.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀN VỀ TÔN GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀN VỀ TÔN GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng

Người nữ đã được tạo thành trong sáng tạo đầu tiên ?

Written By kinhtehoc on Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015 | 17:11

NGƯỜI NỮ ĐÃ ĐƯỢC TẠO THÀNH TRONG SỰ SÁNG TẠO ĐẦU TIÊN KHÔNG?
VẤN NẠN: Xem ra người nữ đã không được tạo thành trong sự sáng tạo đầu tiên các vật.
1. Triết gia nói: “Đàn bà là đàn ông hụt” (De Gener. Ani. 2.3). Mà không cái gì hụt hoặc có tỳ vết ở trong sự người nữ đầu tiên. Vậy người nữ đã không được tạo thành trong sự sáng tạo đầu tiên.
2. Sự phục tùng và sự hạn chế là kết quả của tội, vì đã nói đối với người nữ sau khi phạm tội: “Ngươi phải tòng quyền chồng” (St. 3.16); và thánh Grêgôriô nói: “Ở đâu không có tội, ở đó có sự bằng nhau” (Moral 21.15). Mà người nữ tự nhiên ít mạnh mẽ và ít cao quý hơn đàn ông, vì “tác nhân luôn luôn khả kính hơn thụ nhân”, như thánh Augustinô nói nói (De Genesi ad Litt. 12.16). Vậy người nữ không được tạo thành trong sự sáng tạo đầu tiên của các vật trước khi phạm tội.
3. Các dịp tội có thể bị cắt đứt hết. Mà Thiên Chúa đã thấy trước người nữ có thể là dịp tội cho người nam. Vậy Thiên Chúa có thể đã không tạo thành người nữ.
TRÁI LẠI: Có lời ghi chép: “Đàn ông ở cô độc không hay. Ta hãy dựng nên cho y một người giúp đỡ giống hệt” (St. 2, 18).
TRẢ LỜI: Người nữ tất nhiên phải được tạo thành, theo lời Kinh thánh, để giúp đỡ người nam; hiển nhiên người nữ không phải là kẻ giúp đỡ trong những công việc khác, như một số người nói, vì người nam một cách hữu hiệu hơn được người nam khác giúp đỡ trong công việc khác, nhưng là kẻ giúp đỡ trong việc sinh sản. Điều này được sáng tỏ, nếu chúng ta quan sát thể cách sinh sản được thực hành trong các sinh vật khác nhau. Một số sinh vật không chiếm hữu tại sự năng lực sinh sản được sinh sản bởi tác nhân thuộc về loại khác; và thế đó là những cây cối và thú vật được sinh sản mà không có hạt giống, chỉ bởi chất thể thích hợp do chủ năng của các thiên thể. Một số sinh vật khác chiếm hữu chung cả hai chủ năng và thụ năng sinh sản, như chúng ta trông thấy nơi cây cối được sinh sản bởi hạt giống, vì chức năng cao nhất của cây cối là sự sinh sản, và như thế chúng ta nhận thấy trong cây cối chủ năng sinh sản luôn luôn đi theo thụ năng sinh sản. Còn đối với các thú vật hoàn hảo, chủ năng sinh sản thuộc về tính đực, và thụ năng sinh sản thuộc về tính cái. Vì các thú vật có hành động sống cao thượng hơn sự sinh sản mà sự sống của chúng một cách chủ yếu hướng về hành động sống này, nên xảy ra tính đực không liên tục phối hợp với tính cái ở nơi các thú vật hoàn hảo, nhưng chỉ phối hợp vào lúc giao hợp: như thế ta nhận thấy con đực và con cái trong lúc giao hợp, trở nên một, như trong cây cối năng lực đực và năng lực cái luôn luôn phối hợp nhau, mặc dầu trong một số trường hợp năng lực đực thắng thế, trong một số trường hợp khác, năng lực cái thắng thế. Còn người ta được sắp đặt đến công việc sống còn cao thượng hơn nữa, và đó là hành động của trí năng. Vậy có lý do to lớn hơn để phân biệt hai năng lực ở nơi người ta; nên người nữ được tạo thành tách rời khỏi người nam, và họ có thể phối hợp xác thịt cho việc sinh sản. Do đó ngay sau khi tạo thành người nữ, thì có lời nói: “Và họ sẽ là hai trong một xác thịt” (St. 2.24).
GIẢI ĐÁP:
1. Đối với bản tính cá thể, người nữ có khuyết điểm và thiếu hụt, vì chủ năng của hạt giống đực hướng đến sản xuất sự tương tự hoàn hảo theo nam tính: đang khi sự sản xuất người nữ phát xuất bởi sự khuyết điểm của chủ năng, hoặc bởi trạng thái không được sắp đặt của chất thể, hoặc bởi ảnh hưởng bên ngoài, chẳng hạn gió nam, sự ẩm ướt, như Triết gia nhận xét (Aristote, Gener. An. 4.2). Đàng khác, đối với bản tính nhân loại phổ quát, người nữ không phải ngẫu nhiên, nhưng được bao hàm trong ý định của bản tính với tính cách được hướng đến công việc sinh sản. Mà ý định phổ quát của bản tính lệ thuộc vào Thiên Chúa, vì Ngài là Tác giả phổ quát của bản tính. Vậy khi tạo thành bản tính, Thiên Chúa đã tạo nên cả người nam lẫn người nữ.
2. Sự phục tùng có hai thứ. Sự phục tùng về nô lệ và do đó ông chủ sử dụng kẻ dưới quyền vì sự lợi ích của chính mình; và thứ phục tùng này đã bắt đầu sau khi phạm tội. Còn thứ phục tùng khác được gọi là tùng phục kinh tế hoặc dân sự mà do đó kẻ có địa vị cao hơn sử dụng các người dưới quyền, vì ích lợi và vì sự tốt của chúng. Thứ phục tùng này hiện hữu ngay trước khi phạm tội. Vì sự tốt của trật tự có thể thiếu đi trong gia đình nhân loại, giả như một số người không được thống trị bởi những kẻ khác khôn ngoan hơn chính mình. Bởi vì sự phục tùng như thế người nữ một cách tự nhiên phục tùng người nam, lý trí sáng suốt thắng thế. Và tình trạng không bằng nhau giữa người với người cũng không bị tình trạng vô tội nguyên thủy xóa bỏ đi, nhưng chúng ta đã minh chứng (Q. 96, a.3).
3. Giả như Thiên Chúa làm cho thế gian mất hết tất cả sự vật có thể trở nên dịp tội, vũ trụ hẳn rất hoàn hảo. Và không thích hợp là làm mất đi lợi ích chung để tránh sự xấu cá thể; nhất là, bởi vì Thiên Chúa có năng lực hướng bất cứ sự xấu nào đến mục đích tốt.

Tiết 2
NGƯỜI NỮ ĐÃ ĐƯỢC TẠO THÀNH TỪ NGƯỜI NAM?
VẤN NẠN: Xem ra người nữ đã không được tạo thành từ người nam.
1. Tính dục thuộc về người ta lẫn thú vật. Mà nơi các thú vật con cái không được tạo thành từ con đực. Vậy người nữ cũng không được tạo thành từ người nam.
2. Tệ hơn nữa, các vật thuộc về cùng một loại, thuộc về cùng một chất thể. Mà người nam và người nữ thuộc về cùng một loại. Vậy như người nam được tạo thành bằng bùn đất, cũng vậy, người nữ đã được tạo thành như thế, chứ không phải từ người nam.
3. Người nữ được tạo thành để làm kẻ giúp đỡ người nam trong công việc sinh sản. Mà quan hệ thân tộc gần quá làm cho người ta không thích nghi với công việc này; và do đó, cấm kết hôn cùng người trong họ gần (Lv 18.6). Vậy người nữ không được tạo thành từ người nam.
TRÁI LẠI: Có lời ghi chép: “Thiên Chúa từ gười nam đã tạo thành từ một người giúp đỡ giống y hệt, tức là người nữ” (Hc 18.5).
TRẢ LỜI: Khi mọi vật đầu tiên được tạo thành, việc người nữ đã được tạo thành từ người nam thích hợp hơn trong thú vật. Thứ nhất, để ban cho người nam đầu tiên một chức vị cao trọng cốt tại điều này, là Thiên Chúa làm nguyên lý của toàn vẹn vũ trụ, cũng vậy, người nam đầu tiên, bởi sự tương tự với Thiên Chúa, làm nguyên lý cho trọn vẹn nhân loại. Thánh Phao-lô: “Thiên Chúa tạo thành toàn thể nhân loại từ một người” (Cv 17.26). Thứ nhì, để người nam yêu người nữ hơn và kết hợp mật thiết hơn, vì hiểu biết người nữ được tạo thành từ chính mình. Do đó, có lời ghi chép: “Người nữ đã được tạo thành từ người nam, nên người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ mà kết hợp với vợ mình” (St 2.24). Điều này cần thiết cho nhân loại, vì người đàn ông và đàn bà chung sống với nhau, đó không phải là trường hợp các thú vật.Thứ ba, như Triết gia nói, vì người đàn ông và đàn bà phối hợp nhau không những cho sự sinh đẻ như các thú vật, mà còn cho mục đích đời sống gia đình mà trong đó mỗi người có bản phận riêng và người chồng là đầu của vợ” (Eth. 8,12). Đó điều thích hợp là người nữ đã được tạo thành từ người nam, như từ nguyên lý của mình. Thứ bốn, có lý do thuộc về Bí tích cho điều này. Vì điều này biểu thị Hội thánh phát nguyên từ Chúa Kitô. Do đó, thánh Phao-lô nói: “Đây là Bí tích cao qúy; đây tôi nói về Đức Kitô và Giáo hội” (Ep 5.32).
GIẢI ĐÁP:
1. Vấn nạn 1 đã rõ ràng do những điều vừa được trình bày.
2. Chất thể là cái gì mà từ nó một vật được tạo thành. Mà bản tính thụ tạo có nguyên lý xác định, và bởi vì nó được xác định đến một vật duy nhất, nó cũng có một thể cách xác định để phát xuất. Vậy, từ chất thể xác định, nó tạo nên một vật nào đó trong một loại xác định. Nhưng năng lực của Thiên Chúa, vì vô cùng, có thể tạo thành các vật thuộc về cũng một loại từ bất cứ chất thể nào, như người nam từ đất bùn và người nữ từ người nam.
3. Quan hệ thân thuộc nào đó phát xuất bởi sự sinh sản tự nhiên ngăn trở sự kết hôn. Tuy nhiên, người nữ đã không được tạo thành do sự sinh sản tự nhiên, nhưng bởi năng lực Thiên Chúa mà thôi. Do đó bà Evà không được gọi là con gái của Adong; và như vậy chứng cứ này không minh chứng.

Tiết 3
NGƯỜI NỮ MỘT CÁCH THÍCH ĐÁNG ĐÃ ĐƯỢC TẠO THÀNH BẰNG XƯƠNG SƯỜN NGƯỜI NAM?
VẤN NẠN: Xem ra người nữ đã không được tạo thành bằng xương sườn của người nam.
1. Xương sườn quá nhỏ đối với thân thể người nữ. Thì ra từ một vật nhỏ, một vật lớn được tạo thành hoặc bằng cách thêm; mà như vậy thì người nữ phải được miêu tả được tạo thành bằng chất thể được thêm này hơn là bằng chính xương sườn; hoặc bằng sự làm kém đi, vì như thánh Augustinô nói: “Thân thể không thể gia tăng độ lớn trừ phi bởi sự làm kém đi” (De Genesi ad Litt. 10.26). Mà thân thể của người nữ không kém mật độ hơn thân thể của bà Evà. Vậy bà Evà đã không được tạo thành từ xương sườn của Adong.
2. Trong các vật được sáng tạo đầu tiên không có cái gì dư thừa. Vậy xương sườn của Adong thuộc về tình trạng trọn vẹn trong thân thể của ông. Vậy giả như lấy mất đi một xương sườn, thân thể của ông tồn tại bất hoàn hảo, điều này phi lý.
3. Chiếc xươn sườn không thể lấy mất đi mà không gây nên sự đau đớn. Mà không có sự đau đớn trước khi phạm tội. Vậy việc rút lấy xương sườn và dùng nó mà tạo nên bà Evà, thì không đúng.
TRÁI LẠI: Có lời ghi chép: “Thiên Chúa lấy xương sườn Adong tạo thành một người nữ” (St 2.22).
TRẢ LỜI: Việc người nữ được tạo thành bằng xương sườn người nam, thật chính đáng. Thứ nhất, để biểu lộ sự phối hợp giữa người nam và người nữ, vì người nữ không thể sử dụng quyền hành đối với người nam, và như vậy người nữ đã không được tạo thành bằng cái đầu của Adong; cũng không thích đáng việc người đàn bà bị người nam khinh rẻ như tên nô lệ, và như vậy người nữ đã không được tạo thành bằng bàn chân của Adong. Thứ nhì, vì ý nghĩa Bí tích, từ cạnh sườn của Đức Kitô chết trên Thánh giá các Bí tích chảy ra, tức là máu và nước mà do đó Giáo hội đã được thiết lập.
GIẢI ĐÁP:
1. Một số người nói thân thể người nữ được tạo thành bởi sự gia tăng chất thể mà không có cái gì được thêm vào, như Chúa Giêsu đã làm cho năm chiếc bánh hóa ra nhiều. Nhưng điều này hoàn toàn bất khả. Vì sự gia tăng như thế về chất thể hoặc bởi sự thay đổi bản thể của chính chất thể hoặc bởi sự thay đổi các kích thước của chất thể. Nhưng đó không phải do sự thay đổi bản thể của chất thể, vì phần chất thể xem xét tại sự, hoàn toàn không thể thay đổi, vì nó là sự hiện hữu tiềm thể, và nó không có cái gì ngoài cái bản tính của chủ thể, phần thì bởi vì sự làm thêm nhiều và độ lớn xem xét tại sự, ở ngoài yếu tính của chính chất thể. Và như vậy, sự làm thêm nhiều chất thể thì hoàn toàn bất-khả-niệm, bao lâu chính chất thể tồn tại cũng là một không được thêm vào cái gì, trừ phi nó lãnh nhận kích thước lớn hơn, như Triết gia nói (Phys. 4.9). Vậy nói cũng một thể chất được làm trở nên to lớn mà không bị làm kém đi, là phối hợp những cái mâu thuẫn, tức là lời định nghĩa không có sự vật được định nghĩa.
Vậy, bởi vì không có sự làm kém đi rõ ràng trong các sự làm thêm nhiều thể ấy về chất thể, người ta phải công nhận sự thêm chất thể hoặc bởi sự sáng tạo hoặc bởi sử đổi; tác dụng này cái nhiên hơn. Do đó, thánh Augustinô nói: “Chúa Kitô với năm chiếc bánh đã làm cho năm ngàn người nam no nê, như với một ít hạt giống Ngài đã tạo nên một vụ gặt lúa mì” (Tract. 24, Super Joann. 6.2), nghĩa là bằng sự biến hóa đồ ăn. Tuy nhiên, chúng ta dám nói đám đông đó được cho ăn với năm chiếc bánh mì, hoặc người nữ đã được tạo thành với một xương sườn, bởi vì một sự thêm vào đã được thực hiện cho chất thể hiện hữu trước của bánh mì hoặc của xương sườn.
2. Chiếc xương sườn thuộc về sự hoàn hảo toàn vẹn của Adong, không phải với tính cách Adong là một cá thể, nhưng là nguyên lý của loại: như tinh trùng thuộc về sự hoàn hảo của kẻ sinh sản và được thoát ra bằng hành động tự nhiên vui thú. Vậy quyền năng của Thiên Chúa càng có thể làm cho thân thể của người nữ được sản xuất từ xương sườn của người nam mà không gây sự đau đớn.
3. Vấn nạn 3 được giải đáp rõ ràng do những điều vừa được trình bày.

Tiết 4
NGƯỜI NỮ ĐÃ ĐƯỢC THIÊN CHÚA TẠO THÀNH TRỰC TIẾP?
VẤN NẠN: Xem ra người nữ đã không được Thiên Chúa tạo thành trực tiếp?
1. Không cá thể nào được Thiên Chúa tạo thành trực tiếp từ cá thể khác tương tự trong một loại. Mà người nữ đã không được Thiên Chúa tạo thành trực tiếp.
2. Thánh Augustinô nói: “Các vật hữu hình được Thiên Chúa thống trị nhờ các thiên thần” (De Trin.3.4). Mà thân thể người nữ đã được tạo thành bằng chất thể hữu hình. Vậy nó đã được tạo thành nhờ sự giúp việc của các thiên thần, chứ không phải trực tiếp bởi Thiên Chúa.
3. Các sự vật nào tiền-hiện-hữu trong các thụ tạo trong các nguyên lý làm nguyên nhân của mình, được tạo thành bởi năng lực của thụ tạo nào đó, chứ không được Thiên Chúa tạo thành trực tiếp. Mà thân thể của người nữ đã được tạo thành trong các nguyên lý làm nguyên nhân của nó ở giữa các công trình đã được sáng tạo đầu tiên, theo lời nói của thánh Augustinô (De Genesi ad Litt 9.15). Vậy nó không được Thiên Chúa tạo thành trực tiếp.
TRÁI LẠI:
Thánh Augustinô, trong cùng một quyển sách, nói: “Duy Thiên Chúa làm cho mọi sự vật hiện hữu, đã có thể tạo thành hay tạo dựng người nữ từ chiếc xương sườn của Adong” (De genesi. 9.18).
TRẢ LỜI: Như đã nói ở trước, sự sinh sản tự nhiên của mỗi loại phát xuất từ chất thể xác định nào đó. Thì ra chất thể do đó người ta được sinh sản là tinh trùng người ta của người nam hoặc của người nữ. Nên cá thể của nhân loại không thể được sinh sản cách tự nhiên do chất thể khác. Duy Thiên Chúa, Tác giả bản tính của mọi vật, có thể không theo trật tự của bản tính tạo thành các vật trong sự hiện hữu. Vậy duy Thiên Chúa có thể tạo thành người nam từ đất bùn, và người nữ từ xương sườn của người nam.
GIẢI ĐÁP:
1. Chứng cứ này đúng khi một cá thể được sinh sản do sự sinh sản tự nhiên và bởi vật tương tự với mình trong một loại.
2. Như thánh Augustinô nói (De Genesi ad Litt. 9.13): “Chúng ta không biết các thiên thần được Thiên Chúa dùng để tạo thành người nữ hay không; nhưng điều này chắc chắn là như thân thể người nữ không được các thiên thần tạo thành từ xương sườn của người nam.
3. Sự sáng tạo đầu tiên của các vật không khiến người nữ phải được tạo thành như vậy; nhưng làm cho người nữ có thể được người nữ như vậy (De Genesi ad Litt. 9.18). Vậy thân thể của người nữ tiền-hiện-hữu trong các nguyên lý làm nguyên nhân trong các công trình đầu tiên của Thiên Chúa, không do tiềm-thể-tính hoạt động, nhưng do tiềm-thể-tính thụ động được sắp đặt đến chủ năng của Thiên Chúa.
Người dịch: Lm. Jos. TRẦN NGỌC CHÂU
Người hiệu đính: Lm. Lud. NGUYỄN VĂN HẠNH

Vòng quay luân hồi

Written By kinhtehoc on Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013 | 14:22

Sinh lão bệnh tử là một vòng quay ở một đời người. Con người đã nhận biết nhưng thường hay quên lãng và không thật sự rõ biết. Khi còn sống, con người sẽ không nghĩ rằng “Mình sẽ chết”. Thậm chí, ngay cả khi đã chết vẫn có không ít người không chấp nhận “Mình đã chết”. Đó chính là “Dấu vết” để nhận biết thế giới tâm linh, vô hình. Thật ra con người đã không rõ biết “Ngay thời điểm hiện tại đã luôn luôn diễn ra sự sinh lão bệnh tử ngay trong thân xác và tinh thần. Mọi thứ đều đang biến chuyển chưa từng dừng lại trong mỗi người ngay cả lúc sống lẫn lúc chết”. Đó là sự thật. Hơn nữa, vẫn có những đứa bé vừa chào đời đã mắc bệnh hiểm nghèo và chết. Ở tuổi 20 đầy nhiệt huyết vẫn có thể chết vì cơn gió lạnh đầu đông. Tôi cũng có thể chết khi vội vã bước sang đường,… Vậy sinh lão bệnh tử phải chăng luôn hiện hữu? Ý thức rõ thật quy luật sinh lão bệnh tử bạn sẽ nhận ra “Giá trị của sự sống”.
Không chỉ vậy, sinh lão bệnh tử có chứa đựng chìa khóa khai mở sự hiểu biết về vòng quay luân hồi của vạn vật. Chữ tử không chỉ mang hàm nghĩa là “Sự chết” mà còn có nghĩa là “Con”. Và… bạn hãy nhìn xem xác thân vật chất của con người khi về già phải chăng teo tóp, thu nhỏ lại, chiều cao cũng thấp dần. Đôi khi cả chiều cao và cân nặng của người già cũng chỉ bằng đứa trẻ; về tinh thần, sự hiểu biết,… nếu bạn dám nhìn vào sự thật thì dường như trí não người già cũng suy giảm, giới hạn như là một đứa trẻ. Họ sợ sệt, lo lắng, toan tính vụn vặt, tấm lòng cũng không còn rộng mở như khi ở độ tuổi niên thiếu hoặc là khi cường tráng. Nếu bạn bắt gặp những người già không có ý thức nuôi dưỡng tâm hồn, nội tâm thì bạn sẽ nhìn thấy những người cao tuổi già lẩn, mất trí. Bạn đừng vội xót thương cho họ vì nếu không hiểu biết bạn sẽ trở thành họ ở thời điểm tương lai. Sự hiểu biết sẽ giúp bạn bước ra những cảnh đời bi thương, tăm tối. Phải chăng cuộc đời con người là một vòng quay tròn và lẩn quẩn? Con người sau khi “Chui ra vỏ ốc” đứng lên lớn mạnh, hùng dũng bước đi rồi từ từ bé nhỏ trở lại, tan rã và lại đi tìm lấy, chiếm giữ “Một vỏ ốc mới”.
Tôi đã tham khảo được trong kinh sách về một vòng quay luân hồi - Sự luân chuyển lên xuống, qua lại của chúng sinh trong 3 cõi 6 đường, giữa hai thế giới vô hình và hữu hình.
Để đơn giản tôi sẽ trình bày hai vòng quay riêng lẻ nhưng trên thực tế hai vòng luân hồi thuận nghịch đan xen, hòa quyện vào nhau.
Vòng luân hồi thuận: Vũ trụ vốn dĩ gồm hai thành phần - Phần vật chất hữu hình và phần vật chất vô hình. Khi có vật chất sẽ đồng nghĩa với việc có sự sống và không có một Đấng quyền năng nào đủ khả năng tạo ra vật chất. Vật chất là sẵn có trong vũ trụ. Cho đến khi mầm sống đầu tiên theo quan điểm của khoa học ra đời và phát triển. Sự tiến hóa sẽ dẫn đến sự phong phú, đa dạng các dạng sống, chủng loại khác nhau. Loài trên cạn, loài dưới nước, loài ăn động vật, loài ăn thực vật, loài to lớn, loài nhỏ bé, loài nhìn thấy được, loài chỉ nhìn thấy được bằng kính hiển vi, loài không thể nhìn thấy được - Thế giới tâm linh, vô hình,… và chúng luân chuyển lên xuống, qua lại với nhau. Điều đặc biệt là để luân chuyển từ thế giới hữu hình sang thế giới hữu hình có một bước lưu chuyển trung gian ở thế giới vô hình.
Vòng luân hồi nghịch: Đã có khiếm khuyết trong sự tìm tòi, hiểu biết của cá nhân tôi. Lý giải việc luân chuyển qua lại, lên xuống giữa những chủng loài có hệ thần kinh kém phát triển, không nhiều hiểu biết là điều dễ hiểu, không khó để nhận biết. Nhưng đối với chủng loài có hệ thần kinh thông minh như loài người thì thật sự khó luận giải. Sự thông minh, trí tuệ, khả năng phân biệt rạch ròi, tốt xấu, hay dở,… ở loài người là rất cao. Tại sao loài người lại chấp nhận rơi vào những cõi giới, những chủng loài cấp thấp? Tôi rõ biết là không có một Đầng quyền năng nào “Rỗi hơi” làm việc trừng phạt con người ở nơi địa ngục tối tăm. Không có một ai còn nhớ mình đã bị hành hạ, giày vò nơi địa ngục và… không một ai nhớ được những lỗi lầm đã phạm phải ở tiền kiếp mà sửa sai trong kiếp hiện tại. Vậy nên việc trừng phạt của các Đấng quyền năng ở địa ngục là không có giá trị. Thế nên sẽ không có Đấng quyền năng nào đảm nhận việc làm vô ích, vô nghĩa nơi địa ngục. Vạn pháp quy tâm để nhận biết rằng “Tất cả việc làm thiện ác, xấu tốt, khổ não, việc trừng phạt, địa ngục, ngạ quỷ,… chỉ lưu xuất từ trong bản tâm mê lầm, trói buộc trong sự giới hạn hiểu biết ở mỗi người”.
Thật không hợp lý khi khẳng định chắc thật là “Con người giết trâu, mổ heo,… lại phải thay hình đổi dạng nhằm trả món nợ đã vay”. Người giết thịt và người ăn thịt, ai mới thật là người tạo tội? Lại không hẳn là câu hỏi đúng. Tôi giết thịt vì sinh kế cho gia đình, cho những đứa con bé bỏng, đáng yêu. Tôi phải đền tội vì làm việc chân chính để nuôi sống gia đình? Trong khi những người ham thích “Món ngon vật lạ” lại thoát tội. Công lý nằm ở đâu? Tôi lại nhận biết “Khi mang xác thân vật chất, con người cần phải ăn để tồn tại”. Ăn thực vật hay động vật, về bản chất thật không có nhiều sự khác biệt, rất nhiều sinh mạng đã phải chết cho từng chén cơm rau. Phải chăng đạo lý giác ngộ có điều khiếm khuyết?
Tôi nhận ra “Món chay hay món mặn không hẳn là quyết định cõi giới mà tôi sẽ luân chuyển” nhưng câu hỏi “Tại sao con người lại chấp nhận quay về những chủng loài đội lông mang vảy?” vẫn chưa câu trả lời.
Rồi tình cờ tôi nhìn thấy những việc làm, hành động của những người cao tuổi già lẩn mất trí. Họ hoàn toàn không còn sự chọn lựa “Lối đi” cho bản thân. Tôi đã có được lời giải cho vòng quay luân hồi với một nỗi lòng nặng trĩu. Việc già lẩn ở con người vốn là một việc được tích lũy, trải qua nhiều kiếp. Khi đã có chìa khóa khai mở cho việc luân hồi ở 3 cõi 6 đường thì mọi việc trở nên sáng rõ. Vấn đề không phải ở việc ăn mặn hay ăn chay, người giết thịt hay kẻ ăn thịt,… mà là ở việc tham đắm thọ hưởng, sân hận, si mê dẫn đến con người rơi vào  những đường xấu. Không những vậy, con người còn rơi vào nẻo xấu do sự thiếu hiểu biết về thế giới tâm linh, việc không sống thật ở thời điểm hiện tại, việc sống trong thế giới ảo tưởng, việc không chấp nhận sự thật khi “Mình đã chết”, việc cuồng loạn, níu giữ khi “Mạng sống gần dứt”,… Mọi thứ được tích lũy trong tâm thức phân biệt, dính mắc và sẽ hiển hiện khi đủ duyên.
Khi con người không hiểu biết sống thật ở thời điểm hiện tại,  nếu xảy ra tai nạn hoặc biến cố đột ngột “Con người chết mà không kịp nhận thức rõ điều đó”. Vì ngỡ là còn sống, con người sẽ rong rủi, lang thang. Cho đến khi con người thèm một miếng thịt trâu, một con chim sẻ,… và nếu có một quả trứng, một bào thai tượng hình thì con người sẽ chuyển kiếp.
Những người bạn đang tìm “Bóng dáng” của bản  thân trong những trò chơi game, trong đam mê của những chất kích thích, sự phấn khích của cờ bạc đỏ đen, của thú vui thân xác,… bạn đang không thật sống ở thế giới thật. Vạn nhất gặp phải điều bất hạnh, bạn sẽ lạc lối trong thế giới huyễn hoặc đang cố tạo ra, lang thang mãi trong thế giới ảo khi về lại thế giới vật chất chỉ e trên thân “Mọc đầy lông lá”.
Mọi việc sẽ tích lũy lại, bạn không dễ dàng từ bỏ một thói quen nếu không quả cảm từ bỏ thói quen đó. Chủ bạc sẽ trở thành con bạc; người bán ma tuý,… sẽ sớm trở thành con nghiện; cướp của, giết người rồi thì sẽ chịu sự trừng phạt của pháp luật, lương tâm. Công lý luôn tồn tại, công lý có trong sự hiểu biết của mỗi người.
Những điều tôi trình bày là lẽ thật. Bạn hãy chiêm nghiệm. Thận trọng!
Thật sự vòng quay luân hồi rất mầu nhiệm và công bằng. Luân hồi không đáng sợ như con người lầm tưởng. Con sâu rúc vào kén, hóa nhộng rồi thành bướm. Con sâu không chết đi, con sâu chỉ trở thành con bướm. Nếu nhận biết rõ thật như thế, con sâu sẽ không buồn phiền, khổ não vì con sâu biết rằng “Ngày mai, mình sẽ bay cao và bay xa hơn đến với những chân trời mới”. Chúng sinh 3 cõi 6 đường cũng đều như vậy nhưng điều quan trọng nhất là phải sống thật, an trú trong hiện tại và sống với sự hiểu biết sáng rõ về sự sống cũng như giá trị của tự thân. Một điều quan trọng không kém là phải giữ sự cân bằng, an toàn cho trái đất vì lẽ “Giữ được non xanh lo gì mai này không có củi đốt”.
Nhưng phải chăng không có lối thoát khỏi vòng quay luân hồi? Không. Vòng quay luân hồi vốn tự có lối ra. Tôi đã bước qua lối đó rơi vào luân hồi và cũng sẽ bước qua lối đó để thoát khỏi luân hồi. Nếu bạn nhận thức luân hồi quá khốc liệt, tàn nhẫn, mang xác thân vật chất chỉ khốn cùng, đau khổ thì tôi sẽ chỉ bạn lối ra. Sự tồn tại cái tôi trong bạn đã khiến bạn lạc lối trong 3 cõi. Bạn hãy hành trì buông bỏ cái tôi vốn không thường tại, hiện hữu bởi do sự mê lầm và sống thật trong hiện tại. Khi nhân duyên đủ, xác thân tan rã về tứ đại bạn hãy buông bỏ cái tôi thường tại vốn kết tinh bằng không đại cho tâm hòa vào hư không bao trùm tất cả. Bạn đã thoát khỏi luân hồi. Bạn đừng lo lắng loài người tuyệt diệt vì dù cho toàn nhân loại hành trì đồng thời thoát ra khỏi luân hồi thì sự sống vẫn tồn tại. Bởi lẽ có hai dạng chúng sinh mà bạn không rõ biết luôn tồn tại đảm bảo duy trì sự sống trong vũ trụ. Đó là chúng sinh một tâm có nhiều thân và chúng sinh một thân có nhiều tâm. Hơn nữa, những chủng loài cấp thấp hơn sẽ luân chuyển sang nẻo Người duy trì sự tồn tại của con người.
Bạn hãy chọn lựa con đường bạn đi “Dừng lại hay tiếp tục trôi nổi trong luân hồi”. Nếu muốn bước vào những nẻo tốt ở 6 đường thì bạn hãy sống thật với sự hiểu biết sáng rõ và an trú ở thời điểm hiện tại để thường xuyên tiếp xúc với bản tâm vắng lặng, không phân biệt, dính mắc. Khi có chánh định và biết buông bỏ, dừng lại đúng lúc bạn sẽ tự chủ hoàn toàn trong các nẻo luân hồi. Từ bi hỷ xả là trợ pháp hữu hiệu giúp bạn dũng mãnh, tinh tấn hành bồ tát đạo. Bạn nên tỉnh táo, sáng suốt lựa chọn lối đi cho bản thân vì lẽ “Thân người khó được, chánh pháp khó tìm cầu”. Nếu đã có đủ duyên thì bạn hãy nên trân quý giá trị của sự sống và giá trị con người.
Tâm có thể rỗng không, tịch tịnh. Tâm vốn là hư không. Ý thức phân biệt, dính mắc,… tạo ra cái tôi ở mỗi người. Cái tôi đó không hình dạng, màu sắc, không thể cầm nắm, nếm ngửi. Thể của cái tôi cũng là hư không. Nhưng chúng sinh trong 3 cõi u mê, chấp giữ nên theo nghiệp lăn lên, lộn xuống trong 6 đường vì nghĩ tưởng cái tôi là thật có. Nếu bạn nhận ra đời là bể khổ. Muốn thoát khỏi luân hồi; không muốn trôi nổi, đói khổ trong kiếp ngạ quỷ, không muốn chịu nỗi đau kinh khiếp do việc bị hành hạ ở cõi địa ngục tối tăm, không muốn “mang lông, đội vảy”,… Chấp nhận “Chết là hết” thì bạn hãy hành trì buông bỏ cái tôi. Khi “nhắm mắt lìa đời” hãy tan ra như làn khói nhẹ, như hạt sương mai,… Bạn sẽ được giải thoát hoàn toàn. Bạn hãy sống tùy thuận theo đạo. Dứt trừ tham lam, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn. Lối sống đó sẽ giúp bạn có cuộc sống an lạc, thanh thản, hạnh phúc. Từ bi hỷ xả giúp bạn sớm được giải thoát hoàn toàn. Thật không dễ buông bỏ! Nếu bạn không thật sự quả cảm và mạnh mẽ từ bỏ lối sống thực dụng ích kỷ, xấu xa, đam mê hưởng thụ. Tôi vì bi nguyện của Đức Phật Thích Ca nói lời đúng thật, không hư dối gửi đến nhân loại. Trân trọng!

Hãy xét lại vấn đề “Bạn nên cứu người hay cứu bạn trước?”.


BIỆN CHỨNG CỦA TƯ TƯỞNG DUNG HOÀ TRONG VĂN HOÁ - TÔN GIÁO VIỆT NAM:

Written By kinhtehoc on Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012 | 04:32



                                                                      LÊ THỊ LAN (*)

Tư tưởng dung hoà như một nguyên tắc tồn tại của người Việt Nam được hình thành từ rất sớm trong lịch sử và ngày càng được bổ sung thêm nhiều nội dung mới theo tiến trình phát triển của dân tộc. Tư tưởng này bao gồm các nội dung: hoà hợp với tự nhiên; dung hoà với xã hội; dung hoà với con người. Tư tưởng dung hoà vận động trong suốt lịch sử cổ-trung đại Việt Nam đã tạo ra một diện mạo văn hoá Việt, làm nên một tổng thể các yếu tố văn hoá - tôn giáo (Nho - Đạo Phật và các yếu tố bản địa) khi được bổ sung thêm những giá trị nhân văn mới mẻ, tiến bộ của phương Tây thời cận, hiện đại. Tuy có giai đoạn tư tưởng dung hoà bị lãng quên hay bỏ qua, gây nên những hệ quả tiêu cực về văn hoá- xã hội, nhưng sự tự nhận thức, điều chỉnh và ứng dụng nguyên tắc này trên tinh thần thời đại, phù hợp với thực thể văn hoá - xã hội của người Việt vẫn luôn được giới tinh hoa coi như  chiếc chìa khoá vàng cho sự phát triển văn hoá của dân tộc.

Việt Nam được biết tới như một quốc gia có nhiều tôn giáo và nhiều nền văn hoá dân tộc. Trong đó, văn hoá của dân tộc Việt là lớn nhất và Phật giáo là phổ biến nhất. Trong suốt chiều dài lịch sử, dù trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc hay gần 100 năm Pháp thuộc, Việt Nam vẫn bảo tồn và phát triển nền văn hoá của mình, không bị Hán hoá, không bị Tây hoá. Văn hoá Việt Nam ngày càng phát triển trên cái gốc là tam giáo (Nho – Đạo – Phật) và tín ngưỡng bản địa, nhờ sức sống là truyền thống dung hoà.
Tư tưởng dung hoà như một nguyên tắc tồn tại của người Việt Nam được hình thành từ rất sớm trong lịch sử và ngày càng được bổ sung thêm nhiều nội dung mới theo tiến trình phát triển của dân tộc. Tư tưởng này bao gồm các nội dung: dung hoà, hoà hợp với tự nhiên (hành động theo tự nhiên, không chống lại thiên nhiên, thích nghi với tự nhiên); dung hoà với xã hội (về mặt chính trị theo nguyên tắc thần phục giả vờ, độc lập thật sự, học tập cách tổ chức nhà nước của Trung Quốc; về mặt văn hoá tư tưởng theo nguyên tắc "không từ chối", tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác trong quá trình giao lưu, như nhạc Chăm trong cung đình, diễn trò của Trung Quốc...; về mặt ngôn ngữ sử dụng nhiều từ vựng gốc Môn - Khơme, Tầy Thái, Mã Lai, Hán, Ấn Độ...; về mặt tôn giáo tiếp thu các thuyết Nho, Đạo, Phật, Công giáo, Tin lành..., tiếp thu nhiều tư tưởng của cả phương Đông lẫn phương Tây); dung hoà với con người theo nguyên tắc dĩ hoà vi quý, lưỡng trị, điều hoà quyền lợi.
Tư tưởng dung hoà hình thành trong lịch sử Việt Nam dựa trên cơ sở ban đầu là môi trường sống của dân tộc Việt. Sự phát triển địa vực cư trú của người Việt từ vùng núi xuống vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng thời kỳ đang được bồi lấp, từ phía tây lan xuống phía đông, từ phía bắc lan xuống phía nam là sự đan xen giữa môi trường nước và núi. Vị trí địa lý của Việt Nam ở phía đông bán đảo Đông Dương, nằm trên ngã ba đường thương mại biển từ Nam lên Bắc và ngược lại, nên cũng nằm ở ngã ba của giao lưu, tiếp xúc, hội nhập văn hoá... Chính môi trường địa lý nhân văn này đã tạo xu hướng luôn giao lưu, hội nhập văn hoá giữa cộng đồng Việt với các cộng đồng khác, hình thành thế ứng xử mềm mại, dung hoà trong cộng đồng của người Việt.
Tư tưởng dung hoà còn bắt nguồn từ chính lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam. Về mặt dân tộc học, dân tộc Việt bao gồm nhiều nhóm tộc người liên kết dưới quyền thủ lĩnh chung. Quá trình phát triển cộng đồng Việt là quá trình dung nạp, phối hợp thêm nhiều tộc người, như người Hoa, người Chăm, người Khơme... mà như nhận xét của một nhà nghiên cứu thì "Người Việt và tiếng Việt là kết quả của những sự giao thoa, tiếp xúc, đan xen ngôn ngữ - tộc người - văn hoá kỳ lạ - và có thể nói là bí nhiệm nhất trong lịch sử Đông Nam Á"(1).
Chính môi trường địa lý, địa vực, dân tộc luôn có sự mở rộng, tiếp xúc, giao lưu là cơ sở để tư tưởng dung hoà xuất hiện, phát triển, củng cố và như một nguyên tắc nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của Việt Nam.
Về mặt lịch sử, nguyên tắc "dung hoà", "hoà hợp" của Việt Nam được hình thành ngay từ buổi ban đầu của lịch sử dân tộc và trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm với nội dung ngày càng mở rộng.
 Giai đoạn hình thành tư tưởng dung hoà là vào khoảng thế kỷ VII - V TCN., với nội dung chủ yếu là ý thức hoà hợp với thiên nhiên, với cộng đồng. Chẳng hạn, truyền thuyết lý giải nguồn gốc tục xăm mình của người Việt là bắt chước tự nhiên để giống hình thuỷ quái, để người Việt bắt cá, kiếm sống được dễ dàng. Tục xăm mình còn tồn tại tới thế kỷ XIV, được phản ánh vào sử sách (Đại Việt sử ký toàn thư) và mang ý nghĩa triết học như một thông điệp của lịch sử về thế ứng xử, phương thức sống của người Việt. Nhà của người Việt cổ là nhà sàn bằng tre, gỗ, được kiến trúc rất phù hợp với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều vùng nhiệt đới. Lễ hội là sinh hoạt văn hoá của nhân dân được tổ chức phù hợp với thời vụ nông nghiệp... Tính cách chung của người Việt được phản ánh trên các di vật cổ là vui vẻ, cởi mở, cùng hợp tác lao động với người khác. Tư tưởng hoà hợp đã tạo ra một không gian văn hoá, một thế sinh hoà bình, vui vẻ, ổn định cho người dân.
Qua quá trình lịch sử lâu dài, tư tưởng hoà hợp ngày càng chứng tỏ là  một nguyên tắc hiệu quả cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc Việt. Đến đầu thời kỳ Bắc thuộc, tư tưởng này đã có thêm nội dung dung hoà quyền lợi chính trị - xã hội. Người Việt đã vận dụng nguyên tắc này vào ứng xử chính trị nhằm bảo vệ chủ quyền của mình trước kẻ xâm lược mạnh hơn nhiều lần. Để tránh chiến tranh, các thủ lĩnh Việt đã mang lễ vật, xin thần phục Triệu Đà và được phép cai trị dân như cũ. Nguyên tắc "thần phục giả vờ, độc lập thực sự" khởi đầu từ các thủ lĩnh Việt cổ trong ứng phó với phương Bắc đã trở thành nguyên tắc số một trong văn hoá chính trị của người Việt. Sau thời Bắc thuộc, dù chiến thắng kẻ xâm lược, các triều đại vua Việt vẫn tiếp tục ứng dụng tư tưởng dung hoà này, sang triều đình Trung Hoa cầu phong, để giữ gìn độc lập, hoà bình cho dân tộc.
Trong thời kỳ Việt Nam bị phương Bắc thống trị, một mặt, do bị cưỡng bức văn hoá; mặt khác, do sự giao lưu, tiếp xúc văn hoá và do tác động của tư tưởng dung hoà, nên xu hướng tiếp thu, hội nhập các yếu tố văn hoá Hán và Ấn vào nền văn hoá bản địa đã hình thành. Như vậy, vào giai đoạn này, tư tưởng dung hoà đã có thêm nội dung hoà hợp với các tôn giáo, các tư tưởng ngoại lai. Nho, Phật, Đạo từ phương Bắc xuống, Phật giáo từ Ấn Độ sang được tiếp nhận, dung hoà vào nền văn hoá bản địa, trở thành các thành tố của văn hoá Việt Nam. Từ giai đoạn này trở đi, "sự hỗn dung tôn giáo (syncretion religions) hay khuynh hướng dung hoà tư tưởng và tôn giáo chắc chắn là một bản tính của tâm thức Việt Nam"(2) Nhân dân đã Phật giáo hoá thần mưa, thần sấm, thần gió, thần mây trong tín ngưỡng dân gian thành các vị Phật bà. Đức Phật là Nam thần sang Việt Nam đã trở thành nữ thần. Thời Sĩ  Nhiếp, tư tưởng dung hoà văn hoá, tôn giáo đạt tới đỉnh cao. Sĩ Nhiếp coi trọng cả Nho, Đạo, Phật và tín ngưỡng thờ linh khí sông núi, thờ thần bản địa trong cai trị và đã tạo ra được một giai đoạn ổn định, thịnh vượng và đa dạng về văn hoá. Từ Sĩ Nhiếp, các tôn giáo ngoại lai được biến đổi phù hợp và hoà nhập với tôn giáo bản địa tạo thành nội dung chủ yếu của thực thể tinh thần Việt.
Từ 938 trở đi, Việt Nam bước vào thời kỳ tự chủ, xây dựng đất nước. Tư tưởng dung hoà càng được tuân thủ và phát triển trên tất cả các nội dung của nó, đặc biệt là trong bốn thế kỷ tiếp theo, dưới hai triều Lý, Trần. Mặc dù chiến thắng giặc ngoại xâm, các vua Việt vẫn duy trì nguyên tắc đối ngoại "thần phục giả vờ, độc lập thực sự" với Trung Quốc nên đã có được nhiều thời gian hoà bình. Về mặt văn hoá - tôn giáo, các vị vua nhà Lý, Trần tiếp thu nhiều yếu tố văn hoá Chăm, Trung Hoa (như âm nhạc, kiến trúc), phát triển Phật giáo trong đời sống văn hoá xã hội, phát triển Nho giáo trong đời sống chính trị trong khi vẫn duy trì các luật tục, tập quán bản địa, như tập quán coi trọng phụ nữ, tục xăm mình, hội thề Đồng cổ... Triết lý chính trị, triết lý đời sống của nhà Trần là "hoà ánh sáng với bụi bặm", biểu hiện khuynh hướng tư tưởng dung hợp mọi điều được cho là tốt và phù hợp với thế sinh người Việt khi đó, dù nó đến từ các ngả đường khác nhau. Vì thế, triết lý này càng củng cố và làm sâu sắc thêm nội dung tư tưởng dung hoà văn hoá - tôn giáo Việt Nam. Với triết lý đó, đời sống tinh thần triều Lý - Trần được khái quát bằng 4 từ: khoan - giản – an - lạc, đã tạo nên một nền văn hoá Đại Việt phát triển rực rỡ, giàu sức sống. Trong thời kỳ này, nhiều loại hình nghệ thuật dân gian được phát triển như dân ca, chèo, tuồng. Chữ Nôm ra đời tạo thêm một công cụ cho sự phát triển văn học. Thơ văn Thiền thời Lý -Trần chứa đựng những giá trị triết lý, nhân văn vĩnh hằng. Đạo đức Nho giáo bổ sung cho đạo đức dân gian hệ chuẩn mực rõ ràng, ổn định. Bằng tinh thần dung hoà, tầng lớp thống trị đã xây dựng được một nền văn hoá thống nhất từ trên xuống dưới, chưa có sự chia tách giữa văn hoá dân gian và văn hoá cung đình.
Từ thế kỷ XV trở đi, giai cấp thống trị ngày càng chú trọng phát triển Nho giáo theo con đường cứng nhắc, Hoa hoá. Với sự tiếp thu văn hoá Nho, tư tưởng dung hoà tìm được lý luận của mình trong học thuyết hoà hợp của Khổng Tử(3) nhưng đã bị xuyên tạc, bóp méo qua Hán Nho, Tống Nho với các nội dung "thiên nhân hợp nhất", "thiên nhân tương dữ", "nhân trị, đức trị", "trung dung"... Nhưng cũng do xu hướng đề cao Nho giáo quá mức, bắt chước Trung Hoa, nên các vua Lê có xu hướng xa rời tư tưởng dung hoà, khiến triều đình ngày càng xa dân, dẫn đến sự phân hoá thành hai nền văn hoá trong một thực thể dân tộc: văn hoá dân gian và văn hoá chính thống. Xu hướng bài xích Phật giáo đã xuất hiện, Nho giáo được đưa lên địa vị thống trị. Xu hướng này ngày càng mạnh đến mức tạo ra hai sắc thái đối lập (văn hoá nhân dân thì mang đậm sắc thái Đông Nam Á, văn hoá cung đình thì mang đậm sắc thái Trung Hoa). Tuy nhiên, sang thế kỷ XVI - XVII, trong hành trình nam tiến, tư tưởng dung hoà văn hoá lại được các chúa Nguyễn củng cố. Sự tiếp thu văn hoá Chăm, sự tự do truyền đạo Công giáo ở buổi đầu... đã tạo thêm những sắc thái đa dạng cho nền văn hoá Việt.
Đến thời Pháp thuộc, văn hoá phương Tây hội nhập vào nền văn hoá Việt cả bằng con đường cưỡng bức và tiếp thu tự nguyện. Nguyên tắc "không chối từ" như một công cụ vô thức giải Hoa hoá nền văn hoá chính thống nhưng lại Pháp hoá, Tây hoá nền văn hoá này và tạo nên một sắc thái mới trong tổng thể văn hoá Việt. Lúc này, văn hoá Nho giáo suy thoái nhưng không mất hẳn, văn hoá phương Tây được tiếp thu và phát triển đặc biệt ở thành thị và trong giới trí thức, tiểu tư sản, văn hoá Phật giáo vẫn phổ biến cùng văn hoá dân gian. Tư tưởng dung hoà, một lần nữa, đã tiếp thêm sức sống cho nền văn hoá Việt. Trong nửa đầu thế kỷ XX, được kích thích bởi sự tiếp xúc với văn hoá phương Tây, người Việt đã thu nhận những giá trị nhân văn mới mẻ, tiến bộ của nhân loại, như tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền, dân chủ. Những giá trị này đã được chào đón nồng nhiệt bởi tinh thần dung hoà của người Việt và bởi nó rất gần với các giá trị nhân văn cổ truyền. Đặc biệt, việc tiếp thu, dung hoà các tinh hoa văn hoá phương Tây đã đưa tới sự bùng nổ trong khoa học - nghệ thuật với sự hình thành nhiều trường phái mới có tính chất Tây phương hoá. Âm nhạc trữ tình, hội hoạ lãng mạn, thơ mới, văn học hiện thực phê phán... và những nền tảng khoa học, kỹ thuật là những thành quả to lớn trong quá trình hiện đại hoá đời sống tinh thần, văn hoá Việt Nam. Cũng giai đoạn này, các tôn giáo cũ và mới như tôn giáo dân gian, Phật giáo, Công giáo, đạo Cao đài, Hoà hảo... đều phát triển, các triết thuyết phương Tây đương đại như triết học Mác, phân tâm học, chủ nghĩa thực chứng, thuyết trực giác... du nhập vào Việt Nam rầm rộ và đa dạng, tạo nên một diện mạo mới mẻ, đầy sức sống trong đời sống tinh thần Việt.
Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo các tiêu chí khoa học, dân tộc và đại chúng (Đề cương văn hoá 1943). Do tác động của sự chuyển đổi cơ cấu văn hoá theo hướng xã hội chủ nghĩa, sự phân ly hai nền văn hoá trong một nền văn hoá thời kỳ trước 1954 đã bị xoá bỏ, ít nhất là trên bề mặt xã hội. Truyền thống dung hoà được coi trọng trên lý thuyết nhưng không được áp dụng trong thực tế. Do những nguyên nhân nhất định mà tính dân tộc đã bị xem nhẹ, tính giai cấp được nhấn mạnh. Văn hoá Nho giáo, Phật giáo, phương Tây bị xem xét lại. Nhiều tôn giáo dân gian (đạo thờ mẫu, thuật phong thuỷ) bị coi là mê tín dị đoan, nhiều lễ hội bị dẹp bỏ, v.v.. Điều đó dẫn tới sự hình thành một khoảng trống tâm linh trong nhân dân, đặc biệt là trong các thế hệ trẻ ngoài Bắc.
Công cuộc đổi mới t­ư duy năm 1986 của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước phát triển mới truyền thống dung hoà văn hoá -tôn giáo của dân tộc. Xu hướng này không ra ngoài xu hướng quốc tế chung trong những năm 80 - 90 thế kỷ XX, nhằm khẳng định lại chính mình của các nước đã được quá trình hiện đại hoá tạo nên sức mạnh, mang lại sự hồi sinh cho các nền văn hoá phi phương Tây(4). Các nội dung của truyền thống dung hoà đang dần dần được nhận thức lại và áp dụng vào thực tế.
Trên lĩnh vực văn hoá - tôn giáo, tự do tín ngưỡng được coi trọng. Phật giáo và các sinh hoạt văn hoá tôn giáo dân gian được phục hồi và phát triển nhanh chóng. Số lượng các tăng ni, Phật tử tăng nhanh. Chùa chiền được tu bổ, xây mới, các lễ hội được phục hồi... Công giáo đã có ảnh hưởng tới xã hội với sự xã hội hoá các ngày lễ Công giáo như­ Giáng sinh, Phục sinh... Tiếng nói của các tổ chức tôn giáo ngày càng được coi trọng trong đời sống chính trị - xã hội.
Điều hoà lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp nhân dân, tạo ra môi trường hợp tác lao động và hưởng thụ hài hoà là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng dung hoà. Đây là nội dung quan trọng mà Nhà nước Việt Nam đang cố gắng hướng tới. Nội dung này được Đảng Cộng sản Việt Nam đồng nhất với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và phấn đấu thực hiện suốt những năm qua. Con đường điều hoà lợi ích đã xuất phát từ chính thực thể văn hoá - xã hội của người Việt, là con đường kết hợp hiện đại hoá với dân tộc hoá.
Nhưng trong quá trình hiện đại hoá, nội dung hoà hợp với thiên nhiên rất dễ bị đặt sang một bên. Do áp lực phát triển kinh tế và quan niệm lạc hậu, cứng nhắc, thậm chí thiếu tri thức về chinh phục và cải tạo tự nhiên, do sự yếu kém trong ban hành và thực thi luật môi trường mà thiên nhiên Việt Nam ngày càng bị huỷ hoại nặng nề. Ô nhiễm môi trường, cháy rừng, nguồn nước cạn kiệt... dẫn tới sự suy giảm chất lượng sống. Sự mất cân bằng hệ sinh thái dẫn tới sự mất cân bằng trong văn hoá sống, trong thế sinh của người Việt và như vậy, làm thành vòng tròn lẩn quẩn dẫn tới nguy cơ phát triển không bền vững đang là một thách thức to lớn cho Việt Nam. Để khắc phục nguy cơ này, việc tiếp cận những kiến thức khoa học hiện đại về môi trường, học tập kinh nghiệm bảo vệ môi trường của các nước phát triển, xây dựng và thi hành bộ luật môi trường có hiệu quả, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho người dân là hết sức quan trọng. Đây không chỉ là công việc của nhà nước mà còn là nhiệm vụ quan trọng của các tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo trong việc giáo dục truyền thống văn hoá Phật giáo, tình yêu thiên nhiên, hướng dẫn bảo vệ môi trường cho các Phật tử.
Chính sách mở cửa, đa phương hoá quan hệ ngoại giao, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, hội nhập kinh tế thế giới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá kinh tế trong nước trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là một đường lối phát triển dân tộc đúng đắn trong thời đại toàn cầu hoá. Theo đường lối này, phương châm dung hoà trong ứng xử chính trị, ngoại giao và phát triển văn hoá được tôn trọng. Đây là chìa khoá mở đường cho hiện đại hoá văn hoá dân tộc trong thời đại mới. Tinh thần của đường lối này không chỉ phù hợp với xu hướng quốc tế về bảo tồn sự đa dạng hoá các nền văn hoá, mà còn phù hợp với truyền thống dung hoà của Việt Nam nên có tính thực tiễn rất cao. Thực tiễn văn hoá Việt Nam hơn 2000 năm cho thấy, ở giai đoạn nào, triều đại nào mà tư tưởng dung hoà được duy trì và củng cố thì giai đoạn đó, triều đại đó vững mạnh và giàu tiềm năng phát triển. Vì vậy, cho dù trong bối cảnh toàn cầu hoá, nguy cơ mất bản sắc văn hoá dân tộc rất lớn, nhưng việc kế thừa truyền thống dung hoà văn hoá - tôn giáo, ứng dụng nguyên tắc này trên một tinh thần mới chính là chiếc chìa khoá vàng để nền văn hoá Việt Nam ngày càng phát triển. /.

(*) Tiến sĩ triết học, Viện Triết học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
(1) Trần Quốc Vượng. Văn hoá Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm. Nxb Văn học, Hà Nội, 2003, tr. 47.
(2) Trần Quốc Vượng. Sđd., tr. 491.
(3) Xem: Trần Văn Đoàn. Hoà hợp và cộng thức. Khổng Tử và Habermas về chính trị. Bản dịch của Viện Triết học.
(4) Xem: Samuel Huntington. Sự va chạm giữa các nền văn minh. Nxb Lao động, Hà Nội, 2003, tr. 107.

Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt nam

Written By kinhtehoc on Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012 | 07:41



Tác giả
GS,TS. Đỗ Quang Hưng
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, 562 tr.

Tôn giáo là lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần và an ninh chính trị của bất kỳ quốc gia nào mà nó hiện hữu. Vì vậy, nghiên cứu tôn giáo và xem nó như đối tượng của khoa học và những suy tư triết học, nghiên cứu kinh nghiệm giải quyết của các quốc gia (đặc biệt những nước có nhiều nét tương đồng về văn hoá - chính trị và có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình cách mạng Việt Nam) luôn là một vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc.
Từ những lý do đó, GS,TS. Đỗ Quang Hưng – một chuyên gia trong lĩnh vực tôn giáo đã ra mắt bạn đọc cuốn sách Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - lý luận và thực tiễn. Mong muốn của tác giả là trình bày quá trình tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, trên cơ sở đó, cung cấp những luận cứ khoa học, góp phần hoàn thiện chính sách tôn giáo hiện nay.
Cuốn sách dày 562 trang, với 539 trang nội dung gồm 4 phần, 15 chương mục. Phần 1, tác giả trình bày kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, Liên Xô (cũ), Pháp trong cách giải quyết vấn đề tôn giáo mà theo tác giả, trong lịch sử nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo không thể tách rời thực tiễn của ba nước này, nếu không muốn nói thái độ đối với tôn giáo của Đảng Cộng sản ở ba nước trên ảnh hưởng rất lớn đến Đảng ta.
Phần 2, tác giả trình bày ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với nhận thức lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề này.
Hai phần sau cùng, tác giả trình bày quá trình phát sinh và phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, cùng với đó là quá trình xây dựng và hoàn thiện đường lối, chính sách tôn giáo qua các giai đoạn lịch sử, chủ yếu từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay.
Cuốn sách Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - lý luận và thực tiễn, nhìn tổng thể, kết cấu theo một lôgíc chặt chẽ. Trước hết, tác giả hệ thống hoá lại những quan điểm về tôn giáo của các nước, như Trung Quốc, Liên Xô (cũ), Pháp để từ đó cho thấy ảnh hưởng của nó trong nhận thức và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo dòng lịch sử, tác giả đi từ phân tích những nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, Trần Đình Long, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Lê Thanh Nghị… và qua đó, cho thấy quá trình hình thành, phát triển hệ thống quan điểm của Đảng và có sự so sánh giữa các giai đoạn, các thời kỳ khác nhau về vấn đề này.
Một vấn đề khác, theo chúng tôi, làm cho giá trị của cuốn sách được nhân lên, là bạn đọc có thể tìm thấy ở đó nguồn tư liệu mới, quý hiếm chưa từng được công bố. Tác giả đã tiếp cận đến nguồn tư liệu gốc, tư liệu lưu trữ của Đảng và Nhà nước, của các cơ quan ban ngành về tôn giáo với nhiều ý kiến của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chưa từng công bố và chưa mấy ai biết tới, rất có ý nghĩa đối với các học giả và những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề này.
Tác giả khiêm tốn cho rằng, vì là một đề tài mới và khó,  khả năng của người viết có hạn nên chỉ coi cuốn sách là kết quả khởi đầu của sự khai phá lĩnh vực nghiên cứu lịch sử công tác lý luận của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo. Song, theo chúng tôi, cuốn sách không chỉ dừng lại ở việc tổng kết quá trình lịch sử tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, mà trong sự khái quát hoá đó, tác giả đã gửi gắm những suy tư của mình đối với một vấn đề luôn có độ nhạy cảm chính trị đặc biệt, góp những luận cứ khoa học để xây dựng một chính sách tôn giáo ngày càng hoàn thiện hơn ở Việt Nam hiện nay..
TS.ĐỖ LAN HIỀN (Viện Triết học)

Tổ Tiên, Ông Bà Trong Tôn Giáo Nội Sinh Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

Written By kinhtehoc on Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012 | 22:11


Không giống với các vùng miền khác trên lãnh thổ Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long là quê hương của nhiều tôn giáo nội sinh, như đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo… và rất nhiều những Ông Đạo khác, kiểu đạo Dừa, đạo Nằm, đạo Ngồi, đạo Tưởng v.v…

Các tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm. Ngọn cờ giải phóng dân tộc, bảo vệ nòi giống, giữ gìn truyền thống cha ông, hướng về tổ tiên… luôn được tín đồ đặt lên hàng đầu trong quan niệm đạo lý, hành đạo cũng như trong ứng xử hằng ngày.

Các tôn giáo nội sinh Đồng bằng sông Cửu Long đều có mục đích, tôn chỉ, hệ thống giáo lý, nghi thức hành đạo, đối tượng tôn thờ riêng. Nhưng chúng ta dễ dàng nhận thấy hầu hết các tôn giáo này đều hướng về tổ tiên, ông bà. Tổ tiên ông bà là một trong những đối tượng tôn thờ chính của các tôn giáo nội sinh trên vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long. Trong quan niệm đạo lý, cách thức hành xử, lễ nghi tôn giáo, tổ tiên ông bà giữ một vị trí hết sức quan trọng, thậm chí có những tôn giáo xem tổ tiên ông bà là đối tượng trung tâm của sự tôn thờ. Từ đạo lý truyền thống phát triển thành giáo thuyết tôn giáo mà tổ tiên, ông bà trở thành đối tượng tín ngưỡng chính là đặc trưng cơ bản của tôn giáo nội sinh Đồng bằng sông Cửu Long.

Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương


Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (được hiểu là núi báu [núi Cấm-Thất Sơn] có hương lạ) ra đời từ năm 1849. Đây là tôn giáo địa phương đầu tiên của Nam Bộ. Sự ra đời của nó ảnh hưởng trên nhiều mặt đối với đời sống nhân dân Đồng bằng sông Cửu Long lúc ấy cũng như quan niệm đạo lý của các tôn giáo địa phương ra đời sau này...

Người sáng lập và truyền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là Đoàn Minh Huyên (1807-1856). Năm Kỷ Dậu (1849), Đoàn Minh Huyên về làng Kiến Thạnh, giữa lúc dịch thời khí đang hoành hành, số người mắc bệnh chết rất nhiều... Ông đã chữa bệnh cho nông dân bằng pháp thuật và bùa chú: dùng nước cúng trên bàn thờ, bao nhang, giấy vàng bạc, bông vạn thọ dâng Phật... Theo lưu truyền cách chữa bệnh của ông đạt kết quả rất cao, không những đối với bệnh thời khí mà những bệnh khác ông cũng đều chữa khỏi. Ông vừa chữa bệnh vừa khuyên mọi người hãy tu niệm theo những quan niệm đạo lý đơn giản, dễ đi vào lòng người, trước là khuyên bảo với những người được chữa bệnh, sau đó rộng rãi trong nhân dân, đã cuốn hút rất nhiều người tin theo... Do nhu cầu chữa bệnh và truyền đạo ngày càng lớn, dân chúng đến thọ giáo ngày một đông nên Đoàn Minh Huyên đã cho đệ tử dựng một ngôi chùa, sau này gọi là Tây An Cổ Tự, chính thức khai đạo, mở đường lối tu hành riêng, hình thành cơ cấu, nghi thức thờ phượng lễ bái của một tôn giáo mới.

Ở làng Long Kiến vừa chữa bệnh, vừa truyền đạo được tín đồ tin theo rất đông một thời gian, Đoàn Minh Huyên bị chính quyền địa phương cho là “gian đạo sỹ”, tụ họp người làm loạn, chống triều đình. Ông bị bắt đưa về Châu Đốc. Sau đó, quan Trấn Châu Đốc đã thả ông ra, cho hành đạo tại chùa Tây An núi Sam (vì vậy sau này Đoàn Minh Huyên được gọi là Phật Thầy Tây An). Có thể nói Đoàn Minh Huyên “bị quản thúc” tại đây đúng hơn là ông đã chọn nơi này để hành đạo (vì Tây An vốn là một ngôi chùa Phật giáo). Tại đây, Đoàn Minh Huyên đã tiếp tục những công việc còn bỏ dở ở làng Long Kiến ngày trước, tức truyền bá, phát triển một mối đạo mà đến lúc này ông gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương.

Các đại đệ tử nổi tiếng của Đoàn Minh Huyên có ông Cố Quản (Trần Văn Thành-lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp ở Bảy Thưa, Láng Linh 1867-1873), ông Tăng Chủ (người được Đoàn Minh Huyên giao cho nhiệm vụ trông coi trại ruộng Thới Sơn), ông Đình Tây (Bùi Văn Tây, một người có tinh thần chống Pháp tích cực), ông Đạo Xuyến (Nguyễn Văn Xuyến), ông Đạo Lập, ông Đạo Sỹ, ông Đạo Thắng (Nguyễn Văn Thắng), ông Đạo Chợ, ông Đạo Đọt, ông Nguyễn Đa (Cử Đa, một người giàu lòng yêu nước, tích cực chống Pháp)... Hầu hết họ là những người quê ở An Giang và các tỉnh miền Tây Nam Bộ. họ không chỉ giúp Đoàn Minh Huyên trong việc khai phá đất mới, xây dựng trại ruộng, chùa chiền, mà còn là những người truyền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương một cách tích cực, rộng khắp Đồng bằng sông Cửu Long.
Những ngôi chùa Bửu Sơn Kỳ Hương không bài trí một hình ảnh hay cốt tượng Phật giáo nào, chỉ cho thờ một tấm vải màu đỏ, gọi là Trần Điều, treo trước tường chính điện. Bàn thờ bày hoa, nước lã, nhang đèn, không có chuông, mõ... Tấm Trần Điều được hiểu là tiêu biểu cho tấm lòng từ bi, bác ái, đoàn kết, yêu mến đồng bào, nhân loại... Trong chùa cũng không có hình bóng màu áo tu sỹ nhà Phật (người quản tự mặc áo quần đen), không có tiếng tụng kinh, gõ mõ. Mọi người, từ đại đệ tử đến tín đồ đều được tự do để tóc, để râu, không bị kiêng cấm việc dựng vợ gả chồng. Tất cả đều có gia đình riêng và tự làm ăn sinh sống.

Theo Đoàn Minh Huyên, muốn được dự Hội Long Hoa, mỗi người phải loại trừ cái xấu, vượt lên trên bằng cách thực hiện tu nhân học Phật. Tu nhân được cắt nghĩa là rèn sửa tâm tính, làm lành lánh dữ để tích đức. Tu nhân, trước nhằm đem con người trở lại đường thiện, nẻo ngay, sống đúng với đạo làm người đối với gia đình, xã hội, phù hợp với luân thường đạo lý, theo tiêu chuẩn nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Muốn tu nhân phải thực hiện Tứ đại trọng ân, tức coi trọng việc thực hiện đền trả bốn ân lớn. Đó là ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) và ân đồng bào, nhân loại. Theo Phật Thầy Đoàn Minh Huyên: muốn tròn cái đạo làm người thì không ai không có bổn phận đền đáp bốn cái ơn ấy, vì đó là căn bản của cả cái đạo làm người, là nấc thang thứ nhất đưa con người tiến trên đường đạo hạnh. Tứ đại trọng ân là nền tảng đạo lý của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, chi phối tư tưởng, đời sống của tín đồ theo yêu cầu của tôn giáo này.

Học Phật là niệm Phật, tức trì niệm danh hiệu Phật-A-di-Đà, không phải khó nhọc nhiều công gì là đã có thể được vãng sanh, được về cõi Tây phương cực lạc. Phật Thầy Tây An không thuyết giáo nhiều và không đặt nặng vấn đề học Phật đối với tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương-thực tế cho thấy tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ chú trọng tứ đại trọng ân (đền trả bốn ơn) và trì niệm danh niệm Phật A-Di-Đà. Học Phật tức là noi gương theo đức Phật mà thôi...

Tất cả tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đều không phải ly gia cát ái, không phải ăn chay trường. Họ được xem là cư sỹ tại gia. Phật Thầy dạy cho tín đồ nghi thức thờ cúng tại nhà như sau: Trong nhà, ngoài bàn thờ Tổ tiên, ông bà, cha mẹ còn có ngôi Tam bảo, trên chỉ bài trí một tấm Trần Điều, hương hoa, nườc lã, giống như ở chùa Bửu Sơn Kỳ Hương. Như vậy, gia đình tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương chỉ có hai bàn thờ, đó là bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ và bàn thờ Tam Bảo…

Mục đích cuối cùng của việc tu nhân là để được dự Hội Long Hoa-Đại hội để chọn người hiền đức, hầu tạo dựng xã hội mới an lạc, sau đó tiếp tục học đạo để trở lại cứu vớt cuộc đời trần thế. Về mặt xã hội, nội dung của tu nhân học Phật, mà cốt lõi là lý thuyết Tứ Ân, đặc biệt ân đất nước, được Đoàn Minh Huyên nhấn mạnh, rất có ý nghĩa trong công việc bảo vệ độc lập dân tộc trong hoàn cảnh thực dân Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên chúng ta thấy các đại đệ tử của Bửu Sơn Kỳ Hương đều là những lãnh tụ của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ nửa cuối thế kỷ XIX... Họ tham gia kháng chiến chống Pháp với khẩu hiệu hết sức rõ ràng, có sức lay động mọi tầng lớp nhân dân bấy giờ là: đền trả ân đất nước, giữ gìn truyền thống tổ tiên, báo đáp công ơn ông bà, cha mẹ đã gầy dựng giang sơn...

Hiện nay, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng vài chục ngàn tín đồ với nhiều cơ sở thờ tự (vẫn giữ được truyền thống như thời kỳ đầu) ở vùng Bảy Núi, An Giang và một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long...

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa


Trong thời gian tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương ở vùng Bảy Thưa-Láng Linh đang chuẩn bị và thực hiện cuộc khởi nghĩa chống Pháp (1867), do người đứng đầu tôn giáo của họ là Trần Văn Thành lãnh đạo, thì ở vùng Châu Đốc (An Giang) dân chúng xôn xao về một người vừa được giáng thế, truyền đạo cứu đời. Người ấy có tên là Ngô Lợi (1831-1890) và tôn giáo do ông truyền dạy đó, sau này, được gọi là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoặc gọi tắt theo cách của người Nam Bộ là đạo Hiếu Nghĩa.

Ngô Lợi vừa khuyên người đời tu niệm, vừa chữa bệnh (dịch) cho mọi người theo phương pháp như trước đây Đoàn Minh Huyên đã làm: cho bệnh nhân uống nước lã, giấy vàng vẽ bùa và có thêm niệm thần chú. Ông đã cứu sống được nhiều người, danh tiếng vang dội khắp nơi, thu hút hàng ngàn người tìm đến ông để chữa bệnh và học đạo.

Tháng 5 năm 1867, Ngô Lợi chính thức khai đạo và dạy nghi thức hành đạo cho nông dân. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa lúc mới ra đời chưa có tên gọi chính thức. Nhiều người theo ông học đạo, hay gia nhập tôn giáo của ông, hỏi danh xưng của đạo là gì? Ông đáp vắn tắt là Đạo Thờ Ông Bà, đúng như tinh thần đạo lý đã truyền giảng. Sau này, khoảng năm 1870 trở đi, tôn giáo do Ngô Lợi sáng lập mới được gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa (cũng có tài liệu nói danh xưng này chỉ xuất hiện khi thực dân Pháp bắt xưng danh mối đạo để tiện việc kiểm tra sau khi Ngô Lợi đã mất, 1890). Các tên gọi của đạo phản ánh nội dung hành xử của giáo lý. Đạo Thờ Ông Bà là nhằm chỉ một trong những đối tượng quan trọng nhất của nghi thức thờ cúng, đồng thời cũng nhấn mạnh tinh thần “hiếu nghĩa” đối với tổ tiên của những người theo tôn giáo này. Trong Kinh Hiếu Nghĩa, phần Phụng bái Bác Như Lai, Ngô Lợi viết: “Hiếu Nghĩa là đầu mối của tứ ân, thực hành được hiếu nghĩa (theo tinh thần của kinh này), thì đền trả được ơn tổ tiên, cha mẹ, đất nước, đồng bào, nhân loại và tam bảo... công đức của đạo Hiếu thật là rộng lớn”. Như vậy, tên gọi đạo Hiếu Nghĩa đã phản ánh cứu cánh quan trọng của tôn giáo này... Không giống với các tôn giáo khác, tên gọi thường gắn với đấng sáng lập, hay đức tin, hoặc địa điểm ra đời. Tứ Ân Hiếu Nghĩa là tên gọi bao hàm chỉ mục đích và nội dung hành đạo mà chỉ mới nghe qua tên gọi người chưa biết về giáo lý của đạo cũng đã phần nào hình dung đây là một tôn giáo chú trọng đạo hiếu, đền trả ơn nghĩa tổ tiên, ông bà...

Tháng Giêng năm Nhâm Thân (1872), Ngô Lợi cùng rất nhiều tín đồ dùng thuyền ngược dòng Cửu Long đến xã An Lộc, tổng An Lương, An Giang truyền giảng giáo pháp. Đến tháng 7, ông đã xây cất ngôi chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa đầu tiên tại xã Bình Long. Từ đây, Ngô Lợi mở rộng việc truyền đạo ra khắp vùng (sang cù lao Ba, xã Vĩnh Thành nay là Vĩnh Trường, An Phú; ngược miền Thất Sơn). Đầu năm 1876, Đức Bổn Sư Ngô Lợi đã cử một đại đệ tử trung tín là Trần Tịnh đi thám sát núi Tượng, chọn địa điểm thuận tiện để đưa tín đồ vào đây khai hoang lập ấp, xây dựng cuộc sống ổn định. Sau khi công việc tiền trạm đạt kết quả, Ngô Lợi đã dẫn nhiều tín đồ vào núi Tượng “trảm thảo khai sơn”, xây dựng xóm làng, hình thành các làng mới An Định, An Hòa, An Thành, An Lập với 100% dân chúng là tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa[1]. Ông khuyên tín đồ phải tự lực, siêng năng khai mở đất đai, trồng tỉa nuôi thân, đốn cây rừng, lấy đá núi cất nhà mà ở, cùng chung sức giúp đỡ nhau làm ăn, sinh sống và tu niệm. Dân chúng khắp nơi không quản ngại xa xôi, khó khăn gian khổ đã tụ họp về đây rất đông, nhà cửa mới cất lên san sát như “bánh ếch sắp trên sàng” (theo cách gọi trong các tài liệu của người Pháp lúc ấy). Để có nơi thờ phượng, lễ bái trong thời gian đầu đến núi Tượng, Ngô Lợi đã cho dựng tạm một ngôi chùa tại vị trí của ngôi Phi Lai hiện nay (thị trấn Ba Chúc). Cuối năm 1877, khi cuộc sống tín đồ tạm ổn định bước đầu, Ngô Lợi đã bắt tay vào việc xây dựng một ngôi đình và một ngôi chùa. Đó là đình làng An Định thờ trăm quan cựu thần, anh hùng liệt sĩ và phía sau, nối tiếp với đình là chùa Phi Lai. Chùa Phi Lai, bên trong thờ Trần Điều ở chính điện, Tứ Đại Thần Châu xung quanh bàn thờ Chư Phật, hai bên tả hữu thờ các vị Tiền hiền, Hậu hiền... Trong quá trình ổn định cuộc sống của tín đồ tới khai hoang núi Tượng xây dựng chùa miếu, thực hành nghi lễ... Ngô Lợi còn đẩy mạnh việc truyền đạo rộng rãi ở vùng Thất Sơn và lân cận. Ông đến kênh Vĩnh Tế, qua Giang Thành (nay là Vĩnh Điều, Hà Tiên, Kiên Giang)... truyền đạo, thu nhận tín đồ. Số tín đồ ở đây tin theo ông rất đông. Cho đến trước khi Ngô Lợi mất (1890), chỉ riêng bốn làng đạo vùng núi Tượng ông đã xây dựng hoàn thành 12 ngôi đình, chùa, miếu khá quy mô để làm nơi thờ tự của bổn đạo. Nhiều cơ sở thờ tự đó hiện nay đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tin rằng thời kỳ Đức Bổn sư giáng thế, truyền đạo, loài người đang bước vào giai đoạn cuối của đời Hạ Nguyên-giai đoạn khổ cực, điêu linh, loạn lạc vì bệnh tật, chiến tranh và bất công đang làm xã hội suy đồi. Hạ Nguyên mạt pháp sẽ mãn bằng Hội Long Hoa với sự xuất hiện của Phật Di Lặc. Hội Long Hoa được mở ra để cứu độ người hiền, tiêu diệt kẻ ác, theo tinh thần: Hạ Nguyên nay đã hết rồi, Minh Hoàng cầu Phật lập đời Thượng Nguyên. Quan điểm này được kế thừa và vận dụng từ đạo Phật cũng như một số tôn giáo khác ra đời trước nhưng có sức lay động lòng tin của dân chúng vì nó được nhấn mạnh và đề cao vào đúng thời kỳ đen tối của xã hội Nam Bộ lúc ấy.
Điều mới mẻ trong quan niệm (được kế thừa từ Bửu Sơn Kỳ Hương) của người sáng lập và tín đồ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là lòng tin về Hội Long Hoa do Phật Di Lặc khai mở vào một ngày gần kề không diễn ra ở một nơi nào khác trên thế giới mà ngay tại núi Cấm-Thất Sơn, Nam Bộ-Việt Nam.

Như vậy, đức tin của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa kế thừa từ căn bản đức tin của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, vốn được tiếp thu từ Phật giáo. Nhưng tuyệt nhiên không đề cập tới cõi Niết bàn như đạo Phật. Hội Long Hoa được nói đến như là một cái đích và cũng là cái mốc của sự đổi đời...

Tôn chỉ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là “tu nhân học Phật” cho cư sỹ tại gia. Mọi người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, không phân biệt chức sắc, ngôi thứ, hay đảm nhận bất cứ một trọng trách nào của bổn đạo đều không bị kiêng cấm trong làm ăn và sinh hoạt đời thường. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa xem việc hạn chế sát sinh đặc biệt là việc cữ ăn 12 con giáp như một thành tựu trên bước đường tu thân. Những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho rằng mỗi một con người đều “cầm tinh” một trong 12 con giáp. Vì vậy nếu ăn thịt (dùng bữa) có một trong 12 con giáp nói trên tức là đã ăn đồng loại của mình (có thể hiểu tượng trưng là đã ăn linh hồn của đồng loại).

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho rằng đạo Phật, đạo Nho và đạo Lão có cùng một nguồn gốc. Do đó, yêu cầu tín đồ kính trọng chung tam giáo: Phật-Thánh-Tiên. Tinh thần ấy được biểu hiện trong thực tiễn: “Cúng dường trì niệm theo hình thức Phật giáo. Lễ nghi, học vấn, văn tự theo hình thức Nho giáo. Rèn luyện tinh, khí, thần theo hình thức Lão giáo”. Điều này thể hiện rõ nét trong cách tu học, luyện tập của những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.          

Tôn chỉ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa dành cho mọi người tự nguyện nhập đạo, không phân biệt giữa ông Trò, ông Gánh, thông tín, cư sỹ, người hộ tự (trông coi, thực hiện nghi lễ tại chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa) hay tín đồ. Tất cả phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc, cách thức hành đạo, các lễ nghi, cúng bái tại chùa, miếu, Tam bửu gia và tại nhà riêng do người lập đạo truyền dạy và quy định.

Tóm lại, có thể khái quát tôn chỉ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa trong bốn chữTu Nhân Học Phật để so sánh sự khác biệt với đạo Phật-vốn lấy Hư Vô,và đạo Lão-vốn lấy Thanh Tịnh Tự Nhiên, làm tôn chỉ. Tôn chỉ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng có một số điểm cụ thể khác hẳn với Bửu Sơn Kỳ Hương: chẳng hạn ở việc cữ ăn thịt 12 con giáp, ở tinh thần kính trọng chung tam giáo, cũng như những quy định chặt chẽ, có tính bắt buộc trong nghi thức cúng lễ ở chùa, miếu, Tam bửu gia[2]... là những điểm mà Bửu Sơn Kỳ Hương không có. So với học Phật của Bửu Sơn Kỳ Hương do Đoàn Minh Huyên truyền dạy thì học Phật của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có nhiều điểm mới. Tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương với học Phật chỉ cần niệm danh hiệu Phật A di đà là đủ, trong khi tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa ngoài việc tưởng niệm danh hiệu đó còn thực hiện việc đánh chuông, gõ mõ, lần pháp trường (xâu chuỗi) và trì niệm kinh chú do Đức Bổn Sư Ngô Lợi soạn ra. Trong khi đó thinh, âm, sắc, tướng là những điều Phật Thầy Tây An bài bỏ…

Nội dung căn bản chỉ đạo hành động (tức nguyên lý) của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng giống như Bửu Sơn Kỳ Hương là Tu nhân Học Phật. Tuy nhiên, so với Bửu Sơn Kỳ Hương, tu nhân học Phật của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được phát triển ở nhiều khía cạnh, cụ thể hóa hơn và cũng có những điểm tương phản. Nguyên lý tu nhân học Phật trình bày không thành hệ thống nhưng thể hiện rõ trong các sách kinh sách, sấm vãn Ngũ giáo và lưu truyền rộng rãi trong tín đồ, được xem là lời giáo huấn của Đức Bổn Sư Ngô Lợi...

Theo Đức Bổn sư, sở dĩ tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa hay con người nói chung phải tu nhân vì có trau dồi được đạo đức làm người thì mới có thể làm tốt được mọi việc, sống tốt với mọi người-cả người sống lẫn người đã khuất, có ích cho đất nước, cho xã hội và cho nhân loại nói chung. Hơn nữa đã nhập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tức là phải học Phật. Muốn học Phật thì phải tu nhân: “Nhân đạo bất tu, tiên đạo viễn hỷ” (muốn tu đạo Tiên trước hết phải trau dồi đạo làm người, không làm trọn bổn phận con người thì khó mong thành tiên được). Muốn tu nhân phải thực hiện Tứ đại trọng ân là ân cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào nhân loại.

Đức Bổn sư lưu ý với tín đồ câu nói của người xưa “Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên” (muôn ngàn sách vở đều dạy nghĩa thảo làm đầu). TrongHiếu Nghĩa kinh, quyển Hạ, ông viết (đại ý): con người ta do sự phối hợp âm dương của cha mẹ mà sinh ra. Do đó, công ơn của cha mẹ rộng lớn như trời đất ta phải lo đền ơn cao nghĩa dày ấy. Làm được như thế mới đúng là tu nhân, mới xứng đáng đạo làm người. Và, có được trọn đạo làm người mới nói đến chuyện học được đạo cao xa hơn. Mặt khác, khi biết ơn cha mẹ đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta nên người thì cũng phải biết ơn ông bà, tổ tiên là những người ở thế hệ trước đã sinh ra cha mẹ ta. Để trả được ơn cha mẹ, ông bà tổ tiên, trước hết phải làm tròn bổn phận làm người, làm những điều tốt đẹp để cha mẹ vui và tự hào về mình. Tránh làm những điều xấu ảnh hưởng đến tổ tông. Đền ơn cha mẹ, tổ tiên còn phải biết hy sinh vì đạo nghĩa, biết chăm lo cúng kiến tổ đường. Đức Bổn Sư cũng lưu ý là: “Song thân ân lớn bằng trời/ Làm con lo trả biết đời nào xong”

Chính quan niệm không ly gia cát ái và lấy hiếu nghĩa với cha mẹ làm đầu của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã rất phù hợp, thích ứng với quan niệm “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu” và “Vô chùa thấy Phật muốn tu, về nhà thấy mẹ công phu chưa đành” của người Nam Bộ. Dân tộc Việt Nam vốn xem đạo hiếu là giềng mối của đạo nhân, là sợi dây truyền thống của các thế hệ. Đó là một truyền thống tốt đẹp. Với Tứ Ân Hiếu Nghĩa đặt hiếu nghĩa làm đầu trong “tứ ân” cũng không ngoài sự kế thừa truyền thống đó.

Nho giáo có câu “Hiếu giả bách hạng chi tiên” (Tăng Tử, có nghĩa là đạo hiếu đứng đầu trong trăm hạng tốt), hoặc lấy chuyện Nhị thập tứ hiếu làm điều răn dạy sự hiếu thảo với cha mẹ. Phật giáo cũng nói: Thờ cha mẹ chẳng ra gì, dù hằng ngày ăn chay niệm Phật cũng vô ích. Trong mười điều răn của Đức Chúa Trời, điều thứ tư dạy rằng: Làm con phải thảo kính cha mẹ...

Như vậy, ân tổ tiên, cha mẹ-ân đầu tiên trong Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một đức tính tốt đẹp của dân tộc, của nhiều tôn giáo, được chỉ định như một bài học bắt buộc trước hết cho tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa...

Đối với Ân đất nước, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho rằng trong gia đình có làm được một người con hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, cha mẹ thì ra ngoài xã hội mới mong làm được một con người có ích cho đất nước. Mặt khác, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và bản thân chúng ta, ai cũng có quê hương đất nước. Do đó, muốn đền ơn đất nước phải có bổn phận bảo vệ đất nước khi giặc ngoài xâm lăng, giày xéo, phải góp sức xây dựng quê hương xứ sở cường thịnh. Đền ơn đất nước cũng chính là giúp ích cho gia đình, bản thân. Vì đất nước giàu mạnh thì bản thân mới được ấm no. Trong cuộc sống cần tránh sơ suất làm cho đất nước nghèo khổ hay tiếp tay cho ngoại xâm làm tổn hại đến đất nước, dân tộc[3]...

Tháng 9 năm 2006, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được Nhà nước công nhận là một tổ chức tôn giáo. Hiện nay, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có trên 80.000 tín đồ tại 16 tỉnh thành trong cả nước với 74 cơ sở thờ tự (12 tỉnh thành có cơ sở thờ tự). Tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa chủ yếu sống ở An Giang, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, một số ở Đồng Nai và các tỉnh duyên hải nam Trung Bộ.

Đình, chùa, miếu, Tam bửu gia… đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa thờ rất nhiều đối tượng (chỉ có bàn thờ, tuyệt đối không có tượng, ảnh). Mỗi cơ sở thờ tự có hàng chục bàn thờ. Nhưng dù đình, chùa, miếu hay Tam bửu gia tùy theo mục đích mà có những đối tượng thờ cúng khác nhau thì tất cả các cơ sở thờ tự của đạo (đình, chùa, miếu, Tam bửu gia) đều có rất nhiều bàn liên quan đến tổ tiên, ông bà, anh hùng dân tộc… được đặt ở vị trí trang trọng, như bàn thờ Tiền hiền, Hậu hiền, bàn thờ Cửu huyền bá tánh, bàn thờ Cửu huyền thất tổ, bàn thờ Chư vị, bàn thờ trăm quan đằng cựu, anh hùng liệt sỹ hy sinh vì nước…

Trong nghi thức hành lễ tại các cơ sở thờ tự cũng như ở nhà bàn thờ tổ tiên, ông bà luôn được dâng những lễ vật quý và thực hiện những nghi thức trang trọng.

Nói chung, đối với đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, tổ tiên ông bà là một đối tượng quan trọng của tín ngưỡng xuyên suốt trong quan niệm đạo lý cũng như trong hành lễ (theo nghi thức tôn giáo).

Phật giáo Hòa Hảo


Năm 1939, Đức Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo Hòa Hảo tại làng Hòa Hảo (nay là thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) với nhiệm vụ truyền bá tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật Thầy Tây An khởi xướng 90 năm trước.

Về mặt giáo lý, đạo Hòa Hảo tiếp thu căn bản giáo lý Học Phật, Tu Nhân của Bửu Sơn Kỳ Hương. Kinh sách của Đức Huỳnh Giáo chủ nói rằng: đạo Phật từ xưa đến nay luôn phân hai hạng người: xuất gia và tại gia. Xuất gia là nhà sư, ni cô đã hoàn toàn li khai với gia đình, quê hương, bạn bè và dựa vào cửa thiền để lo kinh kệ, trau luyện đức lành, không còn thiết đến việc đời… Còn hạng người tại gia gồm tất cả thiện nam, tín nữ chưa đủ điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với Tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội nên chưa thể làm như nhà sư và ni cô. Tuy vậy họ cũng sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi, bác ái đại đồng của nhà Phật. Cho nên dù ở tại nhà họ thờ phượng Phật, phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều luật giới, sửa tánh, răn lòng… dần dần cũng lên con đường giải thoát. Tu tại gia như vậy là thực hiện Học Phật Tu Nhân, lo tròn câu hiếu nghĩa. Và muốn làm xong hiếu nghĩa, có bốn điều ân phải hy sinh, thật nhiều cố gắng mới mong làm tròn. Đó là đền trả ân Tổ tiên cha mẹ; đất nước; Tam bảo; đồng bào và nhân loại. Quan niệm về “tứ ân” và đền trả “tứ ân” của Hòa Hảo cũng tương tự Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa. “Luận về tam nghiệp” giáo lý Hòa Hảo dạy: con người sinh ra, dù muốn hay không cũng phải chịu chi phối của Đạo. Đạo của con người là “Đạo Nhân”-một con đường mà nếu đi đúng thì sống, bước trật tất chết. Muốn làm tròn Nhân Đạo phải giữ vẹn “tứ ân”, nhưng trước hết phải tránh “tam nghiệp” (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) và chừa “thập ác” (sát sanh, đạo tặc, tà dâm, lưỡng thiệt, ý ngôn, ác khẩu, vọng ngữ, tham lam, sân nộ, mê si). Sự tiến bộ của cư sĩ Hòa Hảo đòi hỏi phải hành luôn Đạo Bát Chánh (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh tin tấn, Chánh mạng, Chánh ngữ, Chánh niệm, Chánh định)[4]

Tín đồ Hòa Hảo là cư sĩ tại gia. Việc đi lễ chùa chỉ được thực hiện trong những dịp lễ trọng, như: lễ khai đạo (18-5 âl), lễ Vía Phật Thầy Tây An (12-8 âl), lễ sinh nhật giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (25-11 âl), lễ Phật thành đạo (8-12 âl)…

Đạo Hòa Hảo không thờ hình tượng. Đức Huỳnh giáo chủ chủ trương thờ phượng đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn là sự hào nhoáng bên ngoài. Nơi thờ tự bày biện đơn giản, “sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do lễ bái ở ngoài”[5]. Trên bàn thờ gia đình Hòa Hảo chỉ có tấm Trần Dà (màu đà, là màu kết hợp của tất cả các màu khác-tượng trưng cho sự hòa hiệp, là màu biểu hiện của sự thoát tục, tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật)[6], lư hương. Trước sân nhà có bàn thờ Thông thiên, trên chỉ có lư hương, chung nước. Vật phẩm dâng trong lễ cúng cũng chỉ có nước lạnh (tiêu biểu cho sự trong sạch), bông hoa (tiêu biểu cho sự tinh khiết) và nhang (dùng tẩy mùi uế trược). Đối với bàn thờ tổ tiên ông bà vào các ngày lễ hiếu dâng cúng món gì cũng được, không quy định.

Những người theo đạo Hòa Hảo chỉ thờ lạy đức Phật, tổ tiên, ông bà, cha mẹ và các anh hùng cứu quốc, không thờ tà thần nào nếu không rõ căn tích. Bàn thờ trong nhà và bàn thờ Thông thiên được thắp đèn sáng suốt đêm.

Khi cúng lạy trước bàn thờ tổ tiên, ông bà, tín đồ Hòa Hảo niệm hương:“cúi kính dâng hương trước cửu huyền/ Cầu trên Thất tổ chứng lòng thành/ Nay con tỉnh ngộ quy y Phật/ Chí dốc tu hiền tạo phước duyên/ Cúi đầu lạy tạ tổ tông/ Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn/ Rày con xin giữ đạo hằng/ Tu cầu Tổ tông siêu thăng Phật đài/ Nguyện làm cho đẹp mặt mày/ Thoát nơi khổ hải Liên đài được lên/ Mong nhờ đức cả bề trên/ Độ con yên ổn vững bền cội tu”. Tiếp đến nguyện hương trước bàn thờ Phật (Tam bảo), tín đồ xin Phật Tổ, Phật Thầy, quan Thượng Đẳng Đại thần, chư quan cựu thần, chư vị sơn thần, chư vị năm non bảy núi cảm ứng chứng minh cho sự ăn năn hối cải, làm lành lánh dữ… Sau đó tín đồ ra bàn thờ Thông thiên cũng cầu nguyện với tinh thần đó. Lời cầu nguyện của tín đồ Hòa Hảo thể hiện rõ tinh thần trọng ân, đạo lý với tổ tiên ông bà được đặt lên hàng đầu, vừa thể hiện sự điều chỉnh cá nhân trong cuộc sống hàng ngày, vừa bày tỏ tri ân tổ tiên ông bà, đó cũng là nâng thang đầu tiên của “tu hiền” để học Phật (học phẩm hạnh, trí tuệ của Phật tổ để đạt chân thiện mỹ, “tứ vô lượng tâm” của Phật).

Trong cuộc sống, những người theo đạo Hòa Hảo quan tâm giúp đỡ người nghèo. Họ quan niệm dùng tiền giúp người có hoàn cảnh khó khăn hơn là để xây dựng chùa chiền, tổ chức lễ hội, tang chế, hôn nhân tốn kém.

Hiện nay, trong cả nước có khoảng 2 triệu tín đồ, nhưng chỉ có 39 cơ sở thờ tự. Chủ trương tu tại gia và tu tại tâm (Phật tại tâm, tâm tức Phật) của tín đồ Hòa Hảo với tiêu chí đền trả ơn đất nước, ơn tổ tiên cha mẹ… không những giúp tôn giáo này giữ được tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên truyền thống mà hơn thế đã nâng tinh thần đó thành giáo thuyết tôn giáo.
*
Những nét cơ bản trên cho chúng ta thấy các tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có những nét khác nhau trong quan niệm đạo lý, cách thức hành đạo, đối tượng tín ngưỡng, cách bài trí bàn thờ, thực hành nghi lễ… Sự phát triển của tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long khởi đầu với sự ra đời của Bửu Sơn Kỳ Hương, phát triển tiếp theo ở Tứ Ân Hiếu Nghĩa và trở lại ở một bước phát triển mới với sự xuất hiện của Hỏa Hảo trong vòng 90 năm tính từ khi Bửu Sơn Kỳ Hương khai đạo. Mặc dù có sự kế thừa, phát triển với nhiều điểm tương đồng, nhưng danh xưng mối đạo khác nhau, các cộng đồng tín đồ không có mối liên hệ với nhau về mặt tôn giáo, do đó sự tồn tại của Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Hòa Hảo hoàn toàn độc lập. Điểm giống nhau từ quan niệm cho đến thực hiện nghi lễ, vị trí của đối tượng tôn thờ trong cả ba tôn giáo nội sinh nói trên đó là tổ tiên, ông bà. Đền đáp tổ tiên, ông bà chi phối toàn bộ đường lối tu đạo và hành động thực tiễn; xuyên suốt quá trình phát triển của các tôn giáo nội sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long-trong bối cảnh đất nước chìm đắm trong ách nô lệ thực dân, buộc họ phải cầm vũ khí, tổ chức chống lại xâm lược của ngoại bang. Đó cũng là một lý do giải thích vì sao trong nhiều thời kỳ các tôn giáo này cũng đồng thời là tổ chức tôn giáo-chính trị…




[1] Ngày 17-10-2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới thành phố, xã, thị trấn trong đó có việc thành lập thị trấn Ba Chúc thuộc huyện Tri Tôn, An Giang với bốn làng trên. Như vậy, vùng đất xa xôi, vốn rất hoang vu được Ngô Lợi tổ chức khẩn hoang, lập làng cuối thế kỷ XIX sau hơn 100 năm phát triển đã trở thành một thị trấn.
[2] Tam bửu gia là nhà thờ của dòng họ nhưng cũng là nơi thờ cúng của một gánh đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa theo tinh thần “Làng (đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) có Tam bửu tự, gánh (họ) có Tam bửu gia”. Tam bửu gia thể hiện mối liên kết đồng đạo của những tín đồ cùng một gánh, đồng thời cũng thể hiện mối liên kết dòng họ của Trưởng gánh đạo. Chức Trưởng gánh đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng được cha truyền con nối (xem thêm: Đinh Văn Hạnh, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt ở Nam Bộ, 1867-1975, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1999).
[3] Cũng xin nói thêm: đạo Phật quan niệm Tứ Ân (hay còn gọi là Tứ trọng ân) là bốn ơn: cha mẹ (phụ mẫu), chúng sinh, vua trong nước (quốc vương thủy thổ) và tam bảo. Thực ra, khái niệm Tứ đại trọng ân của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa không đơn thuần chỉ là sự cụ thể hóa và Việt hóa khái niệm “tứ trọng ân” của Phật giáo. Ở đây còn có sự nâng cao về chất trongmục đích của việc đền trả tứ ân, đó là chưa nói đến thứ tự quan trọng của từng “ân” không giống nhau giữa Phật giáo và Tứ Ân Hiếu Nghĩa (đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đề cao ân đất nước ở vị trí thứ  hai). Mục đích của ân cha mẹ (phụ mẫu) trong Phật giáo là cầu cho cha mẹ mau thoát khỏi vòng sinh tử, của ân chúng sinh là cầu cho tất cả đều được giải thoát, của ân quốc vương thủy thổ là để độ cho vua chúa, của ân tam bảo là để cho chínhbản thân sẽ được giải thoát. Trái lại, mục đích của việc đền trả Tứ ân của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa không nhằm vào việc giải thoát hay đắc quả như đạo Phật mà nhằm vào những nhu cầu thực tiễn cuộc sống đời thường hằng ngày luôn đòi hỏi ở đạo lý của con người-hướng vào cuộc sống, nhập thế, chứ không xuất thế. Điều này đáp ứng được hoàn cảnh lịch sử cụ thể bấy giờ, đồng thời cũng phù hợp với bản sắc văn hóa và tiêu chuẩn đạo đức của người dân Nam Bộ.
[4] Theo Tôn chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức huỳnh giáo chủ, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2010.
[5] Theo Tôn chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức huỳnh giáo chủ, sđd.
[6] Trên bàn thờ Bửu Sơn Kỳ Hương là tấm Trần Điều (màu đỏ), Huỳnh Phú Sổ chủ trương phát triển sự nghiệp Đoàn Minh Huyên nhưng đổi Trần Điều thành Trần Dà vì cho rằng: có nhiều kẻ thờ Trần Điều tự xưng cùng tông phái với Hòa Hảo nhưng “làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức Phật, nên toàn thể Đạo đổi lại màu dà” (Theo Tôn chỉ hành đạo Phật giáo Hòa Hảo của Đức huỳnh giáo chủ, sđd).


Đinh Văn Hạnh
 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved