Quốc đời Thanh, xuất bản năm 1894 ghi chú rõ: “Điểm cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, Quảng Đông, độ Bắc cực 18o13”. Còn quyển Quảng Đông dư địa toàn đồ, bản đồ tỉnh Quảng Đông, xuất bản năm 1897 cũng ghi: “Điểm cực Nam tỉnh này là mỏm núi bên ngoài cảng Du Lâm 18o09'10"”. Trong Đại Thanh đế quốc, bản đồ toàn Trung Quốc trong tập bản đồ mang tên “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910, cũng chỉ rõ phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam. Những bản đồ trên đây đều khẳng định cho đến thế kỷ XX, lãnh thổ Trung Quốc không bao giờ gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việc thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa
Để quản lý về hành chính, ngày 29/2 năm Bảo Đại thứ 12 (30/3/1938), nhà vua đã ra Chỉ dụ số 10, sáp nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào tỉnh Thừa Thiên.
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn. Ngày 22/10/1956, họ đã ra Sắc lệnh số 143/NV quy định quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 3/7/1961, Ngô Đình Diệm - Tổng thống Việt Nam Cộng hoà ký quyết định quần đảo Hoàng Sa thuộc Thừa Thiên - Huế, nay thuộc tỉnh Quảng Nam và gọi là xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang. Ngày 6/9/1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Sài Gòn ký Nghị định số 420/BNV-HCDB-26 sáp nhập Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Sau khi thống nhất đất nước, ngày 9/2/1982, Hội đồng Bộ trưởng nước ta đã ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 28/12/1982, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VII đã ra Nghị quyết đưa huyện Trường Sa sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là Khánh Hoà).
Từ khi chiếm lĩnh được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông cha ta đã cho người ra cắm mốc chủ quyền. Khi chính quyền Pháp bảo hộ họ cũng đã cắm bia chủ quyền ghi:“Cộng hòa Pháp - Đế quốc An Nam quần đảo Hoàng Sa”.
Năm 1938, Phòng (Service) Khí tượng Đông Dương xây dựng một trạm khí tượng tại đảo Itu Aba hoạt động dưới quyền Pháp. Đây là trạm thời tiết rất quan trọng nên đã được mang ký hiệu quốc tế là 48919. Đến thời chính quyền Sài Gòn quản lý, trạm khí tượng này vẫn hoạt động. Hiện nay 4 người còn sống, đó là các cụ: Nguyễn Văn Như, Trần Huynh, Phạm Miễn, Võ Như Dân.
Những chứng tích lịch sử về việc thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa còn được lưu truyền trong dân gian khá sâu đậm.
Khi nhà vua cử các đội đi Hoàng Sa, đã biết rằng cuộc ra đi vô cùng khó khăn, nên đã cho mỗi người lính mang theo một đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi dây lạt và một tấm thẻ Bài có khắc tên họ, bản quán để phòng xa, nếu chẳng may hy sinh thì đồng đội sẽ bỏ xác vào chiếu thả trôi trên biển. Trước khi lên đường, thường là vào tháng Hai Âm lịch, thì làm lễ gọi là “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa”. Đồng thời làm những “ngôi mộ gió”, nơi chôn những hình nhân tượng trưng cho những người lính hy sinh ở Hoàng Sa. Một trong những người lính đó là Anh hùng Phạm Hữu Nhật cách đây hơn 170 năm đã có bia mộ trên triền núi ở Lý Sơn “Phục vị vong Cao Bình Quận Phạm Hữu Nhật thần hồn chi linh vị. Sanh Giáp Tý (1804), Giáp Dần (1854) tôn diệt phong tự”.
Như vậy là cách đây hơn 3 thế kỷ, ông cha ta đã xác lập và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, những việc đó được ghi trong cả sách của ta, của quốc tế và ngay cả của Trung Quốc. Ông cha chúng ta cũng đã biết cắm mốc, đo đạc, vẽ bản đồ xây miếu, đào giếng, trồng cây, xây trạm dự báo thời tiết, và hàng năm cử người ra để kiểm tra và thu hồi sản vật trên vùng đất mà nước mình quản lý.
Cho đến nay, hầu như cả thế giới đều biết rằng, vào năm 1956, khi người Pháp rút, bàn giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, lợi dụng lúc đó, Trung Quốc đã đưa quân đánh chiếm đảo Phú Lâm phía Đông Hoàng Sa, quân đội Sài Gòn phải chạy về đóng tại phía Tây Hoàng Sa. Ngày 20/1/1974, lợi dụng quân đội Sài Gòn đang thua trận (do Mỹ đã rút khỏi Việt Nam), Trung Quốc đưa quân đánh chiếm nốt phía Tây để chiếm toàn bộ Hoàng Sa của Việt Nam. Trong trận chiến đó Trung Quốc bị cháy và hỏng 2 chiến hạm, 2 tàu chiến. Quân đội Sài Gòn bị cháy 2 tàu, hỏng 2 tàu, 18 người chết, 43 người bị thương, 175 người mất tích.
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam hàng vài thế kỷ. Trung Quốc dùng bạo lực quân sự để đánh chiếm và xâm phạm.
Thế hệ trẻ hiện nay cần phải nắm chắc những cơ sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời tuyên truyền cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ, để củng cố quyết tâm cho các thế hệ người Việt Nam kiên quyết đấu tranh để bảo vệ Trường Sa và đòi lại chủ quyền của chúng ta ở Hoàng Sa.
Cũng cần làm cho nhân loại tiến bộ hiểu rõ sự thật, đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thành nội dung đấu tranh ở Liên hiệp quốc, trong dư luận bảo đảm sự công bằng của công pháp quốc tế.
Theo Đại tá Nguyễn Huy Toàn - Công An Nhân Dân
Chuyên mục
HOÀNG SA - TRƯỜNG SA