.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn THÔNG TIN QUÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THÔNG TIN QUÂN SỰ. Hiển thị tất cả bài đăng

Mỹ lập tác chiến không quân - hải quân, TQ nổi đóa

Written By kinhtehoc on Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2012 | 11:43



Lầu Năm Góc đang lập ra những kế hoạch mới để chuẩn bị cho một cuộc chiến trên không và trên biển ở châu Á, trong nỗ lực thực hiện chiến lược “trục xoay” châu Á - Thái Bình Dương mà chính quyền của tổng thống Obama công bố đầu năm nay.
 
Máy bay ném bom chiến lược B1 của Mỹ. Ảnh: armybase
Khi Barack Obama công bố chuyển hướng tập trung quân sự về châu Á hồi đầu năm nay, thì Andrew Marshall, người đứng đầu văn phòng Đánh giá mạng của Lầu Năm Góc đã đề xuất chiến lược Tác chiến Không Hải (Chiến tranh Không - Biển). Suốt hai thập niên qua, Marshall đã nghiên cứu phát triển chiến lược này. 

Chiến lược bao gồm việc sử dụng các máy bay ném bom và tàu ngầm để đánh bại hệ thống rađa giám sát tầm xa và làm chệch hướng độ chính xác của hệ thống tên lửa. Cho tới khi quân đội đối phương “bị bịt mắt”, thì một cuộc tấn công hải quân và không quân lớn sẽ xảy ra. 

Trước khá nhiều chỉ trích, ông Marshall nói rằng, công việc của Lầu Năm Góc là cân nhắc những kịch bản xấu nhất. "Chúng tôi muốn nhìn vào những viễn cảnh tương lai không mấy hạnh phúc”, ông khẳng định. 

Một quan chức Mỹ giấu tên cho hay, ông đã nghe thấy những phàn nàn từ Trung Quốc về chiến lược này. "PLA (quân đội Trung Quốc) đã nổi đóa”, vị quan chức nói sau khi trở về từ một chuyến đi đến Bắc Kinh. 

Theo Washington Post, các quan chức quân sự Mỹ nhấn mạnh, chiến lược này không nhằm vào Trung Quốc nhưng là một mô hình cho bất kỳ mối đe dọa quân sự tương tự nào. Trong khi đó, một vị tướng Trung Quốc bác bỏ điều này. Ông nói về báo cáo về Chiến tranh Không - Biển đã đề cập cái tên Trung Quốc hàng trăm lần. 

Các quan chức cao cấp của quân đội Trung Quốc cảnh báo rằng nỗ lực mới của Lầu Năm Góc có thể khai mào cho một cuộc chạy đua vũ trang. “Nếu Mỹ phát triển “Không hải chiến” để đối phó với PLA, PLA sẽ buộc phải phát triển kế hoạch chống “Không hải chiến”", đại tá Phàn Cao Nguyệt thuộc Viện Khoa học quân sự Trung Quốc phát biểu trong một hội nghị do Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) tài trợ.

Thông tin về kế hoạch chiến lược mới của Lầu Năm Góc xuất hiện trong bối cảnh tranh chấp giữa Trung Quốc và nhiều nước châu Á đang leo thang ở các vùng biển, đặc biệt là Biển Đông. John Pike, một nhà phân tích quân sự của trang web GlobalSecurity cho biết. "Biển Đông là vấn đề an ninh lớn nhất với chúng ta hiện nay, và tình hình chỉ trở nên tồi tệ hơn". 

Trung Quốc gần đây đã đẩy mạnh nghiên cứu chế tạo các vũ khí chống tiếp cận, chống can dự, đúng hơn là các tên lửa tầm xa có thể phá hủy tàu sân bay hoặc tấn công các căn cứ để triệt tiêu những ưu thế quân sự của Mỹ ở vùng biển Thái Bình Dương. Mục tiêu của họ là đẩy lùi quân Mỹ ra khỏi khu vực càng xa càng tốt.

Trong khi đó, chưa biết thực hư chiến lược “Tác chiến Không Hải” thế nào nhưng chiến lược ấy đề cao vai trò của máy bay ném bom và hiện chương trình máy bay ném bom B1 của Mỹ đang hồi sinh trở lại. Khi vai trò chiến đấu của Mỹ tại Afghanistan dự kiến kế thúc vào 2014, thì không quân Mỹ giờ đây bắt đầu tập trung vào việc huấn luyện cho sứ mệnh ở Thái Bình Dương. "Chúng tôi đang di chuyển từ bay trong môi trường sa mạc sang phạm vi hoạt động trên mặt nước", trung tá George Holland, chỉ huy phi đội Kiểm tra và Đánh giá số 337 của không quân cho biết. 

Theo Holland, hiện không quân đang làm việc với Cơ quan dự án nghiên cứu phòng thủ tiên tiến (DARPA) để trang bị cho B1 tên lửa chống hạm tầm xa. Nhờ đó, máy bay ném bom này có thể phát hiện các tàu trên biển và phóng tên lửa từ cách đó hàng trăm km. Hồ sơ ngân sách của Lầu Năm Góc cũng cho thấy, B1 sẽ được cải tiến hàng loạt trong ít năm tới để nâng cao khả năng tác chiến.

Thái An (theo Washington Post, USA Today)

Chiến hạm các nước đổ về quanh Biển Đông

Written By kinhtehoc on Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012 | 07:58


Chiến hạm các nước đổ về quanh Biển ĐôngCác tàu của Mỹ cũng như Nhật Bản hôm nay lần lượt tới Indonesia và Philippines, hai diễn biến nằm trong một loạt hoạt động của chiến hạm các nước quanh Biển Đông thời gian qua.> Tàu hải quân Nhật sắp tới Philippines> Tàu ngầm Mỹ tới gần bãi cạn Scarborough
Từ ngày 28/5 tới 8/6, ba tàu Mỹ sẽ cùng tập trận chung với hải quân Indonesia. Trong ảnh là tàu USS Vandegrift, một trong ba tàu Mỹ tới cảng biển Tanjung Perak, thuộc thành phố thủ phủ Surabaya của tỉnh Đông Java, Indonesia. Ảnh: Navy.mil
Tàu đổ bộ USS Germantown trong một hoạt động thường lệ tại cảng San Diego. Tàu này cũng tham gia cuộc tập trận tại Indonesia. Ảnh: Navy.mil
Chiếc tàu thứ ba của Mỹ tới Indonesia là USGS Waesche của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Mỹ. Ảnh:USCG
Xem thêm: Bộ ba tàu Mỹ tới Indonesia tập trận
Cũng hôm nay, ba tàu hải quân của Nhật ghé thăm Philippines nhằm hợp tác nâng cao khả năng bảo vệ hàng hải và lãnh thổ cho Philippines. Trong ảnh là tàu JS Kashima (TV-3508), một trong ba tàu hải quân của Nhật tới Philippines. Tàu JS Kashima nặng 4.050 tấn, dài 143 m, rộng 18 m. Tàu được trang bị pháo 76 mm, 23 ống phóng ngư lôi với 360 thủy thủ. Ảnh: US Navy
Chiếc tàu thứ hai của Nhật tới Philippines là JS Shimayuki. Tàu này có tải trọng 3.050 tấn, dài 130 m, rộng 13,6 m. Tàu được trang bị pháo 76 mm, hai hệ thống súng máy tầm ngắn loại 20 mmm, một dàn phóng tên lửa hạm đối hạm, một dàn 23 ống phóng ngư lôi chống tàu ngầm với thủy thủ đoàn 200 người. Ảnh: Skycrapercity
JS Matsuyuki là chiếc tàu thứ ba của Nhật tới Philippines hôm nay. Tàu này nặng 3.050 tấn, dài 130 m, rộng 13,6 m. Nó được trang bị một pháo chính 76 mm, hai hệ thống vũ khí cận chiến 20 mm, một ống phóng tên lửa đất đối đất, một hệ thống tên lửa phòng không, một dàn phóng tên lửa chống tàu ngầm và hai ống phóng ngư lôi. Tàu có thủy thủ đoàn 200 người. Ảnh: Skycrapercity
Đầu tháng 4, soái hạm BRP Gregorio del Pilar (ảnh) của Philippines có vụ chạm mặt với hai tàu hải giám của Trung Quốc trên vùng biển gần bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham. Đây là sự kiện kéo theo căng thẳng giữa hai nước vì tranh chấp chủ quyền bãi cạn không có người sinh sống. Sau đó Trung Quốc từng điều động tàu Ngư Chính 310 tới khu vực tranh chấp. Đây là tàu ngư chính lớn nhất và hiện đại nhất của Trung Quốc. Ảnh: Inquirer
Tàu ngầm hạt nhân USS North Carolina của Mỹ cập cảng Subic, Philippines ngày 13/5 trong chuyến đi thường kỳ. Vịnh Subic cách bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham, nơi Philippines và Trung Quốc đang có tranh chấp chủ quyền, khoảng 234 km về phía đông. Ảnh: US Navy

Chiến hạm các nước đổ về quanh Biển Đông

Ấn Độ vừa qua cũng điều 4 tàu hải quân tới Biển Đông để khẳng định sự hiện diện tại vùng biển này. Trong ảnh là khu trục hạm lớp Raijut có tên INS Rana. Ảnh: Panoramio
Chiếc tàu hải quân thứ hai của Ấn Độ tới Biển Đông là INS Shakti. Tàu này cùng với tàu INS Rana vừa tới thăm vịnh Subic của Philippines. Ảnh: Navy.mil
INS Shivalik cũng nằm trong nhóm 4 tàu của Ấn Độ tới Biển Đông. Đây là khu trục hạm được trang bị công nghệ tàng hình của hải quân quốc gia Nam Á. Ảnh: Wikipedia
Chiếc tàu cuối cùng trong nhóm 4 tàu của Ấn Độ là INS Kurmak. Cùng với tàu INS Shivalik, tàu INS Kurmak có chuyến thăm cảng Chùa Vẽ, Hải Phòng, hôm 19/5. Theo TTXVN, đây là lần thứ 5 các tàu hải quân Ấn Độ đến thăm thành phố cảng Hải Phòng. Chuyến thăm lần này của các tàu hải quân Ấn Độ tiếp tục mang đến thông điệp về sự phát triển và mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Ấn Độ với Việt Nam, trong đó có thành phố Hải Phòng, cũng như giữa Hải quân nhân dân hai nước. Ảnh minh họa: Wikipedia
Đ
Đầu tháng 4, khu trục hạm Đô đốc Tributs của Nga cập cảng Sài Gòn ở thành phố Hồ Chí Minh trong chuyến thăm 6 ngày. Cùng đi với tàu Đô đốc Tributs là tàu chở dầu hạng trung Pechenga và tàu kéo MB-37. Ảnh: Tá Lâm
Tuần dương hạm Vendemiaire của Pháp hôm 24/3 cùng 90 thủy thủ cập cảng Sài Gòn trong chuyến thăm thành phố Hồ Chí Minh. Đây là lần thứ 5 tuần dương hạm Vendémiaire đến Việt Nam. Trước đó, vào ngày 25/4/2011, tàu cập cảng Hải Phòng. Ảnh: Đình Nguyễn
Hôm 23/4, bộ ba tàu hải quân Mỹ tiến vào cảng Tiên Sa, Đà Nẵng, Việt Nam trong chuyến thăm nhằm thắt chặt quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước. Dẫn đầu nhóm tàu này là soái hạm USS Blue Ridge (ảnh), tàu chỉ huy của Hạm đội 7, hải quân Mỹ. Hai tàu còn lại là tàu cứu hộ USNS Safeguard và khu trục hạm USS Chafee. Ảnh: Nguyễn Đông
Nhật Nam

Đại chiến lược của Mỹ trong một kỷ nguyên đầy biến động

Written By kinhtehoc on Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012 | 17:11




Zbigniew Brzezinski, Foreign Affairs, January/February 2012, Trần Ngọc Cư dịch


Zbigniew Brzezinski là Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ từ năm 1977 đến năm 1981. Bài tiểu luận này dựa vào nội dung cuốn sách của ông, Strategic Vision: America and the Crisis of Global Power (Viễn kiến Chiến lược: Mỹ và Cuộc Khủng hoảng Quyền lực Toàn cầu), sẽ được Basic Books xuất bản vào mùa Đông này.

Thử thách chính của Mỹ trong vài thập niên tới là tạo lại sức sống mới cho chính mình, đồng thời củng cố một phương Tây rộng lớn hơn và hậu thuẫn một thế quân bình phức tạp tại phương Đông có khả năng thích ứng với địa vị toàn cầu đang lên của Trung Quốc (TQ). Muốn thực hiện thành công một nỗ lực để nới rộng phương Tây thành một khu vực dân chủ và ổn định nhất thế giới, Mỹ phải tìm cách kết hợp quyền lực với nguyên tắc. Một phương Tây có tinh thần hợp tác và rộng lớn hơn hiện nay -- trải dài từ Bắc Mỹ sang châu Âu xuyên qua vùng Á Âu (bằng việc cuối cùng bao gồm luôn cả Nga và Thổ Nhĩ Kỳ), đến tận Nhật Bản và Nam Hàn -- sẽ làm tăng thêm sức hấp dẫn của các nguyên tắc nòng cốt trong văn hóa phương Tây đối với các văn hóa khác, nhờ vậy sẽ thúc đẩy sự xuất hiện dần dần một văn hóa chính trị dân chủ phổ quát.

Đồng thời, Mỹ phải tiếp tục dấn thân trong tinh thần hợp tác tại một phương Đông có tính năng động kinh tế nhưng cũng có tiềm năng xung đột. Nếu Mỹ và Trung Quốc có thể đáp ứng lẫn nhau trên một số lớn vấn đề, viễn tượng ổn định tại châu Á sẽ gia tăng rất nhiều. Điều này đặc biệt có nhiều khả năng xảy ra nếu Mỹ có thể thúc đẩy một cuộc hòa giải thực sự giữa Trung Quốc và Nhật Bản đồng thời làm dịu bớt sự cạnh tranh đang gia tăng giữa Trung Quốc và Ấn Độ.

Để đáp ứng tình hình một cách hiệu quả cả ở những vùng nằm phía tây lẫn ở phía đông của khu vực Á Âu (Eurasia), một lục địa trung tâm và trọng yếu nhất thế giới, Mỹ phải đóng một lúc hai vai trò. Mỹ phải đứng ra thúc đẩy và đảm bảo một liên minh vĩ đại hơn và rộng lớn hơn ở phương Tây và đồng thời phải quân bình lực lượng và hoà giải tranh chấp giữa các cường quốc quan trọng ở phương Đông. Cả hai vai trò đều là thiết yếu, và Mỹ phải dùng vai trò này để củng cố vai trò kia. Nhưng để có uy tín và khả năng theo đuổi thành công hai vai trò này, Mỹ phải chứng tỏ cho thế giới biết rằng Mỹ có đủ ý chí để canh tân chính mình ngay ở trong nước. Người Mỹ phải tập trung nhiều hơn nữa vào các khía cạnh tinh tế hơn của sức mạnh quốc gia, như óc sáng kiến, giáo dục, quân bình giữa quân sự và ngoại giao, và phẩm chất lãnh đạo chính trị.

MỘT PHƯƠNG TÂY RỘNG LỚN HƠN

Muốn thành công trong chức năng cổ vũ và đảm bảo một phương Tây được đổi mới, Mỹ cần phải duy trì quan hệ mật thiết với châu Âu, tiếp tục những cam kết với NATO, và cùng với châu Âu quản lý một tiến trình từng bước chào đón cả Thổ Nhĩ Kỳ lẫn một nước Nga thực sự dân chủ hóa hội nhập châu Âu. Để đảm bảo tầm quan trọng địa chính trị của châu Âu, Washington phải tiếp tục giữ vai trò tích cực trong vấn đề an ninh châu Âu. Mỹ cần phải khuyến khích sự thống nhất sâu sắc hơn nữa của Liên Âu (the European Union): sự hợp tác chặt chẽ giữa Pháp, Đức, và Vương quốc Anh -- khối liên kết chính trị, kinh tế, và quân sự chủ chốt của châu Âu -- phải được duy trì và mở  rộng.

Để thu hút Liên bang Nga đồng thời giữ được sự đoàn kết châu Âu, cuộc tham vấn tay ba Pháp-Đức-Ba Lan có thể đóng một vai trò xây dựng cho việc xúc tiến cuộc hòa giải đang diễn ra mặc dù còn hời hợt giữa Ba Lan và Nga. Sự hậu thuẫn của EU sẽ làm cho cuộc hòa giải Nga-Ba Lan trở nên toàn diện hơn, đạt tới mức độ đã thực hiện được trong cuộc hòa giải Đức-Ba Lan, mà nhiên hậu hai cuộc hòa giải này sẽ đóng góp cho sự ổn định vững chắc hơn tại châu Âu. Nhưng muốn cho cuộc hòa giải Nga-Ba Lan trở nên bền vững, thái độ hòa giải phải được chuyển từ cấp độ chính phủ sang cấp độ xã hội, xuyên qua các cuộc tiếp xúc giữa hai nhân dân và các nỗ lực giáo dục hỗn hợp của hai nước. Những hòa giải tùy tiện giữa hai chính phủ mà không đặt cơ sở trên những thay đổi cơ bản trong thái độ của dân chúng sẽ không tồn tại lâu dài. Mô hình cần áp dụng ở đây là tình hữu nghị Pháp-Đức sau Thế chiến II, được cả Paris và Bonn đề ra ở các cấp độ chính trị cao nhất và cũng được cổ vũ thành công trên bình diện xã hội và văn hóa.

Trong khi Mỹ và châu Âu tìm cách nới rộng phương Tây, bản thân Liên bang Nga cũng cần phải diễn biến để triển khai quan hệ mật thiết hơn với EU. Lãnh đạo Nga sẽ phải đối mặt với sự kiện là tương lai của Nga sẽ trở nên bấp bênh nếu nước này vẫn còn là một không gian tương đối trống rỗng và kém phát triển giữa phương Tây giàu có và phương Đông năng động. Tình trạng này sẽ không thay đổi ngay cả nếu Nga quyến rũ được một số nước Trung Á gia nhập cái Liên minh Á-Âu theo sáng kiến kỳ lạ của Thủ tướng Vladimir Putin. Hơn nữa, mặc dù một bộ phận đáng kể trong dân chúng Nga đang đi trước chính phủ của mình trong việc cổ vũ Nga gia nhập EU, nhưng hầu hết dân Nga không biết được rằng những tiêu chuẩn để làm hội viên EU sẽ đòi hỏi ở nước Nga rất nhiều, nhất là về vấn đề cải tổ dân chủ.

Tiến trình EU và Nga xích lại gần nhau với khả năng có lúc khựng lại rồi có lúc xốc tới, tiến triển theo từng giai đoạn và bao gồm các cuộc dàn xếp chuyển tiếp. Ở một mức độ khả thi, tiến trình này phải diễn ra cùng một lúc trên các bình diện xã hội, kinh tế, chính trị, và an ninh. Càng ngày người ta càng có thể quan niệm ra nhiều cơ hội thuận lợi cho các tương tác xã hội, các cơ chế hiến định và pháp lý tương tự trong các quốc gia, các cuộc thao diễn an ninh hỗn hợp giữa NATO và quân đội Nga, và cho nhiều định chế mới mẻ để điều hợp chính sách trong phạm vi một phương Tây liên tục mở rộng. Tất cả những điều này sẽ đưa đến kết quả là Nga gia tăng thái độ sẵn sàng cho việc sau cùng sẽ gia nhập EU.

Không phải là thiếu thực tế khi ta tưởng tượng một cấu hình phương Tây rộng lớn hơn xuất hiện sau năm 2025. Trong tiến trình vài chục năm tới, nước Nga có thể lao vào một cuộc chuyển hóa dân chủ toàn diện dựa vào luật pháp và phù hợp với các tiêu chuẩn của EU và NATO. Đồng thời, Thổ Nhĩ Kỳ có thể trở thành một thành viên chính thức của EU. Khả năng này đặt cả hai quốc gia trên đường tiến tới hội nhập cộng đồng xuyên Đại Tây Dương. Nhưng ngay cả trước khi việc này xảy ra, một cộng đồng địa chính trị triển khai sâu sắc và đáng quan tâm có thể diễn ra giữa Mỹ, châu Âu (bao gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ), và Nga. Bất cứ một lực thu hút nào lôi kéo nước Nga hướng về phương Tây đều có khả năng được dẫn đầu và được thúc đẩy bởi những quan hệ mật thiết giữa Ukraine và EU. Vì thế, cơ sở định chế của một cơ quan tham vấn tập thể (hoặc, có lẽ vào lúc đầu, một Hội đồng châu Âu mở rộng) có thể đặt tại Kiev, tức cố đô Kievan Rus, một vị trí sẽ tiêu biểu cho sức hồi sinh và phạm vi mở rộng của phương Tây.

Nếu Mỹ không thúc đẩy sự xuất hiện của một phương Tây được mở rộng, những hậu quả khốc liệt có thể xảy ra: những hận thù lịch sử có thể tìm đường sống lại, những xung đột mới về lợi ích quốc gia có thể xảy ra, và những quan hệ đối tác thiển cận để tranh giành ảnh hưởng có thể thành hình. Nga có thể khai thác lợi thế năng lượng của mình và, do sự chia rẽ của các nước phương Tây thúc đẩy, có thể tìm cách sáp nhập Ukraine một cách nhanh chóng, làm sống lại những tham vọng đế quốc của mình và tăng thêm tình trạng hỗn loạn quốc tế. Khi đó, trong tình hình một EU thụ động, từng quốc gia châu Âu một, trong nỗ lực tìm kiếm những cơ hội thương mại to lớn hơn, có thể sẽ tự mình thỏa hiệp với Nga. Người ta có thể mường tượng một kịch bản trong đó tự lợi kinh tế (economic self-interest) có thể thúc đẩy Đức hay Ý, chẳng hạn, triển khai một quan hệ đặc biệt với Nga. Pháp và Anh khi đó có thể sẽ xích lại gần nhau hơn trong khi tỏ ra cảnh giác với Đức, còn Ba La và các quốc gia Ban-tích thì khẩn trương tìm kiếm thêm những bảo đảm an ninh của Mỹ. Hệ quả đưa đến không phải là một phương Tây mới mẻ và đầy sức sống, nhưng là một phương Tây dần dần phân hoá và ngày càng bi quan.

PHƯƠNG ĐÔNG PHỨC TẠP

Một phương Tây phân hóa như thế sẽ không đủ sức cạnh tranh với Trung Quốc để giành lấy ảnh hưởng toàn cầu. Cho đến nay, Trung Quốc chưa hề đưa ra một tín điều ý thức hệ nào để khẳng định rằng thành tích gần đây của TQ có thể áp dụng đều khắp trên thế giới, và Mỹ đã đi những bước thận trọng để không biến vấn đề ý thức hệ thành trọng điểm trong mối quan hệ với Trung Quốc. Một cách khôn ngoan, cả Washington lẫn Bắc Kinh đã chấp nhận quan niệm về “một quan hệ đối tác xây dựng” trong các vấn đề toàn cầu. Mỹ, mặc dù chỉ trích Trung Quốc về các vi phạm nhân quyền, nhưng đã thận trọng không bôi bác toàn bộ hệ thống kinh tế xã hội Trung Quốc.

Nhưng nếu một nước Mỹ quá lo âu và một Trung Quốc quá tự tin lao vào trong một cuộc xung khắc chính trị ngày càng gay gắt, chắc chắn cả hai nước sẽ đối đầu nhau trong một cuộc xung đột ý thức hệ có tính hủy hoại lẫn nhau. Trong kịch bản đó, Washington sẽ tranh luận rằng sự thành công của Bắc Kinh đặt cơ cở trên một chế độ độc tài bạo ngược và đang gây tổn thương cho sức mạnh kinh tế của Mỹ; trong khi đó, Bắc Kinh sẽ lý giải rằng thông điệp mà Mỹ đưa ra là một mưu mô nhằm phá hoại và thậm chí có thể làm tan rã hệ thống chính trị TQ. Đồng thời, Trung Quốc sẽ nhấn mạnh sự kiện là TQ đã bác bỏ thành công tính ưu việt của phương Tây, tạo ra sức hấp dẫn đối với các quốc gia trong thế giới đang phát triển, tức những nước vốn đã chấp nhận một sử quan (a historical narrative) rất thù nghịch với phương Tây và đặc biệt đối với Mỹ. Một kịch bản như thế sẽ gây thương tổn và bất lợi cho cả hai quốc gia. Vì thế, việc theo đuổi lợi ích riêng của mỗi nước cần phải thúc đẩy cả Mỹ lẫn Trung Quốc phải thể hiện một sự tự chế về ý thức hệ (ideological self-restraint), chống lại cám dỗ phổ quát hoá các đặc điểm nổi bật trong hệ thống kinh tế xã hội của riêng mỗi nước và tuyên truyền bôi nhọ lẫn nhau.

Vai trò của Mỹ tại châu Á phải là vai trò của một cường quốc có khả năng quân bình lực lượng trong khu vực, mô phỏng theo vai trò của Vương quốc Anh trên vũ đài chính trị giữa các nước châu Âu trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20. Mỹ có thể và phải giúp các quốc gia châu Á tránh một cuộc tranh giành quyền lực để khống chế khu vực, bằng cách làm trung gian hoà giải các xung đột và xóa bỏ những bất quân bình lực lượng giữa các quốc gia có tiềm năng trở thành địch thủ của nhau. Trong nỗ lực này, Mỹ phải tôn trọng vai trò lịch sử và địa chiến lược đặc biệt của Trung Quốc trong việc duy trì ổn định trên phần lục địa Viễn Đông. Tham dự một cuộc đối thoại với Trung Quốc về vấn đề an ninh khu vực không những sẽ giảm bớt các khả năng xung đột Mỹ-Hoa nhưng còn làm giảm bớt khả năng tính toán sai lầm giữa Trung Quốc và Nhật Bản, hay giữa Trung Quốc và Ấn Độ, và thậm chí ở một thời điểm nào đó giữa Trung Quốc và Nga về tài nguyên thiên nhiên và tình trạng độc lập của các quốc gia Trung Á. Như vậy, việc Mỹ tham gia quân bình lực lượng tại châu Á nhiên hậu cũng nằm trong lợi ích của Trung Quốc.

Đồng thời, Mỹ phải nhìn nhận rằng tình trạng ổn định tại châu Á không còn có thể bị áp đặt bởi một cường quốc phi-châu Á; Mỹ lại càng không thể trực tiếp sử dụng sức mạnh quân sự của mình tại đó. Thật vậy, các nỗ lực của Mỹ nhằm củng cố an ninh châu Á có khả năng rước lấy thất bại cho chính mình mà thôi, đẩy Washington vào việc lặp lại các cuộc chiến tốn kém gần đây, thậm chí có tiềm năng đưa đến việc diễn lại các biến cố bi thảm của châu Âu trong thế kỷ 20. Nếu Mỹ tạo ra một liên minh chống Trung Quốc với Ấn Độ (hay, một khả năng nhỏ bé hơn, với Việt Nam) hay hậu thuẫn việc Nhật Bản tái vũ trang chống Trung Quốc, hành động này có thể tạo hận thù nguy hiểm giữa hai cường quốc. Trong thế kỷ 21 này, một tình trạng quân bình địa chính trị trên lục địa châu Á không thể tùy thuộc vào các liên minh quân sự từ bên ngoài với các cường quốc phi-châu Á.

Nguyên tắc chỉ đạo của chính sách đối ngoại Mỹ tại châu Á là phải nêu cao nghĩa vụ của Mỹ đối với Nhật Bản và Nam Hàn trong khi không cho phép mình bị lôi cuốn vào một cuộc chiến tranh giữa các cường quốc châu Á trên lục địa. Mỹ đã có các căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Nam Hàn hơn 50 năm nay; nền độc lập và sự tự tin của những quốc gia này sẽ tan vỡ -- cùng với vai trò của Mỹ trong Thái Bình Dương -- nếu có bất cứ một mối hoài nghi nào xuất hiện liên quan đến tính bền vững của những cam kết dài hạn mà Mỹ đã ký kết qua các hiệp định.

Quan hệ Mỹ-Nhật là đặc biệt quan trọng và phải được dùng làm bàn đạp cho một nỗ lực hiệp đồng nhằm phát triển một tam giác hợp tác Mỹ-Nhật-Trung. Tam giác này sẽ cung ứng một cơ cấu có khả năng đối phó những quan tâm chiến lược do việc gia tăng sự hiện diện của Trung Quốc trong khu vực. Cũng như việc ổn định chính trị tại châu Âu sau Thế chiến II sẽ không phát triển được nếu không có sự nới rộng dần dần cuộc hòa giải Pháp-Đức sang cuộc hòa giải Đức-Ba Lan, việc quyết tâm nuôi dưỡng một quan hệ Trung-Nhật ngày càng sâu sắc sẽ là điểm xuất phát để tiến tới tình hình ổn định rộng lớn hơn tại Viễn Đông.

Trong bối cảnh quan hệ tam giác này, nỗ lực hòa giải Nhật-Trung sẽ đóng góp cho và củng cố một sự hợp tác Mỹ-Trung toàn diện hơn.  Trung Quốc thừa biết rằng cam kết của Mỹ đối với Nhật Bản là một lập trường kiên định, rằng sự ràng buộc giữa hai nước là sâu sắc và đích thực, và rằng tình hình an ninh của Nhật Bản là trực tiếp lệ thuộc vào Mỹ. Và vì một cuộc xung đột vũ trang với Trung Quốc sẽ tàn phá cho cả đôi bên, Tokyo hiểu rằng việc Mỹ đối thoại với Trung Quốc là một đóng góp gián tiếp cho chính an ninh của Nhật Bản. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc không nên coi việc Mỹ hậu thuẫn an ninh của Nhật Bản như một mối đe dọa, và Nhật Bản cũng không nên coi việc theo đuổi một quan hệ đối tác Mỹ-Trung mật thiết hơn và rộng rãi hơn như một hiểm họa đối với chính lợi ích của Nhật Bản. Một quan hệ tam giác càng sâu sắc, nếu diễn ra tố đẹp, cũng có thể giảm bớt những lo ngại của Nhật Bản về khả năng đồng Nhân dân tệ nhiên hậu có thể thành một trữ kim thứ ba của thế giới, vì khả năng này sẽ củng cố thêm phần hùn hạp của Trung Quốc trong hệ thống quốc tế hiện hữu và có thể giảm bớt những lo lắng của Mỹ về vai trò tương lai của Trung Quốc.

Trong một bối cảnh cần gia tăng sự hòa hợp khu vực và mở rộng quan hệ song phương Mỹ-Trung nói trên, có ba vấn đề nhạy cảm Mỹ-Trung cần phải được giải quyết một cách hòa bình: vấn đề thứ nhất nằm trong tương lai gần, vấn đề thứ hai trong vài năm tới, và vấn đề thứ ba có lẽ nằm trong khoảng một thập kỷ tới. Thứ nhất, Mỹ phải xét lại những hoạt động thám thính của mình trên các đường biên lãnh hải Trung Quốc, cũng như việc hải quân Mỹ tuần tra có định kỳ trên hải phận quốc tế nằm ngay trong khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Những hành động này là khiêu khích đối với Bắc Kinh – một cảm thức mà Washington sẽ nhận thấy nếu Bắc Kinh đưa tàu tuần tra vào khu đặc quyền kinh tế của Mỹ. Ngoài ra, những phi vụ thám thính trên không của quân đội Mỹ đặt ra những rủi ro có thể đưa đến những tai nạn máy bay không cố tình, vì không lực Trung Quốc thường phản ứng lại các phi vụ như thế của Mỹ bằng cách gửi máy bay chiến đấu lên giám sát cận cảnh (close-up inspection) và đôi khi sách nhiễu máy bay Mỹ.

Thứ hai, với sự kiện Trung Quốc tiếp tục hiện đại hoá các khả năng quân sự cuối cùng có thể tạo ra nhiều mối lo ngại chính đáng cho Mỹ về vấn đề an ninh, kể cả về các cam kết của Mỹ đối với Nhật Bản và Nam Hàn, hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc cần phải đối thoại bằng các cuộc tham khảo ý kiến thường xuyên liên quan đến việc vạch ra các kế hoạch quân sự dài hạn và tìm cách soạn thảo các biện pháp trấn an lẫn nhau.

Thứ ba, địa vị tương lai của Đài Loan có thể trở nên một vấn đề tranh cãi gay gắt nhất giữa hai cường quốc. Washington không còn nhìn nhận Đài Loan là một quốc gia có chủ quyền, mà lại công nhận quan điểm của Bắc Kinh cho rằng Trung Quốc và Đài Loan thuộc về một quốc gia duy nhất. Nhưng đồng thời, Mỹ lại bán vũ khí cho Đài Loan. Như vậy, bất cứ một cuộc hòa giải Mỹ-Trung dài hạn nào trong tương lai cũng phải đối phó với sự kiện này: một Đài Loan biệt lập, được bảo vệ vô thời hạn bằng những thương vụ vũ khí của Mỹ, sẽ kích động thêm thái độ thù nghịch ngày càng gay gắt của Trung Quốc. Một giải pháp sau cùng dựa vào đường lối của công thức nổi tiếng “một quốc gia, hai hệ thống” do cựu lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đưa ra cho tình trạng của Hồng Kông, nhưng được định nghĩa lại là “một quốc gia, nhiều hệ thống”, có thể dùng làm cơ sở cho việc Đài Loan cuối cùng tái hội nhập với Trung Quốc, trong khi vẫn cho phép Đài Loan và Trung Quốc duy trì các tổ chức chính trị, xã hội, và quân sự riêng biệt (đặc biệt, loại trừ cả khả năng bố trí quân Giải phóng Nhân dân trên đảo Đài Loan). Bất chấp cả công thức chính xác vừa nói, trong tình hình sức mạnh của Trung Quốc ngày càng bành trướng và những quan hệ xã hội giữa Đài Loan và lục địa đang gia tăng nhanh chóng, nhiều người đâm ra hoài nghi Đài Loan có thể tránh mãi một cuộc kết hợp chính thức với Trung Quốc.

TIẾN ĐẾN HỢP TÁC HỖ TƯƠNG

Hơn 1.500 năm về trước, trong nửa phần đầu của thiên niên kỷ thứ nhất, chính trị của những vùng tương đối văn minh của châu Âu phần lớn được chi phối bởi sự tồn tại cùng một lúc hai nửa đông, tây riêng biệt của Đế quốc La Mã. Đế quốc La Mã phương Tây, mà thủ đô là Rome trong phần lớn lịch sử, phải đối đầu với các cuộc chiến tranh tàn phá do người man rợ (barbarians) gây ra. Với quân đội thường xuyên trú đóng ở nước ngoài và cần được tăng cường một cách tốn kém, quyền lực chính trị của Rome bị phân tán mỏng và đi đến chỗ phá sản vào giữa nửa sau của Thế kỷ 5. Trong khi đó, những cuộc xung đột chia rẽ giữa người Ki-tô giáo với người ngoại giáo đã phá hoại sự cố kết xã hội (social cohesion) của Rome, đồng thời sưu cao thuế nặng và nạn tham nhũng cũng làm kiệt quệ sinh lực kinh tế của đế quốc này. Năm 476, vào thời điểm người man rợ giết chết Romulus Augustulus, Đế quốc La Mã phương Tây lúc bấy giờ vốn đang hấp hối chính thức sụp đổ.

Trong cùng giai đoạn nói trên, Đế quốc La Mã phương Đông – không lâu về sau được gọi là Byzantium – chứng tỏ có sức sống đô thị năng động hơn, tăng trưởng kinh tế, và thành công trong các chính sách ngoại giao và an ninh. Sau khi Rome sụp đổ, Byzantium còn tiếp tục sự phồn thịnh của mình qua nhiều thế kỷ. Nó chinh phục nhiều vùng của Đế quốc La Mã phương Tây cũ và tiếp tục tồn tại (mặc dù về sau trải qua nhiều xung đột) cho đến khi người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman trỗi dậy vào Thế kỷ 15.

Những khó khăn nghiệt ngã mà Rome [Đế quốc La Mã phương Tây] trải qua vào giữa Thế kỷ 5 không hề gây phương hại đến viễn ảnh đầy hi vọng của Byzantium [Đế quốc La Mã phương Đông], vì trong giai đoạn đó, thế giới bị chia ra nhiều phần riêng biệt có tính cô lập địa lý và cách ly nhau về chính trị và kinh tế. Số phận của vùng này không trực tiếp và nhanh chóng ảnh hưởng đến viễn ảnh của vùng khác. Nhưng tình hình không còn như thế. Ngày nay, khoảng cách không gian đã trở nên vô nghĩa do khả năng trực tiếp truyền thông và tốc độ cực nhanh của các dịch vụ thanh toán tài chính, sự thịnh vượng của những vùng tiên tiến nhất thế giới đang trở nên ngày càng lệ thuộc vào nhau. Trong thời đại của chúng ta – không như 1.500 năm về trước -- phương Tây và phương Đông không thể thờ ơ lãnh đạm với nhau: sự quan hệ của chúng chỉ có thể hoặc là hợp tác hỗ tương hoặc là hủy hoại nhau mà thôi.

Trần Ngọc Cư

Trong trường hợp xấu nhất sẽ có nội chiến


Spiegel, 31/1/2012, Hiếu Tân dịch

Cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi Matthias Schepp ở  Kazan, Nga

 

http://www.spiegel.de/international/world/0,1518,812309,00.html



Nhà tỉ phú Nga Mikhail Prokhorov muốn kế tục Dmitry Medvedev

Mikhail Prokhorov là một trong những người giàu nhất nước Nga và bây giờ ông muốn vào điện Kremlin, dự tính thách đấu Putin trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2012. Nói chuyện với SPIEGEL ONLINE ông nói về các giai cấp chính trị ở Nga và đòi thả ông trùm dầu mỏ Mikhail Khodorkovsky. 

SPIEGEL: Thưa ông Prokhorov, ông sở hữu một tài sản trị giá nhiều tỉ đô la và bây giờ ông có kế hoạch thách thức thủ tướng Vladimir Putin trong cuộc bầu cử tổng thống vào mùa xuân này. Điều gì khiến ông nghĩ rằng một doanh nhân thành đạt sẽ làm nên một chính khách thành công?

Prokhorov: Sẽ không thành vấn đề khi nhà doanh nhân đó có các kỹ năng xã hội đi đôi với các năng lực lãnh đạo của anh ta. Khi tôi là người đứng đầu công ty mỏ Norilsk Nickel, tôi cũng đã điều hành các nhà trẻ, việc cung cấp năng lượng, và xây cất nhà ở. Trong một qui mô nhỏ hơn, tôi cũng đã làm những công việc cần thiết ở tầm quốc gia. Việc có một tổng thống đã đạt được một điều gì đó trong cuộc sống là tốt.

SPIEGEL: Ông không nghĩ rằng các qui tắc áp dụng cho chính trị và kinh doanh là khác nhau sao? Các chính khách phải tìm sự ủng hộ trong đấu trường công khai, trong khi các nhà kinh doanh ra các quyết định đằng sau những cánh cửa đóng kín.

Prokhorov: Nhiều quyết định chính trị cũng được làm khuất mắt công chúng. Đó là một trong những vấn đề lớn nhất của nước Nga. Ngay cả trong các nước phương Tây với truyền thống dân chủ lâu dài của chúng, sự tham dự của công chúng không phải bao giờ cũng tôt như đáng ra phải thế. Một doanh nhân có thể mất tiền và sau đó kiếm lại. Tiền trong chính trị là lòng tin. Khi anh đã mất lòng tin của nhân dân một lần, thì khó mà giành lại được nó.

SPIEGEL: Việc nhân dân Nga mất lòng tin vào Vladimir Putin đã xảy ra thật đột ngột. Tại sao tín nhiệm trong nhân dân của ông ta bỗng nhiên trượt từ 70 phần trăm xuống còn 50 theo các điều tra chính thức, hay thậm chí 40 phần trăm theo một cuộc thăm dò dư luận trong nước?

Prokhorov: Sai lầm cơ bản nhất của ông ta diễn ra trong ngày họp đại hội đảng Nước Nga Thống nhất của ông ta, khi tổng thống đương nhiệm Dmitry Medvedev và Putin công bố họ chỉ đơn giản đổi chác địa vị. Điều đó thật vô sỉ. Nó thật sự làm nhân dân nổi giận. Giai cấp sáng tạo nói: chúng tôi kiếm được tiền thuế, và như vậy chúng tôi giành được sự tôn trọng và chúng tôi đòi hỏi tôn trọng. Nhân dân không im lặng nữa khi các quyết định được làm ra bên trên đầu họ.

SPIEGEL: Có phải Kremlin đã đưa ông vào cuộc đua, để khơi dòng cho sự bất mãn này không?

Prokhorov: Tôi có những quyết định của riêng tôi. Từ trước đến nay tôi đều làm như thế. Tôi không bao giờ là toan tính của bất kỳ ai khác.

SPIEGEL: Việc ông trùm dầu mỏ Mikhail Khodokovsky, người quen thân của ông, đã  ở tù tám năm nay và doanh nghiệp bị quốc hữu hóa, gọi ông là một con bài của Kremlin có xúc phạm ông không?

Prokhorov: Không, tôi không bị xúc phạm và nói chung tôi khó bị xúc phạm lắm. Việc của tôi là chứng minh điều ngược lại với những kẻ hoài nghi định dán cho tôi cá nhãn Kremlin. Tôi tin chắc tôi sẽ thuyết phục được Khodorkovsky chỉ cần tôi nói chuyện với ông ta. Mikhail là một nhà quản lý xuẩt sắc, tài giỏi. Chắc lúc này ông ấy đang rất khó chịu và đang phải ngồi tù. Khi tôi trở thành tổng thống, tôi bảo đảm ông ấy sẽ được tự do.

SPIEGEL: Ông ủng hộ một đạo luật hạn chế không cho một người được giữ một cương vị chính trị quá hai nhiệm kỳ. Vậy thì điều gì sẽ có thể xảy ra với Vladimir Putin, người đang tìm cách trở thành tổng thống lần thứ ba vào tháng Ba này? Liệu ông ấy có lãnh đạo công ty năng lượng Gazprom và liệu Medvedev có trở thành chủ tịch của Tòa án hiến pháp không?

Prokhorov: Tôi không có thời gian đâu mà đi nghĩ về những chuyện tưởng tượng ấy.

SPIEGEL: Ông đã tham gia các cuộc biểu tình quần chúng. Một trong những giải pháp được đưa ra là "Nước Nga không Putin" Ông có thích khẩu hiệu này không?

Prokhorov: Tôi ủng hộ một nước Nga có Putin, nhưng cũng có cả nhà văn Boris Akunin và blogger Alexei Navalny nữa, cả hai đều kêu gọi Putin thoái vị. Nếu các bên không thể cố gắng đi đến hòa giải với nhau, thì trong trường hợp xấu nhất, chúng tôi sẽ đối mặt với nội chiến. Giải pháp "Nước Nga không Putin" không hấp dẫn tôi. Chúng tôi không cần cách mạng, chúng tôi cần tiến hóa.

SPIEGEL:  Vậy tại sao ông lại chạy đua chống lại Putin trong cuộc bầu cử này?

Prokhorov: Chính xác bởi vì chúng tôi cần tiến hóa, những trí óc mới và những ý tưởng mới. Putin xứng đáng được tín nhiệm vì những gì ông ấy đã làm. Đặc biệt, trong những năm đầu cai trị của mình, ông ấy đã thống nhất được một đất nước chia rẽ và đơn giản hóa luật thuế. Thu nhập của nhân dân tăng lên. Chính là giai tầng trung lưu mới này, những công dân khá giả, từ chối không chịu thiếu quyền công dân nữa.

SPIEGEL: Ba biện pháp đầu tiên mà ông tập trung vào khi ông được bầu làm tổng thống là gì?

Prokhorov: Đôi với tôi điều quan trọng là lập được cạnh tranh trong kinh doanh và trong chính trị. Khi bạn đi vào một cửa hiệu trong một thành phố lớn của chúng tôi, bạn có thể chọn giữa hàng chục tủ lạnh hay bình trà. Trong chính trị nhân dân rất ít được lựa chọn.

SPIEGEL: Chính xác tại sao ông muốn thay đổi?

Prokhorov: Tôi muốn việc thành lập những đảng mới phải dễ dàng hơn. Mức 7 phần trăm đại biểu quốc hội nên được hạ xuống 3 phần trăm. Nhiệm kỳ giữ chức nên giảm từ sáu năm theo quyết định gần đây, trở lại bốn năm. Trong kinh tế tôi sẽ phá vỡ các công ty độc quyền, như Gazprom chẳng hạn. Ba là, tôi sẽ dành ưu iên hàng đầu cho đầu tư vào giáo dục, khoa học và văn hóa. Chúng quan trọng hơn chí phí cao cho quân sự. Lúc này không có ai đang đe dọa đất nước chúng tôi.

SPIEGEL: Người Nga không thích các đầu sỏ chính trị. Ông đánh giá cơ hội ông vào được Kremlin như thế nào?

Prokhorov: Có những thành kiến với người giàu nhưng không nhiều như trước đây. Trên hết, đất nước không thích những kẻ bất lương.

SPIEGEL: Những kẻ gian lận bầu cử và những quan chức tham nhũng?

Prokhorov: Vâng.

SPIEGEL: Tại sao ông nghĩ ấn tượng với người giàu đã khá hơn trước?

Prokhorov: Bởi vì họ tạo ra nhiều việc làm, đầu tư vào cho đất nước, làm những công việc từ thiện và giúp đỡ nhân dân. Trong một chuyến đi vận động bầu cử, tôi đã nói chuyện với nhiều người bình thường. Hết người này đến người khác đến với tôi và nói: Tôi đích thực là một người cộng sản nhưng tôi sẽ bầu cho ông bởi vì tôi biết rằng ông không trộm cắp. Bây giờ là lúc những người thành đạt và những người khá giả nên nắm quyền thay vì những kẻ lạm dụng chức vụ để ních chặt túi mình.

SPIEGEL: Tham nhũng mà ông mô tả lên đến cấp nào? Tổng thống Demitry Medvedev và Thủ tướng Vladimir Putin có tham nhũng không?

Prokhorov: Từ từ. Tham nhũng là thừa kế từ thời Xô viết, một hậu quả của nền kinh tế thiếu thốn. Để mua thịt bạn phải hối lộ anh hàng thịt. Những ai cần cấp phép chính thức phải biếu quà cho đúng ông quan, và các bác sĩ được tặng sôcôla. Một hệ thống phát triển dựa trên những tiêu chuẩn hai mặt. Tất cả chúng tôi là những người bất đồng chính kiến khi chúng tôi chuyện gẫu ở nhà, nhưng khi làm việc chúng tôi là những  người theo đảng.

SPIEGEL: Nhưng chúng tôi đang hỏi hệ thống có phải thối nát từ trên xuống?

Prokhorov: Cả từ trên xuống. Ở đó bạn thấy những con người hai mặt.

Cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi Matthias Schepp ở  Kazan, Nga

MẬU THÂN VÀ HUẾ

Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012 | 23:16

HUY PHƯƠNG


Xin gọi trăng soi khe Đá Mài
Thời gian rêu phủ mảnh đầu ai
Bãi Dâu đau xót hồn Gia Hội
Phú Thứ tóc vương trảng cát dài.
(Huế Oan Khiên -Huy Phương)

Định mệnh sắp đặt cho tôi, đứa con của Huế, phải trở lại quê hương trong những ngày đầu năm Mậu Thân để chịu tang với Huế. Sau 23 ngày, lúc tôi rời Huế, trời còn lạnh, sương mù buổi sáng chưa tan, còn như nghe chút rát trên mắt của những trận bom cay giải tỏa thành phố hay là nước mắt khóc cho những tang tóc của quê nhà. Ngày tôi đi, Huế chưa được hoàn toàn "giải phóng". Dù tôi để nó ở trong ngoặc kép, đó là chữ chính xác nhất phải được dùng. Giải phóng là cởi ra, ai ai cũng vui mừng chứ không phải cột lại cho người ta than khóc, kiểu "một nửa nước vui, một nửa nước buồn". Chuyện rất đơn giản: người dân chạy về phía nào thì phía đó chính là phe giải phóng. Chính vì Việt Cộng không hề thấy có ai chạy về phía mình, hay "tổng tấn công" mà chẳng thấy "nổi dậy", nên phải trút tất cả hận thù lên đầu người dân hiền lương, vô tội. Chúng trả thù Huế! Đó là đập đầu, xử tử hay chôn sống. Không có những nấm mồ cá nhân mà chỉ có những hố chôn tập thể. Nhanh, gọn và vì quá nhiều người phải chết.

Tôi còn trở lại Huế sau đó để chứng kiến cảnh đồng bào của tôi được mang lên mặt đất, với dây thép gai, dây điện thoại trói tay, với xương sọ bị vỡ, áo quần đã rữa nát, thi thể dính chùm với nhau, đã bốc mùi. Tôi phải chứng kiến những tiếng kêu la, gào thét tuyệt vọng của những người mất chồng, mất cha, mất con, mất anh em, mất họ hàng. Cả thành phố quấn khăn tang, cả thành phố đầy mùi hương trầm, cả thành phố sau 28 ngày được sống dậy nhưng trên nỗi chết! Từ những nấm mồ tập thể, giờ đây là những đám tang tập thể, "những con đường trắng" với áo mũ vấn khăn sô.

Nỗi đau của Huế trước nhất là những khuôn mặt dương dương của những đứa con, mang danh Huế đã đem oan nghiệt đến cho hàng nghìn dân Huế, bây giờ mỗi năm còn ngồi ca tụng nhau, kể chuyện chiến công giết người như anh em nhà Hoàng Phủ (Tường - Phan), như nhà "huyết học" Nguyễn Đắc Xuân, như Tôn Thất Dương Tiềm, như gia đình Nguyễn Đóa - Đoan Trinh. Những tên lính cầm súng dài đã khuất dạng hay nhờ chiến công xương máu lên cầm quyền, bọn súng ngắn băng đỏ, mang chút chữ nghĩa văn chương, trí thức, ngày nay đã thất thời, còn ngồi ôm lấy huyền thoại "giải phóng", "tiến bộ", "sinh viên tranh đấu", nhởn nhơ nhe răng cười cợt trên những oan khuất, xót xa của Huế. Dù đã 44 năm qua, chiến tích máu đã khô sẫm thời gian, được tô vẽ lại dưới danh xưng "hào khí Mậu Thân" và những "băng đỏ" còn mang mặc cảm công thần, bám víu vào và nghĩ đến những huyền thoại vàng son, nhưng thực tế chỉ là những quan viên lơ láo, đã bị xếp xó vì bọn có quyền lực trong tay chẳng coi ra gì. Những đoạn phim ngắn, những bài viết, những câu thơ kể công trạng, nêu thành tích vào Huế năm xưa như xé nát thêm nỗi đau của những gia đình đã là nạn nhân của Mậu Thân, những người mà chúng vẫn nhận là bà con, bạn bè, đồng hương, dòng họ...

Nỗi đau của Huế còn vì những người không dám nói sự thật. Tư lệnh Mặt Trận Huế, Trần Văn Quang có thể thi hành và nói theo ý đảng, nhưng những người có chữ nghĩa như Hoàng Phủ Ngọc Tường và Bùi Tín vì sao lại có thể "hàm huyết", sợ sự thật đến độ cho rằng hàng nghìn người bị thảm sát chôn trong những hầm tập thể là "có nợ máu", nói như Hoàng Phủ Ngọc Tường, do quần chúng nổi dậy vì căm phẫn giết chết, hay như Bùi Tín, là do bom đạn, phi pháo vùi dập trong đó có cả thường dân, tù binh lẫn cán binh Việt Cộng. Đây là những người dối trá, luôn luôn sợ hãi sự thật, nhưng sự thật sẽ luôn luôn ám ảnh họ suốt đời. Chỉ cần công nhận sự thật được một lần trước công luận để lương tâm được thanh thản. Đây là lúc không cần nói dối vì một bát cơm hay vì dao găm kề bên hông. "Con chim sắp chết cất tiếng hót bi ai, người sắp chết nói lời nói phải!" Hy vọng đến tuổi già, những người này biết nói một lời hối lỗi.

Chúng dối trá vì trong hơn mười hầm chôn được khai quật sau Tết Mậu Thân dưới sự quan sát của báo chí truyền hình trong và ngoài nước không hề có được một chiếc dép râu, nửa cái nón cối hay một vuông khăn dù! Và phải chăng những người bị Việt Cộng kết án phải chết vì mang nợ máu là những giáo sư ngoại quốc đến khai hóa cho Huế, những linh mục, những y tá, những giáo sư trung học, những nam nữ sinh viên, những người lính đi phép không có một tấc sắt trong tay. Cả đến một ông chủ quán bún bò hay một thiếu nữ chạy theo cha già bị bắt, một đứa trẻ giúp lễ cho linh mục cũng được xem là "kẻ thù của cách mạng!" cần phải giết. Coi nhân dân là kẻ thù rồi, mi sống với ai?

Nỗi đau của Huế còn rơi rớt ngày hôm nay, tại hải ngoại, do những hành động vô ý thức của một vài cá nhân người Huế, đã vì sợ hãi hay tâng công, háo danh hay muốn nhờ vả chút quyền lợi trong nước, đã tiếp đón đãi đằng những tên mang món nợ máu với Huế ra hải ngoại. Những tên mang danh trí thức, nhà văn này có ảo tưởng như thế là tiến bộ, hòa giải nhưng sự thật là đã xát muối vào vết thương của bà con, đồng bào Huế đã gánh chịu nỗi tang tóc Mậu Thân vì chúng là khuôn mặt đại diện cho tội ác.
Nỗi đau của Huế còn ở lỗi chúng ta, những con dân của xứ Huế ở hải ngoại, những tấm lòng đôn hậu thật thà, nhưng nông cạn, chóng quên như trẻ thơ. Chúng ta tụ tập với nhau vui chơi ngày Tết gọi là nhớ Huế, nhưng quên mất Mậu Thân. Đối với tôi, tiếng "Tết" hay tiếng "Huế" luôn luôn gắn liền với hai tiếng "Mậu Thân" dù thời gian đã lâu, 44 năm, hơn cả một nửa đời người. Dù Huế có dồi phấn tô son, vẽ vời đến đâu, dù Huế có giăng đèn kết hoa, hội hè đình đám gì nữa, thì linh hồn oan khuất của 6,000 người dân Huế bị thảm sát vẫn như còn lẫn khuất đâu đây, chưa hề siêu thoát.

Đối với thành phố Huế, đầu tháng Giêng là những ngày giỗ lớn, một đại tang chưa có ngày xả tang. Bây giờ tôi là đứa con lưu lạc xa xứ, mỗi năm ngày Tết về chạnh lòng thương nhớ quê hương, mỗi lần nghĩ đến Mậu Thân, lòng ai không khỏi xót xa, đau đớn. Tôi chỉ là một người dân Huế, tấm lòng thành, vài dòng chữ viết, - nói như Nhã Ca- chút nhang đèn góp giỗ.

Nhâm Thìn, 2012

TẦU SÂN BAY

Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012 | 03:32



GIỚI THIỆU:
Có nhiều loại tàu sân bay (TSB), nhưng về cơ bản chúng hoạt động gần như giống nhau nên trong bài viết này mình sẽ nói về chiếc USS Nimitz, một trong những siêu hàng không mẫu hạm lớn nhất thế giới của Hải quân Hoa Kỳ. Tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân từ 2 lò phản ứng, có khoảng 5.000 thủy thủ đoàn và trên dưới 90 máy bay trên boong, bao gồm cả phản lực và trực thăng. Giá thành của USS Nimitz khoảng 4,5 tỷ USD.

Có thể nói TSB là biểu tượng sức mạnh của quân đội nói chung và hải quân nói riêng, là niềm tự hào của một đất nước. Nó là loại tàu chiến mạnh mẽ nhất trong quân đội, đóng vai trò vừa là tàu chiến, tàu hỗ trợ, đồng thời vừa được xem như một căn cứ quân sự di động nổi trên biển, có thể đi đến gần như bất cứ vùng biển nào, giúp cho quân đội có thể triển khai không lực đến mọi nơi trên thế giới. Về kích thước, chúng là những tàu chiến có kích cỡ đồ sộ nhất hiện nay, cao tương đương một tòa nhà 20 tầng (gần 77 mét), dài bằng với chiều cao của tòa nhà Chrysler Building 77 tầng của Mỹ (gần 333 mét) và nặng hơn 91.000 tấn khi được trang bị đầy đủ (máy bay, bom, đạn dược, tên lửa...). USS Nimitz có sức chứa 90 máy bay và khả năng phóng liên tục 4 máy bay chỉ trong vòng 1 phút (phóng mỗi chiếc mất 25 giây).


Tàu USS Nimitz

Điểm nổi bật dễ thấy nhất của TSB đó là chúng có một boong tàu bằng phẳng và dài. Boong tàu được dùng để đậu máy bay và cũng là đường băng để các máy bay cất và hạ cánh. Vì đường băng trên TSB có chiều dài hạn chế nên người ta phải lắp thêm các hệ thống phóng máy bay bằng hơi nước để giúp chúng dễ cất cánh hơn.

Ngoài việc "nuôi giữ" hàng chục máy bay có chức năng tấn công ra, TSB còn được trang bị nhiều loại súng ống, tên lửa và các trang thiết bị hiện đại đủ để phòng thủ cũng như tiêu diệt các tàu chiến, máy bay khác dám bén mảng đến gần. Kết hợp với các tàu hộ tống, tàu khu trục, tàu ngầm và máy bay trên không, TSB sẽ trở thành trung tâm của một đội hình tác chiến vừa có khả năng chiến đấu cao, phòng thủ tốt lại vừa có thể di chuyển đến khắp các vùng biển với vận tốc tương đương 60 km/h. Cho phép quân đội một nước có thể đưa quân vào các lãnh thổ trong đất liền mà không cần quan tâm nơi đó có căn cứ quân sự của mình hay không, vì thực chất TSB đã là một căn cứ quân sự rồi.

Các thành phần chủ yếu có trên boong tàu:
4 bệ phóng (đường băng): Bệ phóng dùng để đẩy và phóng máy bay từ boong tàu lên không trung trong thời gian ngắn.
Trạm điều khiển bệ phóng: Có chức năng tính toán và điều khiển lực đẩy cần thiết để phóng máy bay lên, tùy vào từng loại máy bay mà người ta cần phải tính toán lực đẩy cho phù hợp. Lực đẩy quá yếu hay quá mạnh đều gây ra nguy hiểm cho máy bay lẫn phi công.
Thang máy nạp vũ khí: Vận chuyển vũ khí từ dưới kho lên boong tàu để các thủy thủ lắp vào máy bay.
Thang máy: Vận chuyển máy bay từ dưới khoang chứa lên boong tàu để chuẩn bị bay.
Tháp đảo: Trung tâm điều khiển tàu, trung tâm chỉ huy tác chiến của các chỉ huy và đô đốc.
Hàng rào lưới: Dùng để phanh gấp các máy bay hạ cánh trong tình huống khẩn cấp. Các máy bay sẽ bay thẳng vào lưới này để giảm vận tốc cho đến khi dừng lại hoàn toàn.
Khối ăng-ten: Chứa các ăng-ten, radar.
Cáp giữ máy bay khi hạ cánh: có 4 dây cáp, máy bay khi hạ cánh lên TSB sẽ thả một cái móc ở phía đuôi máy bay ra, cái móc này sẽ móc vào sợi dây cáp để giữ máy bay lại.
Đầu chặn ống xả từ động cơ máy bay: Các máy bay phản lực khi khởi động sẽ tạo ra một lực đẩy vô cùng lớn ở phía sau động cơ của nó, người ta đặt các đầu chặn ngay phía đuôi máy bay để hướng lực đẩy đó lên phía trên, để không ảnh hưởng đến các thủy thủ trên tàu.
Hệ thống đèn chỉ dẫn hạ cánh: Nằm gần đường băng, bao gồm nhiều đèn tín hiệu có chức năng báo hiệu cho phi công hạ cánh.
Mk-15 Phalanx CIWS: Súng máy chống tên lửa, định hướng bằng Radar.
Mk-29 Sea Sparrow SAM Launcher: Tên lửa dẫn đường chống máy bay, chống tên lửa.




2. CẤU TRÚC CỦA MỘT TÀU SÂN BAY:TSB là loại tàu có cấu trúc vô cùng phức tạp bởi nó kiêm nhiệm quá nhiều chức năng. Có thể kể ra một số chức năng như vận chuyển máy bay xuyên đại dương, phóng và hạ cánh máy bay, trung tâm chỉ huy di động cho các nhiệm vụ quân sự, là nơi sinh hoạt, làm việc của hàng ngàn thủy thủ đoàn... do đó, nó cần có những thứ sau đây:
Đường băng: dùng cho máy bay cất và hạ cánh.
Khoang chứa máy bay: Nằm bên trong thân TSB, chứa các máy bay không sử dụng.
"Tháp đảo": Phần công trình nhô lên trên boong tàu, dựng các loại ăng-ten. Nơi các viên chỉ huy điều khiển con tàu và máy bay.
Hệ thống phòng ốc cho các thủy thủ sinh hoạt và làm việc.
Động cơ điện và hệ thống động cơ đẩy để di chuyển toàn bộ con tàu, tạo ra điện để sử dụng. Nimitz dùng động cơ điện hạt nhân.
Một loạt các hệ thống khác tương tự như trong thành phố như hệ thống cống, xử lý rác thải, thư từ, Radio, TV, báo, nhà máy xử lý nước, kho lương thực...
Thân tàu.

Thân tàu được làm từ các tấm thép siêu cứng dày đến mấy inch, bảo vệ TSB trước hỏa lực của kẻ địch. Phần dưới của tàu (phần chìm dưới mặt nước biển) được thiết kế thành 2 sàn riêng biệt cách nhau bởi một khe hở. Thiết kế này sẽ tăng thêm sức bảo vệ cho tàu khi gặp phải ngư lôi hay các tai nạn trên biển. Và lỡ như có bị bắn trúng và làm thủng một lỗ trên thân tàu thì thiết kế 2 sàn riêng biệt này sẽ ngăn không cho lỗ thủng to ra.


3. CẤT CÁNH TỪ TÀU SÂN BAY:

Boong của TSB là một trong những nơi có môi trường làm việc nguy hiểm nhất thế giới. Do mật độ cất/hạ cánh trên boong tàu khá lớn và diễn ra trên một không gian chật hẹp nên dù chỉ một sai sót nhỏ, một phút lơ là không cảnh giác là bạn có thể bị hút vào động cơ máy bay hoặc bị thổi bay xuống biển. Ngoài ra, nếu phi công hạ cánh không tốt dẫn đến tai nạn thì những thủy thủ trên boong cũng sẽ dễ gặp nạn.

Một chiếc máy bay muốn cất cánh cần phải có đường băng đủ dài để tăng tốc (ngoại trừ trực thăng), trong điều kiện đường băng khiêm tốn như trên TSB thì người ta phải dùng tới các bệ phóng đặc biệt để giúp nó tăng tốc cực kỳ nhanh mà không cần đến đường bằng dài. Bên cạnh đó, người ta còn có thể cho tàu chạy ngược chiều gió để lợi dụng sức gió tác động lên cánh máy bay giúp nó dễ cất cánh hơn.

Nhìn từ bên ngoài, bệ phóng của TSB khá đơn giản do nó chỉ gồm có một cái chốt nằm chính giữa đường băng. Người ta đưa máy bay vào đường băng, gắn bánh xe của chúng vào cái chốt này và cái chốt sẽ đẩy nó đi với một lực cực lớn, giúp máy bay tăng tốc nhanh hơn bình thường và bay lên dễ dàng. Tuy nhiên, bên dưới bệ phóng đó là cả một hệ thống gồm nhiều piston và xylanh dẫn động, lấy năng lượng từ động cơ hơi nước của tàu để tạo ra lực đẩy. Bên cạnh các đường băng, bạn sẽ thấy có một cái ụ nhỏ được lắp cửa sổ bằng kính giống như đài quan sát, gọi là trạm điều khiển bệ phóng (Catapult Control Station), bên trong trạm này, các thủy thủ sẽ tính toán lực đẩy cần thiết để phóng máy bay, máy bay khác nhau cần lực đẩy khác nhau. Nếu tính toán sai, lực đẩy quá yếu, máy bay sẽ không bay lên được và rớt xuống biển, còn nếu lực đẩy quá mạnh thì có thể gây ra hư hại cho thiết bị và nguy hiểm đến mọi người. Vì vậy mà mọi thứ cần phải được chính xác. Nếu tính toán đúng, một bệ phóng có thể đưa một chiếc máy bay nặng 20 tấn tăng tốc từ 0 - 266 km/h chỉ trong vòng 2 giây.

Và trong khi các thủy thủ đưa máy bay vào bệ phóng thì các thủy thủ khác sẽ cho nâng đầu chặn ống xả máy bay lên, đó là một tấm kim loại lớn gắn ở phía đầu bệ phóng. Bởi khi khởi động, lực đẩy từ các động cơ của máy bay tạo ra là rất lớn, có thể thổi bay những người đứng phía sau nó xuống biển nên người ta phải chặn nó lại bằng tấm thép này. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, thủy thủ đứng dưới trạm điều khiển bệ phóng sẽ bấm nút để bệ phóng hoạt động, đưa máy bay bay lên.


4. HẠ CÁNH XUỐNG TÀU SÂN BAY:
Hạ cánh xuống TSB cũng nguy hiểm không kém gì lúc cất cánh. Vì phi công phải đáp xuống đường băng chỉ dài có 150 mét, máy bay đang bay hết tốc lực và trên boong thì đang có nhiều thủy thủ và các máy bay khác. Nếu hạ cánh trong đêm hay ngày có nhiều sương mù với tầm nhìn bị hạn chế thì mức độ khó khăn và nguy hiểm cũng tăng lên rất nhiều.

Để hạ cánh, khi máy bay hạ độ cao gần bằng với boong tàu, phi công phải thả một cái móc ở phía đuôi máy bay ra. Cái móc này sẽ móc vào 1 trong 4 sợi cáp bằng thép ở phía cuối đường băng. Nếu móc trúng, sợi cáp sẽ giữ cho máy bay dừng hẳn lại và coi như đã hạ cánh thành công. Còn nếu không móc trúng, phi công phải cho máy bay bay lên lại thêm một vòng nữa để hạ cánh lần thứ 2, đây chính là lý do vì sao lúc hạ cánh, phi công không được giảm tốc độ mà phải để máy bay bay hết công suất, để lỡ không móc trúng sợi cáp thì vẫn có thể bay lên lại ngay lập tức.

4 sợi cáp trên không đơn giản chỉ là sợ dây gắn chặt ở 2 đầu mà nó được nối với các ống xylanh thủy lực bên dưới đường băng. Khi máy bay móc trúng sợi cáp, nó sẽ kéo sợi cáp ra, đồng thời hệ thống thủy lực sẽ hấp thu hết nguồn năng lượng của máy bay làm cho nó dừng hẳn lại. Do đó, sợi cáp có thể chặn một máy bay nặng 24,5 tấn đang bay với vận tốc 241 km/h dừng hẳn lại trong vòng 2 giây trên một đường băng dài có 96 mét. Người ta đặt 4 sợi cáp này nằm song song với nhau và mỗi sợi cách nhau 15 mét. Thông thường, phi công sẽ nhắm vào sợi cáp thứ 3 để móc vào vì đây là khoảng cách an toàn và hiệu quả nhất để hạ cánh. Họ không bao giờ chọn dây thứ nhất vì rất dễ đâm sầm vào phần đuôi của tàu.

Việc hạ cánh trên TSB được điều khiển bởi trạm không lưu tương tự như các sân bay trên mặt đất. Các máy bay cần phải "xếp hàng" chờ đến lượt mình được hạ cánh, theo nguyên tắc ai còn ít nhiên liệu thì xuống trước, ai còn nhiều thì xuống sau. Các thủy thủ trên boong sẽ dùng radio để liên lạc với phi công hướng dẫn họ hạ cánh, trong điều kiện thời tiết xấu hay tầm nhìn kém thì họ còn dùng tới đèn báo hiệu để chỉ dẫn cho phi công. Sau khi hạ cánh thành công, người ta sẽ kéo máy bay ra khỏi vùng hạ cánh và cho nó vào bãi đậu chung với những máy bay khác. Tại đây chúng được cố định chắc chắn trên boong để không bị xê dịch mỗi khi tàu di chuyển.

Bên cạnh việc bảo vệ cho phi công và máy bay được an toàn, người ta cũng không quên trang bị những thứ cần thiết để bảo vệ tính mạng của những thủy thủ làm việc trên boong. Thứ nhất là lắp đặt nhiều lưới xung quanh boong tàu để ngăn không cho ai bị rớt xuống biển, hai là trang bị áo phao, đèn báo hiệu phòng trường hợp bị rơi xuống biển và sau cùng là một chiếc mũ bảo hiểm cỡ lớn để bảo vệ đầu và tai khỏi những âm thanh gầm rú của động cơ máy bay.

Máy bay thả móc chuẩn bị hạ cánh


5. THÁP ĐẢO (ISLAND):
Tháp đảo chính là phần công trình nhô lên trên boong tàu, nơi bạn thấy có nhiều ăng-ten nhất. Đây chính là trung tâm chỉ huy của TSB, nơi điều khiển mọi hoạt động như lái tàu, điều khiển máy bay cất/hạ cánh và cũng là nơi làm việc của các cấp chỉ huy. Tòa tháp cao khoảng 46 mét, phần đáy (tầng trệt) rộng chừng 6 mét còn các tầng trên thì được nới rộng ra hơn.

Trên đỉnh của tháp đảo có rất nhiều ăng-ten dùng để định vị và theo dõi các tàu thuyền/máy bay xung quanh, phát hiện máy bay địch, tên lửa địch, can thiệp và gây nhiễu sóng radar của đối phương, thu nhận tín hiệu vệ tinh cho điện thoại và TV... Tầng bên dưới là trạm không lưu điều khiển máy bay cất/hạ cánh trên boong tàu và trong bán kính 8 km. Tầng dưới nữa là trung tâm chỉ huy, nơi thuyền trưởng trực tiếp ra lệnh điều khiển tàu như hướng di chuyển, tốc độ, định vị... Và tầng dưới nữa chính là trung tâm chỉ huy dành cho cấp Đô đốc, chịu trách nhiệm cho cả hạm đội bao gồm TSB, tàu hộ tống, tàu ngầm, máy bay...

Bên dưới tầng này nữa (tầng trệt) là các trung tâm vận hành đường băng, có nhiệm vụ theo dõi và quản lý tất cả máy bay trên boong lẫn trong khoang chứa máy bay. Trong tầng này, người ta làm việc trên một cái bàn nhựa gọi là "Ouija Board". Chiếc bàn này mô phỏng y hệt như boong tàu thật. Trên đó có các mô hình máy bay tượng trưng cho các máy bay hiện có trên boong, mỗi khi có chiếc nào di chuyển từ điểm A sang điểm B thì họ cũng di chuyển mô hình theo tương tự, hoặc có chiếc nào bị hư cần sửa chữa thì họ lật úp mô hình của nó xuống. Thật bất ngờ khi mà trên con tàu ứng dụng nhiều công nghệ cao và hiện đại như TSB vẫn phải sử dụng cách quản lý bằng tay này.

Bên dưới tầng trệt (dưới boong tàu) là một trạm không lưu khác nữa nhưng có tầm quan sát rộng hơn trạm không lưu trên tháp đảo. Trạm không lưu này sẽ theo dõi toàn bộ máy bay trong cả khu vực xung quanh tàu. Kế bên trạm này còn có trung tâm tác chiến (Combat Direction Center), nơi điều khiển hệ thống chiến đấu của tàu (các ụ súng phòng không, súng máy), có nhiệm vụ xử lý thông tin từ các mối đe dọa thù địch để báo cáo lên cấp chỉ huy.

"Ouija Board"



6. KHOANG CHỨA MÁY BAY:


Với số lượng máy bay lên đến gần trăm chiếc, boong tàu chắc chắn không thể chứa đủ, vì thế người ta đã thiết kế hẳn một khoang chứa nằm bên dưới boong tàu và xem nó như một ga-ra máy bay, dùng để chứa những chiếc máy bay không sử dụng.

Khoang chứa máy bay rộng khoảng 34 mét, cao 8 mét, dài 209 mét, tương đương 2/3 chiều dài của tàu và được chia thành 4 khu vực ngăn cách nhau bởi các tấm cửa kéo, có tác dụng ngăn chặn lửa lây lan khi có cháy. Nó có sức chứa khoảng 60 máy bay cùng rất nhiều động cơ dự phòng, thùng nhiên liệu và một số phụ tùng khác. Phía ngoài của khoang chứa có 4 thang máy thủy lực dùng để đưa máy bay từ dưới khoang lên boong tàu. Mỗi cái có thể đưa cùng lúc 2 máy bay có tải trọng 34 tấn mỗi chiếc lên boong dễ dàng.

Ở phía cuối của khoang chứa còn có khu bảo trì và sửa chữa máy bay gọi là Aircraft Intermediate Maintenance Division. Các thủy thủ ở đây sẽ sửa chữa những máy bay bị hư hỏng, kiểm tra từng loại phụ tùng và thậm chí cho "chạy thử" cả một động cơ phản lực trong khu vực thử động cơ.

Khu vực chứa vũ khí và thử động cơ (phải)


7. CUỘC SỐNG TRÊN TÀU SÂN BAY:
Những siêu hàng không mẫu hạm như USS Nimitz được mệnh danh là "thành phố trên biển cả" bởi nó là nơi sinh hoạt, ăn ngủ nghỉ, làm việc và giải trí của khoảng 5000 - 6000 người trong nhiều tháng liền. Tuy làm việc trên biển nhưng có rất nhiều người trong số đó thậm chí không nhìn thấy mặt trời trong nhiều tuần liền, đặc biệt là những cô cậu lính mới. Boong tàu, khoang chứa máy bay và đuôi tàu là những nơi tuyệt vời để ngắm cảnh nhưng vì môi trường làm việc ở đó quá nguy hiểm và chật hẹp nên họ thường không được phép lên đây. Họ cũng không được phép có mặt trên tháp đảo vì nơi đó quá chật chội và chứa nhiều thông tin nhạy cảm.

Bên trong TSB mới là một thành phố thật sự, tuy nhiên nó hơi chật chội nên người ta phải khom người và luồn lách nếu muốn đi từ nơi này sang nơi khác. Ở đây người ta chia ra thành nhiều khu, mỗi khu có khoảng 60 người, ngủ trên những chiếc giường treo được kê khá chật chội. Mỗi người đều có thùng đồ riêng để cất vật dụng cá nhân của mình. Ở mỗi khu còn có 1 phòng tắm chung, phòng sinh hoạt tập thể có TV vệ tinh. Phòng của chỉ huy có cơ sở vật chất tốt hơn nhưng vẫn phải chịu cảnh chật hẹp như thường.

Tuy có khá nhiều việc làm trên TSB nhưng tựu chung lại thì có thể chia thành hai nhóm, một nhóm gồm khoảng 2.500 nam thanh nữ tú, là các phi công lái và bảo trì máy bay. Nhóm còn lại khoảng 3.000 người có nhiệm vụ chung là điều hành con tàu. Những người trong nhóm đầu chỉ quan tâm đến máy bay, còn công việc của nhóm thứ hai thì đa dạng hơn, từ các việc "hạng nhẹ" như rửa chén, nấu ăn cho đến các việc "hạng nặng" như chăm lo vũ khí và bảo trì lò phản ứng hạt nhân. Ngoài ra, TSB còn có rất nhiều nhà bếp, phòng giặt ủi, phòng khám nha khoa, bệnh viện, phòng điện thoại, bưu điện và rất nhiều cửa hàng nhỏ lẻ khác.

Phòng tập thể dục và phòng ngủ


8. CÁC CÔ CẬU XANH, ĐỎ, TÍM, VÀNG... TRÊN BOONG:
Trên boong tàu có rất nhiều thủy thủ cùng làm việc với nhau, mỗi thủy thủ đều được phân công nhiệm vụ rõ ràng. Nhìn vào màu áo của mỗi người, ta có thể biết được công việc của họ là gì:
Áo XANH LÁ: Nhân viên bảo trì, bảo dưỡng máy bay, đường băng.
Áo XANH DƯƠNG: Vận hành thang máy, xe kéo.
Áo ĐỎ: Tiếp tế đạn dược, bom, tên lửa cho máy bay.
Áo TÍM: Tiếp nhiên liệu, xăng dầu cho máy bay.
Áo VÀNG: Hướng dẫn cho phi công và máy bay cất cánh.
Áo TRẮNG: Nhân viên hướng dẫn hạ cánh, thanh tra máy bay, nhân viên y tế...

Do đó, mỗi khi có chiếc máy bay nào chuẩn bị cất cánh hay hạ cánh, sẽ có một tốp các cô cậu mặc áo xanh, đỏ, tím, vàng tụm lại xung quanh máy bay. Mỗi người ai làm việc nấy để đảm bảo máy bay luôn ở trong trạng thái hoạt động tốt nhất.



9. HỆ THỐNG VŨ KHÍ/TẤN CÔNG CỦA TÀU SÂN BAY:
Nhắc đến TSB thì người ta hay nghĩ tới sức mạnh khủng khiếp của nó. Vậy sức mạnh của TSB nằm ở đâu? Bao gồm những loại vũ khí gì?

Trước đây mình nghĩ TSB có rất nhiều súng ống, đại bác và tên lửa trên boong, là một pháo đài nổi trên biển. Nhưng thực tế số lượng các ụ súng trên tàu không nhiều, ví dụ như chiếc siêu hàng không mẫu hạm cỡ lớn như USS Nimitz cũng chỉ có 6 ụ súng và chia làm 2 loại, chúng có chức năng phòng thủ là chính nhưng đôi lúc cũng có thể dùng để tấn công, bao gồm:
3 ụ súng máy Mk-15 Phalanx CIWS: Súng máy chống tên lửa, định hướng bằng radar.
Súng máy hiện đại, chức năng: phòng thủ, chống tên lửa diệt hạm. Dùng đạn: 20 mm, tầm bắn hiệu quả: 3,6 km, tốc độ bắn: 4.500 viên/phút (75 viên/giây), hộp tiếp đạn: 1.550 viên, nặng: 6,2 tấn.
3 ụ tên lửa phòng không Mk-29 Sea Sparrow SAM Launcher: Tên lửa dẫn đường chống máy bay, chống tên lửa diệt hạm.
Bao gồm 8 ổ tên lửa có chức năng: phòng không, bắn máy bay, chống tên lửa diệt hạm. Tốc độ tên lửa: 4.250 km/h, tầm hoạt động: 18,5 km. Dẫn đường bằng radar.

Mk-15 Phalanx CIWS (trái) và Mk-29 Sea Sparrow SAM Launcher

Vậy TSB mạnh ở chỗ nào? Xin thưa là sức mạnh của TSB nằm ở chính các máy bay mà nó mang theo. Với số lượng hàng chục chiếc, mỗi chiếc lại được trang bị súng máy và tên lửa có khả năng tấn công trên trời, mặt đất lẫn mặt nước thì ta có thể xem mỗi chiếc máy bay là một ụ súng rất đáng gờm. Đặc biệt, các "ụ súng mọc cánh" này còn có thể ném bom những mục tiêu cách xa TSB đến hàng ngàn Kilomét, vì vậy mà khả năng tấn công của TSB là rất đa dạng, rộng lớn và kinh khủng.

Ví dụ, tàu USS Nimitz có khoảng 90 máy bay, được chia thành 9 tổ đội, bao gồm các loại máy bay sau:
F/A-18F Super Hornet: Máy bay tiêm kích chiến đấu đa chức năng, 2 chỗ ngồi. Khả năng tấn công ngày và đêm ở trên không, trên biển lẫn mặt đất. Được trang bị nhiều loại vũ khí dẫn đường và khả năng tiếp nhiên liệu trên không.
F-14 Tomcat: Máy bay siêu âm chiến đấu 2 chỗ ngồi. Có khả năng chiến đấu trên không vượt trội và là thành phần chủ chốt trong đội hình bảo vệ TSB.
E-2C Hawkeye: Máy bay mang radar cảnh báo sớm trên không. Có chức năng thu thập tình hình quân địch.
S-3B Viking: Phi cơ chuyên "làm thịt" các loại tàu ngầm.
EA-6B Prowler: Máy bay 2 động cơ có chức năng gây nhiễu radar đối phương và làm tắc nghẽn hệ thống liên lạc của địch.
SH-60 SeaHawk: Máy bay trực thăng 2 động cơ. Chuyên dùng để tấn công tàu ngầm và làm nhiệm vụ tìm kiếm, cứu hộ.

F/A-18F Super Hornet



10. ĐỘI HÌNH PHÒNG THỦ CỦA TÀU SÂN BAY:
Do kích thước siêu lớn của mình mà TSB rất dễ trở thành mồi ngon cho đối phương. Vì vậy để đảm bảo an toàn, người ta thường bố trí nhiều tàu hộ tống cho nó, giúp nó không bị đơn độc trên biển cả. Một đội hình bảo vệ sẽ gồm bảo vệ từ trên không, trên mặt nước và cả dưới mặt nước. Bao gồm các lớp:
Lớp trong cùng, gần TSB nhất: 1 tàu tiếp tế, có chức năng cung cấp nhiên liệu, đạn dược, lương thực cho TSB.
Lớp tiếp theo: 1 tàu tuần dương (Cruiser) mang theo tên lửa dẫn đường.
Lớp tiếp nữa: 2 tàu khu trục (Destroyer) mang theo tên lửa dẫn đường.
Lớp tiếp tiếp nữa, bên dưới: 1 tàu ngầm tấn công nhanh lớp Los Angeles (LA), chạy bằng năng lượng hạt nhân.
Lớp ngoài cùng, trên cao: Phi đội máy bay F/A-18F Super Hornet, bay cách TSB 460 km.

Đội hình bảo vệ tàu sân bay

Với đội hình hạm đội trên, các tàu hộ tống và máy bay có thể đảm đương khá tốt vai trò phòng thủ và bảo vệ TSB khỏi sự tấn công của kẻ địch, phòng thủ từ trên không, trên mặt biển và thậm chí cả dưới mặt nước. Nếu như có ai đó có khả năng liên tiếp "tỉa" hết toàn bộ máy bay F/A-18F Super Hornet, tiêu diệt toàn bộ tàu khu trục, tàu tuần dương, né được hết toàn bộ tên lửa và đạn pháo, nhấn chìm được chú tàu ngầm lớp LA kia thì sẽ có cơ hội được diện kiến TSB khổng lồ, trước khi lại phải đối mặt với hàng chục chiếc máy bay tỏa ra từ con tàu vĩ đại đó. Ngoài ra, bản thân TSB còn được trang bị hệ thống phòng thủ chống ngư lôi mang tên AN/SLQ-25 Nixie cho phép nó đánh lạc hướng các quả ngư lôi đang hướng về phía mình.

Phi đội máy bay F/A-18F Super Hornet bảo vệ lớp ngoài cùng

MÁY BAY CHIẾN ĐẤU

[indent] Posted Image
Khi những chiếc máy bay chiến đầu đầu tiên được xuất hiện ở cuối thế chiến thứ 2, chúng thật “nghèo nàn” và “lạc hậu” khi chỉ trang bị một vài khẩu súng máy. Sau đó, đến thời chiến tranh Hàn Quốc thì máy bay chiến đấu được nâng cấp lên một chút với những vũ khí mạnh mẽ hơn, mang thêm vài quả tên lửa, bay ở tốc độ siêu âm, đủ sức đối đầu với nhau trực tiếp trên không. Giờ đây, Tinhte.vn mời bạn tìm hiểu về Fighter Attack 22 Raptor (F/A-22 Raptor), kẻ thay thế cho F-15 Eagle trước kia và là máy bay chiến đấu đầu tiên có khả năng tàng hình. Và nếu ai muốn mua thì hãy bỏ 150$ triệu đô ra nhé, điều kiện kèm theo là bạn phải là người phụ trách mua sắm thiết bị cho không lực Mỹ bởi vì F/A-22 bị cấm xuất khẩu ra nước ngoài. Người ta cho rằng nếu tính cả những chi phí đã đổ ra cho quá trình nghiên cứu thì trị giá 1 chiếc F/A-22 chỉ khoảng 350 triệu đô la Mỹ mà thôi!


Bật mí thêm là hôm mình đi coi Transformer 3 thì có mua 1 con rô bốt mô hình, không biết vô tinh run rủi thế nào ra đúng con Starcream, chú rô bốt phe ác có hình dạng biến hình là 1 chiếc F/A-22 Raptor. Có vẻ như các nhà làm phim Mỹ rất là khoái chiếc máy bay này vì trong Iron Man chúng ta cũng thấy nó chơi chung với Tony Stack.
Starcream giả F/A-22 hạ quá trời F/A-22 thật trong phim Transformers

F/A-22 được chế tạo với mục tiêu thay thế cho F-15 nhưng chính chi phí quá cao đã làm quân đội Mỹ không thể thực hiện được mục tiêu này, họ chỉ dùng F/A-22 trong những trường hợp đặc biệt để dự phòng cho F-15. Được biết kinh phí để nghiên cứu về F/A-22 lên tới 65 tỷ đô la Mỹ kể từ khi nó bắt đầu vào những năm 80. Cả 3 công ty hàng không quân sự lớn của Mỹ đều tham gia nghiên cứu dự án này, từ Lockheed Martin, Boeing cho đến Pratt & Whitney.

Đúng như cái tên ghép từ Fighter (chiến binh) và Attack (chiến đấu) của mình, F/A-22 là một vũ khí tạo ra đễ thống trị bầu trời. Nó có sải cánh dài khoảng 13,5m, dài 18,9 m và cao tới 5m. F/A-22 sử dụng tới 2 động cơ F119-PW-100 của Pratt & Whitney và đạt tốc độ gấp 1,8 lần tốc độ âm thanh. Trong một cuộc tập trận vào năm 2006 thì F/A-22 đã chơi chung với F-14, F-15, F/A-18, tỷ lệ bắn trúng của F/A-22 so với các đối thủ là 144:0, cực kỳ ấn tượng. Ngoài ra, 1 cuộc thử nghiệm khác diễn ra giữa 8 em F/A-22 và 33 chiếc F-15C đã diễn ra vào cùng năm cho thấy F/A-22 chiến thắng với tỷ lệ 33:0. Ở cả 2 trận chiến thử này thì trung bình cứ 1 F/A-22 hốt 4 em máy bay địch trong khi vẫn không bị phát hiện và thiệt hại 1 em nào.
Posted Image

Posted Image

Posted Image

Những điều cơ bản nhất về tàng hình:
Tàng hình chính là tính năng làm vinh danh F/A-22 so với những chiếc máy bay khác trên bầu trời. Trước khi nói về F/A-22 , chúng ta hãy tìm hiểu những điều cơ bản nhất về tàng hình, tính năng được giới thiệu đầu tiên trên 2 chiếc máy bay F-117 Nighthawk và B-2 Stealth Bommer (giá khoảng 2,5 tỷ đô nếu bạn còn nhớ).
Posted Image
Thực ra thì từ tàng hình ở đây chỉ được áp dụng với radar chứ không phải là mắt loài người chúng ta. Để phát hiện mục tiêu, rada sẽ bắn những chùm sóng radio ra xung quanh và chờ tín hiệu phản hồi về để biết mình đang gặp vật thể gì. Khi đập trúng máy bay, sóng radio sẽ phản hồi lại trạm phát và hiển thị dưới dạng những đốm sáng, máy bay càng lớn thì đốm sáng sẽ có kích thước tương ứng. Vì sóng radio có phạm vi phát rộng nên những vật thể khác trên bầu trời như chim hay đàn vịt trời cũng được hiển thị lên màn hình.

Chính vì đặc điểm này mà tất cả những máy bay đều được thiết kế để giảm thiểu tối đa khả năng bị radar phát hiện, có thể bằng cách làm cong sóng radio hay hấp thụ nó để sóng không thể quay ngược trở lại ăng ten phát. Với những phương thức này, máy bay không thể bị phát hiện cho đến khi nó tiến lại gần mục tiêu hoặc dễ dàng bị hiểu lầm như 1 đàn vịt trời vô hại! Các nhà thiết kế có thể sử dụng nhiều phương thức khác nhau để đạt được mục đích, từ việc dùng những cạnh răng cưa bất quy tắc, một sự kết hợp giữa bề mặt cong với những mẹo nhỏ khác để làm cong tia radio khi đi qua máy bay cho đến việc sơn máy bay dày hơn để hấp thụ hết sóng radio.

Tàng hình như F/A-22:
F/A-22 Raptor là thành quả tiên tiến nhất của quân lực Mỹ và họ đã sử dụng tất cả những bài học thu được từ các sản phẩm đi trước để tạo ra nó. Và bạn biết sao không? kích cỡ của F/A-22 trên màn hình radar chỉ nhỏ bằng 1 chú ong thợ mặc cho kích thước thật dài gần 20m.
Posted Image
Các hình khối của F/A-22 khá giống với chiếc máy bay F-117 Stealth Fighter với những đường cong trên bề mặt làm bằng radii dễ dàng bị biến đổi. Chính những đường cong này đã làm phân tán sóng radio ra xung quanh thay vì phản hồi trở lại ăng ten của rada. Tuy nhìn có vẻ vuông vắn nhưng thực tế thì trên F/A-22 không hề có bất cứ một góc vuông nào ở bên ngoài, các góc phía ngoài buồng lái, cửa che chân càng máy bay cũng như những cửa khác đều được thiết kế răng cưa để đánh lừa rada. Những bộ phận như cánh chính và cánh sau đều được chế tạo thẳng tắp để chúng trở nên nhỏ nhất có thể khi hiển thị trên dara của đối phương.

F/A-22 có 2 ống hút cho động cơ phản lực ở mặt trước, giống với chiếc F-15. Tuy nhiên, nếu như ống này trên F-15 là nguyên nhân khiến nó dễ bị rada phát hiện thì ở F/A-22, các nhà sản xuất đã khéo léo tạo cho nó một góc đặc biệt giống như 1 bộ phận của cơ thể để lẩn tránh rada. Hơn nữa, các ống này cũng giấu ăng ten của máy bay bên trong nhằm bảm đảm tính tàng hình của nó.
Posted Image
Như cảm thấy chưa đủ, các kỹ sư đã sử dụng những lớp sơn đặc biệt trên F/A-22 để giúp nó hấp thụ sóng rada và buồng lái cũng được tối ưu hóa để hạn chế rada đối phương phát hiện ra nón của phi công.

Ngoài việc sử dụng sóng radio thì người ta còn dùng các cảm biến để phát hiện hồng ngoại tỏa ra từ nhiệt lượng của động cơ máy bay, qua đó sử dụng những quả tên lửa tầm nhiệt để hạ gục nó. Trên F/A-22 thì người ta sử dụng rãnh ngang phía sau để chặn sự phát xạ này, giữ cho nhiệt độ trong động cơ của F/A-22 tỏa ra là thấp nhất. Tất nhiên, cũng như các máy bay khác thì rãnh này cũng đóng vai trò tăng tính di động cho F/A-22. Hơn thế nữa, F/A-22 còn được chế tạo để có thể mang tên lửa bên trong thân, khắc phục nhược điểm dễ bị phát hiện khi mang tên lửa ở 2 cánh như F-15 và F-16.

Đông cơ siêu mạnh:
Posted Image
Đây là hình ảnh thật từ phía sau F/A-22 khi đang bay với toàn sức mạnh

Các động cơ hiện tại sử dụng buồng đốt phụ (buồng đốt sau-afterburner) để đạt đến tốc độ âm thanh nhưng F/A-22 lại là chiếc máy bay đầu tiên của Mỹ có thể đạt đến tốc độ âm thanh mà không cần đến loại buồng đốt này. Buồng đốt sau là 1 phụ kiện nằm phía sau động cơ, có tác dụng đẩy nhiên liệu vào hệ thống xả để đốt cháy hết lượng ôxy còn lại nhằm đạt tốc độ cao hơn. Hệ thống buồng đốt sau giúp máy bay tăng tốc rất nhanh trong thời gian ngắn, đặc biệt hữu hiệu khi cất cánh hay những tình huống chạm trán tay đôi (dog flight) giữa các máy bay chiến đấu với nhau nhưng nó lại tiêu tốn rất nhiều nhiên liệu. Những máy bay dùng buồng đốt sau sẽ bay nhanh hơn tốc độ âm thanh rất nhiều nhưng lại có tầm hoạt động ngắn hơn động cơ không sử dụng công nghệ này. Khi không dùng afterburner thì tốc độ của F/A-22 cao gấp 1,5 lần âm thanh (Mach 1.5) nhưng khi dùng thì cao gấp 1,8 lần. Thực tế thì 1 vị tướng Mỹ từng cho biết tốc độ F/A-22 có thể lên tới Mach 2.4 nhưng các thông số chính thức về tốc độ tối đa của nó chưa từng được công bố chính thức.

Mỗi 1 động cơ F119-PW-100 mà F/A-22 sử dụng có thể tạo ra 1 lực đẩy lên tới 35.000 pound, một bước tiến so với khoảng 25.000-29.000 mà mỗi động cơ trên F-15 có thể tạo ra. Kết hợp với thiết kế khí động học thì động cơ này sẽ giúp F/A-22 Raptor đạt đến tốc độ âm thanh nhưng vẫn sử dụng ít nhiên liệu hơn bất cứ máy bay nào. Điều này đồng nghĩa với F/A-22 sẽ tiếp cận mục tiêu nhanh hơn và có quãng đường bay xa hơn so với bất cứ máy bay chiến đầu nào khác. Hơn nữa, F/A-22 còn có thể mang theo nhiều bom hơn vì nó không cần phải chứa nhiều nhiên liệu nhiều như F-15 hay các máy bay đời trước.

Động cơ đẩy theo nhiều hướng:
Posted Image
Ở cuối các động cơ máy bay thường có 1 ống phun luồng khí thải nóng (ống phụt) ra khỏi bản thân động cơ và buồng đốt sau. Thông thường thì ống này luôn phun trực tiếp ra ngoài nhưng ống của F/A-22 lại khác, nó là loại đầu tiên trên thế giới có khả năng phun theo vertor (vertoring nozzle), tức là phi công có thể di chuyển ống phụt này lên và xuống khoảng 20 độ.

Và bởi vì luồng khí nóng xả ra từ động cơ giúp cho đầu máy bay di chuyển lên và xuống, việc áp dụng ống phun vector đã giúp tăng tỷ lệ xoay tròn (roll rate) của F/A-22 lên 50%, biến nó thành một chiếc máy bay chiến đấu linh hoạt nhất mà người ta từng sản xuất. Hệ thống đẩy vector của F/A-22 được tích hợp bên trong hệ thống điều khiển nên nó sẽ tự động xử lý để phản hồi lại mọi yêu cầu của phi công rất dễ dàng. Ống phun sẽ được máy bay điều khiển theo chiều mà bộ nâng (elevator - điều khiển máy bay lên xuống), bánh lái (rudder - cho máy bay sang trái hoặc phải theo chiều dọc) hay cánh liệng (aileron - xoay máy bay theo chiều ngang) mong muốn. Ngoài ra, 2 động cơ F119 sẽ giúp F/A-22 có tỷ lệ sức đẩy/trọng lượng (thrust to weight) cao hơn, đồng nghĩa với việc siêu máy bay này sẽ tăng tốc và vận động cực kỳ nhanh.

Sức mạnh của hệ thống điều khiển:
Các phi công máy bay chiến đấu hiện đại sử dụng 2 hệ thống điện tử và hệ thống hướng dẫn để bay và truy tìm kẻ thù. Theo cách sắp xếp thông thường, 2 hệ thống này hoạt động độc lập bên trong buồng lái và buộc phi công phải điều khiển toàn bộ thông tin hoàn toàn riêng biệt.
Posted Image
F/A-22 là một chiếc máy bay tiến bộ, chính vì vậy mà nó được thiết kế để 1 phi công có thể điều khiển toàn bộ những công việc trong buồng lái, vượt trội hơn rất nhiều so với loại máy bay đòi hỏi 2 người điều khiển như F-14 Tomcat và F-15 Strike Eagle. Hệ thống điện tử của F/A-22 là hệ thống đầu tiên trong lĩnh vực hàng không tích hợp sẵn radar, quản lý vũ khí và quản lý thông tin cho hệ thống điện chiến tranh vào trong hệ thống lái.

Tất cả những thông tin đằng sau hệ thống điều khiển đột phát của F/A-22 được điều khiển bởi 2 con chip xử lý tích hợp chung (CIP - common integrated processor), từ các cảm biến cho đến vũ khí. Hiện tại thì khi vận hành ở chế độ tối đa thì F/A-22 cũng chỉ tiêu tốn 75% năng lực xử lý của 2 chú CIP này nên khả năng mở rộng của F/A-22 vẫn còn rất lớn. Thậm chí là trong trường hợp cần thiết thì các kỹ sư cũng đã để sẵn 1 lỗ trống cho con chip CIP thứ 3, cải thiện hơn 200% năng lực xử lý so với bình thường. Và trong trường hợp bạn có thắc mắc thì 1 con chip CIP này mạnh tương đương với 2 siêu máy tính Cray của IBM và to hơn 1 chút so với chiếc TV 20 inch.

Bên trong buồng lái:
Bên trong buồng lái của F/A-22 là một hệ thống điều khiển “all glass cocklit” đầu tiên được áp dụng cho các máy bay chiến đấu chiến lược, tức là nó cho phép màn hình máy tính hiển thị toàn bộ thông tin trên đó. Hệ thống này khá phổ biến ở các máy bay dân dụng nhưng máy bay chiến đấu thì F/A-22 là chiếc đầu tiên được áp dụng.

Buồng lái F/A-22 tích hợp hệ thống điều khiển HOTAS (hands-on throttle and stick control), cho phép phi công điều khiển toàn bộ máy bay mà không cần di chuyển ra khỏi hệ thống điều khiển. F/A-22 cũng có hệ thống buồng lái đầu tiên trên thế giới tương thích với kính nhìn ban đêm và màn hình hiển thị ngay trên kính của phi công (Heads-up display). Điều này đồng nghĩa với phi công sẽ có thể theo dõi toàn bộ thông tin về mục tiêu, vũ khí của máy bay và quan sát hệ thống khóa mục tiêu ngay trên kính của mình. Phi công sẽ quản lý thông tin cho tương tác, hệ thống lái tự động và hệ thống điều hướng trong một cụm riêng trên đỉnh của panel hướng dẫn mà họ gọi là ICP (integrated control panel)

Bên trong buồng lái F/A-22, chúng ta sẽ thấy tổng cộng 6 màn hình LCD. Màn hình chính là 1 màn hình vuông có kích thước 8 inch x 8 inch cung cấp thông tin, tình huống chiến lược cả ở mặt đất và bầu trời, tức là bao gồm cả nhưng mối nguy hại tiềm tàng, những mục tiêu ưu tiên cũng như hệ thống tracking (theo dấu). 2 màn hình khác nhỏ hơn trình diễn các giao tiếp, điều hướng, nhận diện và thông tin về chuyến bay. 3 màn hình cuối cùng thể hiện những nguy hại trên bầu trời, nguy hại dưới mặt đất và các dữ liệu quản lý.

Mục tiêu của hệ thống điều khiển này là giữ cho phi công quan sát mọi tình huống đơn giản nhất có thể, họ sẽ thấy kẻ thù là 1 tam giác màu đỏ, đồng minh là vòng tròn xanh, các máy bay chưa xác định rõ sẽ hiển thị dưới dạng hình vuông vàng trong khi tên lửa chống máy bay là hình ngũ giác. Trong trường hợp phi công đã khóa mục tiêu cần hạ gục thì tam giác đỏ sẽ được tô đầy, dễ dàng nhận diện hơn. Hệ thống quan sát của F/A-22 đạt tỷ lệ nhận diện chính xác các loại máy bay trong tầm ngắm của mình lên tới 98%, các thiết bị không nhận diện được sẽ bị đánh dấu vàng.

Hơn thế nữa, các máy bay F/A-22 có thể thiết lập một hệ thống kết nối không dây nhằm chia sẻ với nhau những dữ liệu chiến thuật mà chúng thu thập được mà không cần dùng thời radio. Một phi công lái F/A-22 hoàn toàn biết được số lượng đạn dược, nhiên liệu mà những máy bay yểm trợ cho mình mang theo mà chẳng cần nói ra, tăng thêm độ bảo mật. Ngay cả những mục tiêu mà 1 chiếc F/A-22 nhìn thấy cũng được chia sẻ với những chiếc khác. Không đóng cửa tự chơi với nhau, F/A-22 còn giao tiếp với hệ thống cảnh báo và điều khiển (AWACS -Airborne Warning & Control System) từ các máy bay do thám để tải dữ liệu về.

Radar của F/A-22:
Posted Image
Hệ thống radar của F/A-22 cho chiếc máy bay này một khả năng tuyệt vời: nhìn thấy đầu tiên, bắn đầu tiên và hạ gục đầu tiên (first-look, first-shot, first-kill). Bạn có hiểu điều này có nghĩa gì không? F/A-22 sẽ phát hiện ra mục tiêu, hạ gục nó và phi công bên kia chưa hề biết tại sao mình chết!

F/A-22 Raptor có 1 hệ thống radar dành riêng cho nó là AN/APG-77, một hệ thống sử dụng các ăngten điện chủ động tích hợp hơn 2000 mô đun truyền tải/nhận diện. Với những mô đun này thì F/A-22 dư sức cung cấp đầy đủ các thông tin về những mối nguy hại xung quanh trong khi các máy bay đối thủ còn đang tung tăng tưởng rằng mình an toàn.

Tự cung cấp thông tin cho mình chưa làm các kỹ sư chế tạo ra F/A-22 hài lòng, họ thậm chí còn trang bị cho radar APG-77 khả năng gây nhiễu hệ thống điện tử của đối phương (tập trung hết cảm biến lại phát cùng lúc cho máy bay kia thu nhiều quá xử lý không nổi mà chết) cũng như thiết lập các giao tiếp truyền thông không dây với đồng minh qua một đường bảo mật riêng. Và cũng để ngăn chặn khả năng khă năng bị địch chặn thì ăng ten của APG-77 sẽ thay đổi ở tần số hơn 1000Hz (hơn 1000 lần mỗi giây).

Theo bạn thì như thế là đủ để vô địch chưa? Nếu câu trả lời là rồi thì có lẽ bạn chưa bao giờ khao khát sự hoàn hảo! Radar trên F/A-22 cũng đồng thời trang bị khả năng đáp trả đối phương thông qua những cảm biến cảnh báo radar và nhận diện tên lửa. Khi phát hiện ra kẻ địch đang khóa mục tiêu vào mình bằng hệ thống dẫn đường hay nhận diện nhiệt lượng thì radar F/A-22 sẽ tạo ra những tia lóa để lừa cảm biến nhiệt độ và bắn ra những hạt nhỏ phản chiếu đánh lừa radar đối máy bay đối phương và hệ thống dẫn đường bằng radar của tên lửa.

Vũ khí?
Posted Image
Giấu vũ khi trong khoang bụng để tăng khả năng tàng hình

Trong phải là 1 máy bay thả bom nên bạn đừng mong F/A-22 sẽ mang nhiều bom mà nhong nhong khắp nơi. Những gì nó trang bị chỉ là 6 quả tên lửa không đối không AIM-120C được điều khiển bằng radar. Trong trường hợp tấn công mặt đất thì 4 quả AIM-120C có thể thay bằng 2 quả bom thông minh nặng 1000 pound GBU-32 Jount Direct Attack Munition. Tất cả những vũ khí này nằm trong ổ bụng của F/A-22 để chống radar còn 2 khay nhỏ 2 bên máy bay sẽ giữ 2 quả tên lửa tầm nhiệt không đối không AIM-9 Sidewinder có tầm bắn ngắn hơn AIM-120C. Ẩn giấu ở bên phải F/A-22 còn có 1 khẩu cannon M61A2 chứa 480 viên đạn 20mm. Cứ mỗi giây thì khẩu súng này xả được 100 viên đạn nên chỉ dùng được 5 giây mà thôi. Nếu nhiệm vụ nào không cần bí mật thì F/A-22 sẽ được trang bị thêm vũ khí và nhiên liệu ngay dưới cánh.

Hiện tại thì Mỹ cũng đang thực hiện rất nhiều nghiên cứu để nâng cao sức sát thương của F/A-22, có tin đồn họ đang đặt mua các tên nửa AIM-120D xịn hơn 120C để nâng cấp cho nó.

Tổng hợp từ HowStuffWork, Wikipedia và FAS
 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved