.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ VĂN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ VĂN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng

Người Viết Bóng giai nhân

Written By kinhtehoc on Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012 | 23:20


Vừa qua, trên số Báo VNCA số 173 có đăng bài “Ai là tác giả Bóng Giai nhân”  của chú nhà thơ Hoàng Cầm, do tôi-Lâm Bích Thủy, con gái của nhà thơ Yến Lan giới thiệu.   

Sau bài viết có lời của Tòa soạn:  “Dẫu sao đây cũng mới chỉ là thông tin từ một phía. Tòa soạn mong nhận được sự trao đổi của các nhà nghiên cứu và các độc giả...

Xin lỗi đọc giả, nói gì cũng không bằng, chính tự tác giả nói ra. Nhà thơ Yến Lan đã bằng Hồi ký “Chiều chiều mây kéo về kinh”; ông tường thuật đầy đủ quá trình viết “Bóng Giai Nhân” của mình.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc và các nhà nghiên cứu:   

Chiều chiều mây kéo về kinh

Sau một chuyến đi dài vào mảnh đất tận miền Tây Tổ quốc, tôi trở về quê, lòng chưa ráo nỗi nhớ đường, nhớ sá, thì trời đã chớm sang thu. Khắp khu đất nội thành Bình Định mênh mông, mùa gòn đang tách vỏ. Những tiếng ve sầu còn sót lại, vẳng lên khí đìu hiu. Lòng tôi cũng lơ lửng như những múi bông gòn trên chớp nóc nhà dân xiu vẹo, trên những mái cong dinh thự rêu phong. Thư viết cho bè bạn, lúc nào cũng nói đến nỗi ray rứt muốn được tiếp tục đi xa.

Một buổi sáng tôi nhận được bức thư của người bạn gái, quen nhau hôm ở Hà Tiên, do chị Mộng Tuyết giới thiệu. Vì là bạn thân, chị biết tôi đang sống khó khăn, hàng ngày đối phó với một bà dì ghẻ khó tính, những sự vụn vặt ngày thường choán hết hứng khởi sáng tạo. Chị tán thành và khuyên tôi nên thay đổi không khí. Bức thư kèm theo giấy chuyển tiền đủ chi dùng cho một cuộc đi dài và nếu lâm vào cảnh lữ thứ, có thể sống trong vài tháng. Thế là tôi chuẩn bị một cuộc ra đi, cũng chưa rõ là đi đâu. Tiếp đến hôm sau thì tôi nhận được một bức của Vũ Trọng Can.

Lâu nay Can vẫn thường viết cho tôi, nhất là những ngày Can ở trong tòa soạn “Tiểu thuyết thứ năm”, từ Hà Nội. Bức thư này lại từ Huế, đại khái như sau: Báo chết rồi, bọn Can đang chuyển sang hoạt động sân khấu. Đang thành lập một Ban kịch với chương trình sẽ đi biểu diễn từ Bắc vào Nam. Hiện “Cập bến Bông Hương”. Nếu Yến Lan thích cuộc sống lưu động để tiêu sầu này, thì ra gia nhập với bọn mình…”

Đọc thư, tôi ngồi tưởng tượng… tưởng tượng… bao nhiêu kỳ thú, sôi động, hào nhoáng và mê ly… Cả một cuộc sống lan tỏa hoa đăng… cả một kho dự trữ và luyến ái và thi tứ. Và tôi quyết định nhập cuộc. Nhưng cũng phải đề phòng, nếu đó chỉ là câu chuyện bốc đồng? Nhưng lòng muốn ra đi luôn luôn thôi thúc, tự nhiên tôi nghĩ đến cái phương châm “đến đâu hay đó” khi nhỡ ra là những chuyến tàu suốt vào Nam ra Bắc hàng ngày đều tránh nhau ở ga Bình Định. Và tôi nghĩ: hãy lên ga cái đã – hễ tàu ra bán vé trước thì ta ra, và ngược lại…
Hôm ấy tàu ra đi trước, vừa khi lên tàu, tôi nhờ một người bạn đưa chân, đánh điện cho Can.
Tôi đến Huế vào khoảng hơn 8 giờ đêm. Cả “Ban kịch” đều ra đón tôi, gồm có Vũ Trọng Can, Nguyễn Bính và một chàng thanh niên. Sáng hôm sau tôi mới biết chàng trai này thuộc về loại đi theo điểu đóm. Ngoài ra, không còn gì nữa.
Lần đầu tiên mới gặp Nguyễn Bính – trước thì cũng chưa có thư từ, quan hệ gì. Chúng tôi nắm tay, bá cổ nhau, chào mừng rối rít. Và Huế… Huế, vừa mới chạm lên vài sải bước chân, sao đã nghe thấy dậy trong lòng nỗi êm dịu, ngọt ngào khó tả.
Bốn chiếc xe tay do Nguyễn Bính chỉ dẫn, đưa bốn người chúng tôi từ cửa ga đến tận Gia Hội, đỗ ở trước một hiệu ăn khá lớn. Cơm, rượu no nê, bốn chiếc xe lại đưa chúng tôi về nhà trọ ở bên kia cầu Tràng Tiền, cách Đập đá chẳng bao xa.
Ông chủ nhà trọ ra mở cửa, dáng điệu bực bội và khi nhìn thấy tôi, thốt những câu gì làu bàu, không rõ. Tôi tinh ý, biết ngay là có sự phiền hà.
Nhà trọ đây không phải là lữ quán chứa tạm khách lai vãng một vài hôm. Nó là một căn nhà thờ họ, người kế thừa nhận cho trọ lâu dài và nấu cơm tháng.
Phòng trọ chứa nửa của “Ban kịch”, nhưng khi có tôi thêm càng chật ních. Đêm ấy tôi nằm bên Vũ Trọng Can, thao thức mãi vì cứ nghĩ lan man.
Tôi đâm ra trách người rồi trách cảnh. Huế ơi, sao trước đây vài giờ, qua những bước đầu tiên tôi đặt xuống sân ga, Huế hồn nhiên, kiều lệ, dồn lên tâm hồn tôi bao nhiêu êm dịu, ngọt ngào, thế mà giờ đây, một không khí phiền hà, lãnh đạm đang chập chờn phủ tới.
Tôi đem nỗi dằn vặt ấy hỏi, Vũ Trọng Can thì thầm:
- Cũng là điều đáng quan tâm, nhưng không can gì cái việc thường tình ấy. Ngày mai chúng ta sẽ tìm cách giải quyết, chúng mình đang thiếu ông chủ nhà một tháng tiền cơm, giờ thấy có thêm cậu nữa. Ờ mà thôi, rồi sẽ có cách… khẩn trương đấy, chiều nay ông chủ trọ đã báo là ngày mai sẽ cắt và đề nghị bọn mình dọn đi.
Nhân đó, tôi hỏi: Thế thì Ban kịch của cậu đâu? Hoạt động ra sao rồi? Can cố dấu cái thở dài, nuốt nghẹn ở cổ:
- Ban bệ, kịch cợm gì đâu. Bọn mình chán Hà Nội, nên rủ nhau đi du ngoạn một chuyến với ý định sẽ thành lập một ban kịch để làm cứu cánh về mặt tài chánh. Nghĩ đến cậu đang nằm khoèo ở tỉnh lẻ, mình viết thư gọi cậu ra chơi cho đỡ buồn.
Nghe xong tôi cũng nghẹn ngào ở cổ. Biết tôi không thích liều lĩnh – Can trấn an bằng cả một thôi dài tâm sự: Can đã nghĩ ra nhiều biện pháp xoay sở cho ra tiền. Can đã có ý định diễn kịch đảm nhiệm phần dàn dựng, quảng cáo, bán vé và thu tiền rồi chi cho nhau chỉ tiêu phần trăm quy định. Can cho biết cụ thể, việc Can đã tìm gặp và trao đổi với Hà Xuân Tế thư ký riêng của Nam Phương Hoàng hậu (thay chân cho Nguyễn Tiến Lãng đã đi nhận chức phủ thừa). Hà Xuân Tế lại là chủ tịch của Hội A.A.A (gọi là hội 3 chữ A) tên gọi tắt của một hội hoạt động thể thao thể dục. Thực ra nó là của ông Hoàng bà Chúa chọn riêng một môn quần vợt, cùng giao hữu với hạng công chức cao cấp. Can còn phải làm sao cho ra kịch bản và diễn viên là phần được phân nhiệm. Cuối cùng Can hỏi:
- Cậu còn bao nhiêu?
- Vừa tiêu phí nội ngày hôm nay, chỉ còn đủ trả một tháng cơm bình dân.
- Thế thì tốt. Ngày mai ta sẽ lấy tiền ấy tạm ứng cho ông chủ. Rồi sẽ vui vẻ cả thôi.
Sáng hôm sau, với tâm trạng một người “lỡ bước” tôi bỏ cuộc đi chơi núi Ngự, đã hẹn với Nguyễn Bính lúc ở tiệm ăn Gia Hội đề nghị khẩn trương họp nhau lại bàn qua chuyện diễn kịch. Chúng tôi ngồi lại trên mấy cố vấn trần, nghiêm chỉnh thảo luận. Qua sự trình bày của Vũ Trọng Can về mấy phác thảo các vở kịch nói Can định viết từ hôm rời Hà Nội đi vào, thì còn xa với yêu cầu đang đặt ra. Bàn sâu, tính rộng mãi, chúng tôi đi đến nhất trí: diễn thuật mới mà Huế là nôi thể nghiệm đầu tiên. Thực ra đó chỉ là những lời khoác lác để cười với nhau, chứ mục tiêu chính là ở chỗ cố làm sao cho hấp dẫn để có được khoảng thu kha khá, trang trải nợ nần và còn ung dung thưởng ngoạn. Để cho thật hấp dẫn, chúng tôi nghĩ đến những câu chuyện ly kỳ ở các huyền thoại, nhất là ở “Đông chu liệt quốc”, dựa vào dã sử hoặc hư cấu ra cốt truyện theo không khí dã sử. Nhân vật sẽ là những con người cá biệt cực đoan, tình huống phải thật éo le, tâm tư luôn dằn vặt. Và cũng để cho vở kịch đưa ra một giải đề gì về mặt nội dung, chúng tôi nghĩ ngay đến cái tư tưởng hủ bại đang còn ngự trị trong tầng lớp thượng lưu, luôn luôn tôn sùng quyền thế, chạy theo danh vọng mưu cầu một cuộc sống “Võng long xênh xang” đang còn nhan nhản ở Huế. Một điển hình người sẽ hiện lên sân khấu, xách gươm báu đi săn đuổi giật lấy vinh quang, đã thủ tiêu ân tình, phản bác đạo lý và tiêu ma cái đẹp. Đó là phác thảo đầu tiên do tập thể ba người góp nhau trong một buổi sớm. Cơm xong, tranh thủ bỏ giấc trưa, bàn tiếp luôn các chi tiết: Bí quyết làm cho gươm thêm thiêng (cái điều kiện duy nhất đưa đến vinh quang của một tráng sĩ cuồng ngông) là phải tôi gươm lần nữa vào máu ba người tình cờ gặp trên đường đi–theo lời thần mộng. Việc phác thảo này như một cuộc múa gậy trong phòng–Nhân vật nhất thiết phải lệ thuộc số người có sẵn, mà ngoài chúng tôi thì chắc gì có thể nhờ vào được ai? Loại trừ em thanh niên sẽ chạy vòng ngoài, cả ba thằng nhà văn, nhà thơ chúng tôi phải lãnh vai mà đóng. Thế thì vở kịch chỉ có ba nhân vật sao? Và toàn là nam giới cả thì còn đâu cái nhưng cái nhị của sự hấp dẫn? Biểu tượng của cái đẹp bị tiêu ma trong kịch sẽ là nhan sắc của một người con gái thùy mị, đoan trang.
Nguyễn Bính tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương với khá nhiều thiếu nữ, thiếu phụ mà anh từng gặp trên các nẽo đường phố của Huế…
Vũ Trọng Can cũng tả và kể ra những em Đào, em Lý, cô Mừng, cô Thương của mình, nhưng phải kết luận: có trời mà vận động cho các gia đình ở đây người ta đồng ý cho con, em mình tham gia lên sân khấu. Nhất là con gái. Thế là lâm vào thế kẹt.

Trước đó không lâu, Nguyễn Bính có sáng tác một bài thơ, nhan đề “Xóm Ngự viên”. Đó là bài thơ hay, được tán thưởng. Bính đã chép lại trên một tờ giấy nguyên khổ, giấy in báo, nét chữ to, bay bướm, treo trên tường trước mặt. Tình cờ tôi ngước lên, liền hỏi với một ý nghĩ bâng quơ:
- Xóm Ngự viên ở phía nào nhỉ. Hôm nào vào đấy xem cho biết.
Vũ Trọng Can bổng nhảy người lên
- Ngự viên, Ngự viên–đúng rồi. Ừ nhỉ, sao mình quên bẵng đi.
Rồi đột ngột Can đứng lên:
- Mình với Nguyễn Bính sẽ vào đó, có một cô gái lai Pháp, mồ côi từ nhỏ. Hiện bán chè rao nuôi mẹ. Nhất định sẽ thuyết phục được. Cô ta sẽ là nhân vật biểu tượng xứng đáng cho cái đẹp trong vở kịch.
Rồi hai người lội bộ ra đi. Mấy giờ sau tin về, phấn khổi, cô gái rất đẹp, không đề ra điều kiện khó khăn nào, duy có một điểm làm cho tôi ngẩn ngơ giây lát, là cô ta mù chữ. Sau việc báo tin đến việc bàn biện pháp khắc phục. Đành sử dụng sắc đẹp của cô gái thôi, và sắc đẹp cần gì phải thốt lên lời mới gây được đắm say, mới quyến rũ. Một vẻ buồn của Tây Thi xưa cũng đủ khiến nghiêng thành, nghiêng nước. Chính vì vậy mà vai người đẹp trong vở kịch không thốt một lời nào. Trong các luận bàn, tội là người hăng say nhất, vì mình thế thôi thúc: đã đến Huế rồi, phải tạo điều kiện để ở cùng Huế cho đã cơn khát Huế, dù chỉ là bằng những ngụm nước vốc lên từ mặt sông Hương. Không có sự phân công, không có cuộc tranh phần, mặc nhiên tôi thành người chấp bút.

Chẳng cần phải tra cứu, đối chiếu gì. Nó như được sắp xếp lớp lang sẵn ở một bản nháp, giờ chỉ có việc chép lại, nên vở kịch hoàn thành vào cuối buổi sáng hôm sau. Buổi chiều đưa bản thảo ra duyệt, bổ sung và có gì cần thì tập thể chỉnh lý. Vừa mới bắt đầu đã thấy Chu Ngọc bước vào. Ngọc là người am hiểu nhiều về sân khấu. Anh vốn là đạo diễn và từng làm trưởng Ban những ban kịch nói thỉnh thoảng xuất hiện vào mùa kịch ở Hà Nội, vở kịch được thông qua nhanh. Chỉ có đôi lúc nảy ra vài cuộc cãi cọ giữa tôi và Nguyễn Bính về phong cách và ngôn ngữ. Bính chê văn ngôn quá Tây bắt chữa lại mấy chỗ. Tôi tự ái, bỏ đi cùng Chu Ngọc ra hóng mát cầu Tràng Tiền. Chiều về, không có bàn cãi gì về vở kịch nữa. Vũ Trọng Can bàn với tôi là rủ đi ngay đến Hà Xuân Tế và được hẹn sáng mai sẽ trả lời, vì còn cần đọc.
- Vì có Hoàng Đế dự xem. Nếu vở kịch thêm một vài đoạn có tính cách tôn vinh thì nhất định sẽ nhiều đặc ân cho các hoạt động sau này. Các anh mang và bổ sung cho khéo léo một chút. Tôi biết đây là một xảo thuật trong nghề làm quan, vị thư ký riêng của Hoàng hậu này ứng dụng nhạy bén cho tiền đồ. Thì cứ để anh ta như nguyện, có gì xúc phạm đến nghệ thuật, đến mình đâu mà chối từ. Tôi liền vui vẻ nhận lời, nhưng không đợi đến lúc về nhà, tới ngay bàn làm việc, loáy hoáy một thôi, thêm được chục câu thơ mang tính cách tôn xưng chung chung, hướng về một ông minh quân đó.

Hai hôm sau thì giữa lòng Huế xôn xao lên vì những áp phích, những tờ quảng cáo cho vở kịch, dán ở các công trình công cộng và các mặt tường nhà thoáng rộng. Nhất là ở các ngã tư đại lộ, những biểu ngữ bằng nguyên súc vải trắng, được dán lên những hàng chữ đỏ viết bằng tiếng Pháp:

Bóng giai nhân
Bi tráng kịch bằng thơ của Yến Lan và Nguyễn Bính
Sẽ trình diễn ở Accueil vào các đêm…
Dưới quyền chủ tọa của Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu.

Mặc dù đã trải qua những cơn hồi hộp vì hạnh ngộ ban đầu khi được nêu dưới những bài thơ đăng trên báo chí, tôi vẫn cảm thấy phấn khổi đến dạt dào. Riêng Nguyễn Bính thì anh lại hồ hởi với những ý nghĩ cuồng nhiệt trong vẻ cợt đùa nói tếu:
- Vua ông đi xem, vua bà đi xem, thế thì tam cung lục viện cũng đi xem. Rồi sáu bộ cũng tháp tùng. Chà, chà, cả Huế đều đi xem tất. Thế thì tiền vé để đâu cho hết. Chuyến này phải thả lên sông Hương sáu con đò két lại làm một khách sạn nổi… Ba con làm phòng ngủ, ba con chở theo bàn đèn, bia, rượu, nem, chả, chè, cháo… tha hồ mà lạc hưởng
Đấy là chuyện đùa vui, không có sự bàn cãi.

Trong mấy ngày tập luyện, tôi vẫn đến nhà Lành đạo diễn cho đến thuần thục, dù sao tôi vẫn tiếc, giá như Lành biết chữ, thì nhất định tôi sẽ cố gắng viết lại màn kịch thành chương tuyệt tác, điều ấy đòi hỏi ở tôi một cố gắng vượt bậc, nhưng xứng đáng với Huế, với một nhan sắc yêu kiều.
Cuộc biểu diễn đêm đầu–và cũng là đêm kết thúc không thu được kết quả như lòng tôi mong muốn. Diễn xuất có vẻ vội, không đạt tới mức chứa và tầm nâng của lời thơ. Về mặt tổ chức, Hội A.A.A bỏ rơi diễn viên trong cái thế chơi vơi của một khoang đồ thủng đáy. Không có một bàn tay tháo vát xếp đặt, bỏ sân khấu trống trơ giữa bốn cánh gà và lá màn hậu, mặc dù chúng tôi yêu cầu trang trí hết sức giản đơn theo lối tượng trưng. Cả một chiếc hòm to đựng các đồ lễ, vũ khí, mũ giày mượn từ trong nội cung ra, cũng không đáp ứng được yêu cầu. May mà bọn diễn viên chúng tôi không hiện ra sân khấu với những trang phục quá cỡ, tả tơi, meo mốc, nhờ biết đề phòng đã chạy trước từ sáng hôm ấy, đến nhà Nguyễn Tiến Lãng, mượn các Kimônô anh mang từ Nhật Bản về, nhân lúc tháp tùng theo phái đoàn ngoại giao của tên toàn quyền khâm sai Yue Chatel. Nhất là khoảng tiền thu: một hội trường có sức chứa gần ba nghìn người đã chật ních – Giá vé thấp nhất, năm hào, mặc dù đêm ấy Bảo Đại không đến xem vì có sự kiện đột xuất, chuẩn bị Bắc tuần, cả Nam Phương, cả viên Khâm sứ Pháp đều theo, nhưng cũng gởi đến gọi là “Ban tứ” cho đêm diễn, mỗi vị 15 đồng, cộng với số tiền quảng cáo cho cuộc xổ số Đông pháp cũng chừng 15 đồng, tiền vé 20 đồng.
Sau này người ta đổ cho việc lạm phát giấy mời. Chúng tôi vở mộng–nhất là Nguyễn Bính với viễn cảnh sáu con đò… Nhưng có một điều an ủi mà cho đến bây giờ, mỗi lần nhắc đế, tôi vẫn không quên được từng chi tiết, dù là thoáng qua: Giữa lúc màn kịch cuối cùng hạ nhanh, khán giả sắp lưng vào phía sân khấu chen nhau cuồn cuộn như một dòng nước thoát ra phía cửa, thì các anh Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh và vài bạn nữa vượt lên sân khấu, đến cầm tay siết chặt từng người. Anh Lư nói bằng tiến Pháp “Tuyệt, tuyệt, tuyệt vời” không biết anh khen ngợi một pha nào trong lúc diễn xuất, hay khen vở kịch, về tình huống đầy kich tính, về bút pháp bay bướm văn chương, mà lúc ấy đang là những năm vừa mới thoát ra sự phôi thai của nền thơ mới Việt Nam.
Khi rạp đã trở lại vắng vẻ “Bóng giai nhân” đã biến đi lúc nào không hay, Nguyễn Bính cũng đi rồi. Tôi và Vũ Trọng Can thu nhặt hết các dụng cụ, đồ trang phục cho vào chiếc hòm gỗ to, và..
Mỗi người nâng lên một quai hòm, hai chúng tôi ì ạch kéo lê bốn cẳng chân rời rã, mỏi mệt, dầm dưới cơn mưa đêm cuối hạ của Huế, lần bước cho đến khuya mới đến cửa nhà trọ. Ông chủ ra mở cửa, thò tay nâng cho chiếc quan tôi đang xách, như đã cảm thông tất cả nỗi niềm đang đè nặng lòng tôi.
Sáng hôm sau, tôi ra An Cựu tìm gặp lại người bạn học cũ ở Bình Định, tình cờ gặp nhau giữa đường hôm nọ, tôi hỏi vay hai đồng bạc – số tiền vừa đủ cho xuất vé và đĩa cơm trong chuyến tàu suốt vào Nam, sẽ trả tôi về với cái không khí cô liêu cố hữu từ xưa, ngày ngày nghe vẳng lên một câu hát ru con, không biết do tình huống nào mà có, giờ lại nhằm đúng vào tâm trạng của tôi:

Chiều chiều mây kéo về kinh
Ếch kêu giếng loạn thảm tình đôi ta.

Kỷ niệm sinh nhật năm 1988


Lâm Bích Thủy

Thử phân biệt truyền thuyết và lịch sử

Written By kinhtehoc on Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012 | 23:46

Thử phân biệt truyền thuyết và lịch sử

Võ Phúc Châu

4
1. Truyền thuyết và lịch sử có phải là một?
1.1. Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng từng khẳng định: “Truyền thuyết không phải là lịch sử”[1]. Đặng Văn Lung cũng nhấn mạnh: “Nói chung, những người nghiên cứu đều biết rằng, truyền thuyết là truyền thuyết, lịch sử là lịch sử, không thể đồng nhất được”[2]. Như vậy, vấn đề phân biệt truyền thuyết và lịch sử thiết tưởng đã rõ. Chúng được tiến hành bởi chính các nhà sử học lẫn phônclo học.
Tuy nhiên, đàng sau những nhận định (tưởng chừng đơn giản) này ẩn tàng cả một “nghi án”: phải chăng ai đó vẫn còn (hoặc đã từng) đồng nhất, nhầm lẫn truyền thuyết với lịch sử?
1.2. Thực tế quả cho thấy, việc đồng nhất và nhầm lẫn ấy đã xảy ra. Đơn cử, khi đọc loạt bài bàn về văn bản truyện Mị Châu – Trọng Thủy, Đặng Văn Lung cho rằng một số tác giả “…thường đồng nhất truyền thuyết với lịch sử, lấy truyền thuyết làm lịch sử, thậm chí có người đã đồ truyền thuyết lên lịch sử, sửa lịch sử lại cho đúng với truyền thuyết”[3]. Hay khi lật lại các giáo trình Lịch sử, viết về “nạn cống vải” dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722, GS. Kiều Thu Hoạch phải cất lời “trung ngôn nghịch nhĩ ”[4]: “Theo chúng tôi, trong các sách lịch sử, vẫn có thể nói đến chuyện “cống vải” như là một truyền thuyết dân gian địa phương, nhưng dứt khoát phải coi đó là truyền thuyết chứ không phải là lịch sử”[5].
Vậy là, cả lý thuyết lẫn thực tế đều cùng đặt ra yêu cầu bức thiết cho người nghiên cứu: phải tiếp tục phân biệt rõ ràng truyền thuyết và lịch sử.
2. Tại sao có sự nhầm lẫn giữa truyền thuyết và lịch sử?
Trả lời câu hỏi trên cũng tức là quay lại làm cuộc khảo sát, đối sánh, bắt đầu từ các khái niệm (truyền thuyết là gì? lịch sử là gì?) cho đến mối quan hệ (thời điểm ra đời, cách thức tồn tại; sự xâm nhập lẫn nhau giữa truyền thuyết và lịch sử...).
2.1. Truyền thuyết là gì? Có nhiều cách phát biểu khác nhau, nhưng tựu trung, truyền thuyết là những tự sự dân gian có cái lõi lịch sử; màu sắc ít nhiều huyền ảo; nội dung kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử theo quan điểm và tình cảm của nhân dân. Nói cách khác, truyền thuyết là những tự sự dân gian được kết tụ từ hai yếu tố: lịch sử hư cấu. Truyền thuyết bao gồm nhiều nhóm: truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết thần tổ ngành nghề, truyền thuyết địa danh… Trong đó, mang đậm yếu tố lịch sử và tiêu biểu cho đặc điểm thể loại chính là nhóm truyền thuyết lịch sử.
Còn Lịch sử là gì? Từ điển Tiếng Việt định nghĩa Lịch sử là: “Khoa học nghiên cứu về quá trình phát triển của xã hội loài người nói chung, hay của một quốc gia, một dân tộc nói riêng”[6]. Tạm thời, chúng tôi chưa sử dụng định nghĩa này. Vì một khi đã trở thành khoa học, lịch sử tự mất đi không gian gần gũi, giao thoa với truyền thuyết. Nó đã nằm ngoài phạm vi khảo sát của bài viết.
Chuyển sang những định nghĩa khác. N.A. Eârôphêep cho rằng: “Theo nghĩa rộng, lịch sử, nói chung, có nghĩa là bất cứ một sự mô tả nào (ví dụ: lịch sử động vật, lịch sử thực vật,…).Theo nghĩa hẹp, người ta quan niệm lịch sử là câu chuyện kể về những gì xảy ra trong quá khứ”[7]. Nhấn mạnh phương thức tồn tại, Trần Quốc Vượng cho lịch sử là câu chuyện “kể lại những bước đi của con người, sự việc thực được ghi lại bằng chữ viết”[8]. Chú trọng mục đích, chức năng của sử, các nhà soạn sách giáo khoa giải thích: “Sử là tác phẩm viết về các sự kiện và nhân vật lịch sử. Mục đích của sử là ghi chép sự thật, không hư cấu như văn nghệ thuật, nhằm cung cấp những sự kiện lịch sử của dân tộc và bày tỏ thái độ khen chê của sử gia đối với các nhân vật lịch sử để đời sau lấy đấy làm gương”[9].
Cũng cần nói thêm, hình thức đầu tiên của những câu chuyện lịch sử là biên niên sử. Theo N.A. Eârôphêep, “Biên niên sử hoàn toàn có mục đích thực tiễn: lưu lại trong ký ức của nhân dân tất cả những gì lúc đó được coi là cốt yếu và quan trọng”[10]. Sau biên niênkỉ sự. Sách Ngữ văn 10 giải thích rõ hơn: “Sử xưa có hai thể: biên niên và kỉ sự. Biên niên là lối viết sử theo trình tự thời gian (Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư…). Kỉ sự là lối viết sử theo các sự kiện hoặc theo từng sự việc của nhân vật lịch sử. Thể kỉ sự có ba tiểu loại: Bản kỉ (ghi chép về các vua), Liệt truyện (ghi chép về các bề tôi), Chí (ghi chép cả về vua và bề tôi)…”[11].
Như vậy, chỉ xét khái niệm, truyền thuyết lịch sử và chuyện kể lịch sử đã có chỗ trùng hợp nhau: cùng là chuyện kể (thể tự sự), cùng kể về các sự kiện và nhân vật lịch sử (nội dung tác phẩm).
2.2. Việc đồng nhất hay nhầm lẫn truyền thuyết và lịch sử thực ra không hoàn toàn do thiên kiến của người nghiên cứu. Nó chủ yếu xuất phát từ mối quan hệ nhập nhằng, phức tạp của chính hai địa hạt này.
Hầu như ai cũng biết rằng truyền thuyết xuất hiện sớm hơn lịch sử. Trần Quốc Vượng từng diễn giải: “Khi chưa có khoa học và chữ viết thì lịch sử của dân tộc nào cũng mở đầu bằng truyền thuyết. Một khi đã có chữ viết, đã có khoa học, người ta không phải viện đến trí tưởng tượng nữa, khi cần kể lại những bước đi của con người, sự việc thực được ghi lại bằng chữ viết. Lịch sử tiếp tục truyền thuyết, không phải bằng tưởng tượng, mà bằng khoa học”[12]. Có điều, trước khi thực sự trở thành khoa học, do trùng hợp về chức năng nên lịch sử gần như hòa trộân vào truyền thuyết: “Chính mối liên hệ của truyền thuyết với lịch sử được biểu hiện rất rõ trên chức năng của nó. Các hình thái khác nhau thuộc các chức năng lịch sử, triết học và xã hội đã hợp nhất vào trong truyền thuyết, làm cho truyền thuyết vận động theo lịch sử, đẻ ra nhiều dị bản”[13]. Đâu chỉ vận động theo lịch sử, không ít truyền thuyết còn được chuyển thành chính sử. Ví dụ lịch sử thời Hồng Bàng: “Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ đã từ truyền thuyết dân gian đi vào chính sử”[14]. Mặt khác, truyền thuyết và lịch sử còn gắn chặt nhau lâu dài, nên sau khi được phân tách rồi, trong lòng thể loại này vẫn còn lưu giữ một vài đặc điểm, tố chất của thể loại kia.
Dưới đây là vài biểu hiện chứng tỏ sự gắn kết, xâm nhập khá phức tạp giữa chúng.
2.2.1. Truyền thuyết là thể loại văn học dân gian nhưng vẫn còn được gọi là sử dân gian, là dã sử. GS Ngô Đức Thịnh phát biểu: “Ở nước ta xưa kia vẫn tồn tại hai thứ lịch sử, một thứ lịch sử của người có học, tồn tại trên sách vở, văn tự ghi lại các triều đại, các chiến công, còn có một thứ lịch sử khác, của những người nông dân thất học, tồn tại qua các hồi ức lịch sử, được thể hiện trong truyền thuyết, cổ tích, qua đền miếu thờ cúng, qua lễ nghi, lễ hội…”[15]. Trái lại, một số nhà sử học thời trung đại ở phương Tây lại xem “lịch sử là một loại hình nghệ thuật, như thơ ca, nhạc và nhảy múa” Họ cho Cliô (con gái của nữ thần trí nhớ Mô-nê-mô-đi-na) là nữ thần của lịch sử. A-ri-xtôt cũng khẳng định rằng “nhà sử học và nhà thơ chỉ khác nhau ở chỗ: nhà sử học nói về những gì có thực đã xảy ra, còn nhà thơ thì nói về những gì có thể xảy ra. Vì vậy thơ ca có tính chất triết học và chân xác hơn lịch sử”[16].
2.2.2. Truyền thuyết là thể loại được quyền hư cấu nhưng bản thân câu chuyện luôn tạo được niềm tin, luôn gắn với niềm tin: “Cốt lõi của truyền thuyết thực sự là một đức tin”[17]. Trong khi đó, lịch sử có chức năng ghi chép sự thật, phải tôn trọng sự thật, nhưng khởi thủy, lại dung nạp cả những điều bịa đặt. Nhà sử học thế kỷ XVI, Vi-pê-ra-nô, trong quyển “Sách dạy cách viết sử”, từng coi lịch sử như một “câu chuyện có lí và được tô vẽ thêm”. Do chuyện kể lịch sử thời ấy “đầy rẫy những điều bịa đặt” nên nhiều nhà sử học đã phải “kêu gọi đồng nghiệp của mình chỉ nói sự thật”. Giô-han Xôn-xbơ-ri cảnh báo: “Nhà sử học dối trá sẽ chôn vùi cả danh tiếng lẫn tâm hồn bất tử của mình”[18]. Ngay trong sử thời Hồng Bàng của ta dường như cũng có hiện tượng này. Đặng Văn Lung từng viết: “Theo chủ quan tôi suy luận ra, thì truyền thuyết cái bọc trăm trứng là của dân tộc, nhưng đoạn đầu nói Lạc Long Quân là con Lộc Tục, và Lộc Tục là con vua thần nông, một vị vua mở đầu lịch sử Trung Quốc, theo sử cũ, thì đó là do các sử gia phong kiến thêm thắt vào (…) Lại lối đặt tên như những tên: Hồng Bàng, Hùng Vương, Lộc Tục, Kinh Dương Vương, Thần Long, Lạc Long Quân, Âu Cơ v.v… cũng là do các sử gia ấy bịa ra, đến cả những tên An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy cũng vậy”[19].
2.2.3. Nếu như truyền thuyết lịch sử bắt buộc có sự hiện diện của yếu tố lịch sử thì ngược lại, trong một số chuyện kể lịch sử vẫn còn xuất hiện chi tiết hư cấu - yếu tố đặc trưng của truyền thuyết. Ví dụ, trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên đã không bỏ qua những chi tiết kỳ diệu, hoang đường. Đây là đoạn ông kể thêm về Hưng Đạo Đại vương: “Sau khi ông mất rồi, các châu huyện ở Lạng Giang hễ có tai nạn, dịch bệnh, nhiều người cầu đảo ông. Đến nay, mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn”[20].
2.2.4. Hình thức tồn tại bắt buộc của lịch sử là trên sách vở, thông qua việc ghi lại bằng chữ viết (nên mới có khái niệm sử quan, chép sử, sử sách, sử xanh…). Tất nhiên, lịch sử được ghi chép không có nghĩa nó buộc phải đoạn tuyệt con đường truyền miệng. Trong những dịp cúng tế, lễ hội, người ta vẫn có quyền trích đọc sách sử về công đức các anh hùng. Và mọi người, bằng tấm lòng thành kính, có thể tiếp tục truyền tụng cho nhau câu chuyện về nhân vật lịch sử ấy. Ngược lại, truyền thuyết là văn học truyền miệng nhưng hầu hết cũng được ghi chép vào sách vở. Trong quyển Folklore - một số thuật ngữ đương đại, có đoạn ghi: “Trải suốt lịch sử của nền văn minh phương Tây, truyền thuyết có rất nhiều trong các nguồn tài liệu chữ viết”[21]. Còn Nguyễn Vũ Tuấn Anh, khi tóm lược quyển Thời hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại (Hà Nội: Văn hóa thông tin), đã nhận xét: “Nhu cầu nhận thức về nguồn gốc và ý thức tự tôn dân tộc đã thôi thúc các nhà sử học yêu nước tìm hiểu về lịch sử thời Hùng Vương. Đến thời Trần - Lê, những truyền thuyết và huyền thoại bấy lâu chỉ lưu truyền trong dân gian lần đầu tiên được sưu tầm, biên khảo và ghi chép lại trong các tài liệu thành văn”[22]. Đặng Văn Lung cũng chú ý điều này: “Mị Châu – Trọng Thủy là truyền thuyết được ghi chép rất sớm và được ghi nhiều lần, ở nhiều thời điểm lịch sử khác nhau”[23]. Vì vậy, ai đó lấy tiêu chí truyền miệng hay thành văn để phân biệt truyền thuyết và lịch sử sẽ là điều nan giải.
3. Một số tiêu chí phân biệt truyền thuyết và lịch sử
Phần này, thông qua một số tiêu chí cụ thể do người viết dựng nên, nhằm đối sánh hai loại văn bản, từ dạng thức, đặc điểm sinh tồn cho đến những nét riêng về nội dung và nghệ thuật.
3.1. Dạng thức tác phẩm: Tuy cùng là thể tự sự nhưng truyền thuyết thuộc về văn học dân gian, còn chuyện kể lịch sử lại thuộc về văn học viết (văn học bác học). Là văn học dân gian, truyền thuyết bắt buộc phải có “chất dân gian”. Một trong những biểu hiện của nó là “tính tập thể”. Khởi đầu, có thể tác phẩm được sáng tác bởi một cá nhân nào đó. Nhưng sau quá trình lưu truyền, sản sinh, nó phải trở thành sở hữu tập thể. Tác phẩm khi ấy không còn được lưu dấu cá tính, tình cảm riêng của một cá nhân nào. Ngược lại, chuyện kể lịch sử thuộc về văn học viết nên bắt buộc phải in đậm phong cách, cá tính tác giả. Các sử gia, khi biên soạn lịch sử, luôn phấn đấu thể hiện hết tài năng, dũng khí, phong cách diễn đạt của mình vào trang viết.
3.2. Đặc điểm sinh tồn: Truyền thuyết là thể loại rất phong phú về số lượng và được sáng tác một cách có hệ thống. Bùi Quang Thanh gọi đó là tính phong phútính hệ thống cũng đặc tính riêng biệt của thể loại[24]. Do đặc tính đó, tác phẩm truyền thuyết không bao giờ tồn tại riêng lẻ. Nó luôn hiện hữu trong hệ thống những tác phẩm cùng khai thác một biến cố, sự kiện, một nhân vật lịch sử (ví dụ hệ thống truyền thuyết về Lê Lợi, về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương...). Truyền thuyết luôn trôi nổi theo dòng lịch sử, luôn sống trên cửa miệng, trong tâm trí người dân. Đặïc biệt, không khí diễn xướng chính là môi trường sống và sản sinh nhiều dị bản. Khác văn bản viết, mỗi dị bản truyền thuyết dân gian ấy “đều có giá trị ngang nhau trong tư cách là một chứng cớ lịch sử, một mốc phát triển lịch sử của truyền thuyết”[25]. Ngược lại, chuyện kể lịch sử luôn “an vị” trong một phần mục nào đó của bộ chính sử (bản kỉ, liệt truyện, chí). Nó luôn là câu chuyện duy nhất về nhân vật lịch sử trong bộ sử. Cho dù cuộc đời thay đổi, thế sự có thăng trầm nhưng không ai được quyền chỉnh sửa câu chuyện lịch sử (đã hoàn chỉnh) ấy, kể cả chính sử gia. Nó không thể thay đổi và cũng không chấp nhận dị bản.
3.3. Quan điểm chi phối: Truyền thuyết là văn học dân gian nên tác giả cũng thuộc về dân gian. Đó là tập thể quần chúng và cả những trí thức gần dân. Rất nhiều khả năng người kể truyền thuyết đầu tiên là những trí thức phong kiến. Họ là nho sĩ nhưng không chịu đánh giá lịch sử theo tư tưởng chính thống. Đinh Gia Khánh nhận xét, tác phẩm của họ “theo phong cách dân gian và sau khi được dân chúng truyền khẩu thì ngày càng được dân gian hóa”[26]. Trong khi đó, chuyện kể lịch sử được biên soạn bởi cá nhân các sử quan, sử gia. Họ là người làm quan nên phải theo tư tưởng chính thống mà luận bàn công – tội các nhân vật lịch sử. Vua sai họ coi việc chép sử nên họ thường có ý thiên vị nhà vua, chỉ chép lại những gì quan hệ đến nhà vua. Từ đó, tác phẩm của họ vắng bóng nhân dân và bị cách ly với không khí dân dã đời thường.
Đặc điểm này dẫn đến hệ quả là, trong truyền thuyết lịch sử, người kể chuyện phải đặt mình vào nhân dân, cất lên tiếng nói biết ơn, ngưỡng mộ, tôn thờ người anh hùng dân tộc. Còn trong chuyện kể lịch sử, người kể chuyện thường lấy địa vị của cá nhân mình (là trí thức nhà quan, lại thường là quan chép sử) mà đánh giá, khen chê nhân vật. Có một thời gian dài, một số sử quan gần dân đã quá đề cao ý kiến nhân dân, theo quan điểm nhân dân nên biến truyền thuyết thành chính sử.
3.4. Đặc điểm và cách xử lý các sự kiện lịch sử trong tác phẩm
Từ những sự kiện lịch sử ngoài đời thực, truyền thuyết và lịch sử đưa nó vào tác phẩm. Tuy nhiên, truyền thuyết không xem sự kiện lịch sử là mục tiêu phản ánh. Sự kiện, với nó, chỉ là điều kiện cần để tác giả dân gian kể lại trọn vẹn một biến cố lịch sử, từ đó nêu lên một vấn đề thuộc đời sống văn hóa tinh thần. Còn ở chuyện kể lịch sử, sự kiện là một khâu quan trọng, thiết yếu để sử gia khắc họa sống động nhân cách, tài năng của nhân vật.
Về cách xử lý, thông qua các sự kiện lịch sử, truyền thuyết gạt bỏ những gì là ngẫu nhiên, thứ yếu, đồng thời tìm cách phát hiện ra bản chất của biến cố lịch sử, phát hiện ra “tính cách dân tộc” “cá tính lịch sử”[27]. Truyền thuyết cũng sẵn sàng tô vẽ, sửa đổi sử theo quan điểm nhân dân. Còn trong chuyện kể lịch sử, sử gia sẽ chọn lấy các sự kiện giúp nhân vật lịch sử thể hiện rõ nhất tài năng và nhân cách của mình. Tuy nhiên, khi xử lý sự kiện lịch sử, về nguyên tắc, sử gia cần tôn trọng sự thật, khách quan, không được làm sai lạc lịch sử, không được gạt bỏ hoặc thêm thắt chi tiết theo chủ quan người viết.
3.5. Thành phần nhân vật: Truyền thuyết nhằm ngợi ca, tôn vinh tất cả những người có công với đất nước, theo quan điểm của nhân dân, nên nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng. Có những tên tuổi nổi tiếng (Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung, Trương Định, …). Có cả những anh hùng vô danh, bình dị (nghĩa binh phò Trương Định, bộ tướng của Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân,…). Trong khi đó, chuyện kể lịch sử do theo quan điểm chính thống nên chỉ tập trung vào hai đối tượng nhân vật: vua và bề tôi. Trong số bề tôi của vua, chính sử chỉ ghi nhận các trung thần. Không ít nhân vật tên tuổi được truyền thuyết xem là anh hùng, đáng tôn thờ thì chính sử lại xem là giặc và không hề nhắc nhở. Có một điều lý thú là không ít vị vua đời trước đã được cả truyền thuyết lẫn lịch sử xây dựng thành nhân vật chính. Có thể kể, trường hợp của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi… Các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã ghi nhận điều này: “Hiện nay nhân dân (chủ yếu là vùng Vĩnh Phú cũ) còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về Hai Bà Trưng và các vị tướng của hai bà (đặc biệt là các nữ tướng). Điều đáng chú ý là những truyền thuyết này không hoàn toàn giống các bộ chính sử thời phong kiến”, “Cuộc khởi nghĩa bà Triệu xảy ra năm 248 và cũng đã được ghi vào chính sử. Nhưng nhân dân tỉnh Thanh cũng có một pho sử riêng dành cho bà”, “Sự tích Lê Lợi trong Lam Sơn thực lục (Nguyễn Trãi) là một vị anh hùng xuất chúng, công đức bao trùm thiên hạ. Nhưng truyền thuyết dân gian lại kéo ông về gần gũi với quần chúng lao động”[28].
3.6. Dấu hiệu hình thức: Như nhiều thể loại văn học dân gian, truyền thuyết cũng mang tính truyền thống. Tác phẩm có một kết cấu tương đối ổn định với nhiều yếu tố nghệ thuật lặp đi lặp lại. Câu chuyện thường bắt đầu bằng việc giới thiệu lai lịch, xuất thân khác thường của nhân vật lịch sử. Kế đến là một chuỗi sự kiện, tình tiết tô đậm công trạng của ngưòi anh hùng. Kết thúc là những lời tôn vinh, tưởng nhớ, đôi khi kể thêm những chứng tích văn hóa liên quan đến nhân vật chính.
Khác truyền thuyết, chuyện kể lịch sử tuân thủ theo lối viết sử: chính xác, cụ thể, theo trình tự thời gian. Câu chuyện luôn mở đầu bằng việc giới thiệu mốc thời gian ghi chép. Ví dụ: “Giáp Tí, năm thứ 7, mùa xuân, tháng giêng”, “Tháng 6, ngày 24, sao sa”,… Tiếp theo, tình tiết, sự kiện được kể lần lượt theo trình tự thời gian. Câu chuyện chủ yếu được xây dựng trên nền ngôn ngữ đối thoại và hành động của các nhân vật.
3.7. Ngôn ngữ kể: Ngôn ngữ trong truyền thuyết chú trọng tính biểu cảm nên mẫu câu rất đa dạng. Tác phẩm dùng nhiều từ ngữ biểu cảm và khai thác tối đa ngôn ngữ toàn dân. Đây cũng là phương cách đưa tác phẩm hòa nhập sâu rộng vào đời sống dân gian. Trái lại, ngôn ngữ trong chuyện kể lịch sử chú trọng tính thông tin, tái hiện không khí thời đại xưa. Bởi vậy, chuyện kể lịch sử có xu hướng dùng câu ngắn gọn, từ ngữ hàm súc, sử dụng nhiều biệt ngữ, từ Hán Việt.
3.8. Giọng kể: Cách đánh giá nhân vật trong truyền thuyết và lịch sử giống nhau ở chỗ, đều theo tinh thần “cái quan định luận”[29]. Tuy nhiên, nếu truyền thuyết chủ yếu mang âm điệu ngợi ca, tôn vinh thì lịch sử lại có khen có chê, đôi khi mỉa mai kín đáo. Điều này xuất phát từ chức năng thể loại: truyền thuyết nhằm tôn vinh người có công với dân tộc còn lịch sử nhằm rút ra bài học ứng xử cho hậu thế.
3.9. Cách xây dựng hình tượng: Hình tượng nhân vật trong truyền thuyết luôn vượt lên ngưỡng đời thường. Họ được nâng lên ngưỡng thiêng liêng, bất tử. Do đó, người kể truyền thuyết thường chú ý phần lai lịch bí ẩn, tô đậm những nét ngoại hình khác lạ, nhấn mạnh những câu nói hay, miêu tả cặn kẽ từng hành động phi thường của nhân vật. Nhân vật truyền thuyết đôi khi cũng được miêu tả tâm lý một cách giản đơn. Người kể được quyền hư cấu, phóng đại, miễn sao câu chuyện củng cố được niềm tin cho người nghe, người đọc.
Riêng hình tượng nhân vật trong chuyện kể lịch sử phải được khắc họa đúng như con người ngoài đời: lộ rõ nhân cách, tài năng. Cuộc đời đầy phong phú, phức tạp của nhân vật rốt cuộc chỉ được dồn nén trong một câu chuyện thật hàm súc. Do đó, sử gia phải chọn lọc cao độ ngôn ngữ, hành động để khắc họa chân thực, sáng tỏ nhân cách, tài năng của nhân vật. Để đạt được sự trung thực trong phản ánh, sử gia không được quyền hư cấu, thêm thắt bất cứ tình tiết nào.
3.10. Chức năng tác phẩm: Nếu truyền thuyết có chức năng đánh giá sự kiện và con người lịch sử theo cách nhìn của nhân dân thì chuyện kể lịch sử lại đánh giá theo cách nhìn của tầng lớp thống trị đương thời (còn gọi là tư tưởng chính thống, quan điểm chính thống). Nếu truyền thuyết nhằm thể hiện lòng biết ơn, ngưỡng mộ, tôn thờ người có công đức đối với nhân dân và dân tộc thì tác phẩm lịch sử lại nhằm đưa ra những tấm gương làm bài học đối nhân xử thế, bài học cảnh tỉnh, răn đe đời sau.
TIÊU CHÍ PHÂN BIỆT
TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ
CHUYỆN KỂ LỊCH SỬ
Dạng thức tác phẩm
Tự sự (văn học dân gian)
Tự sự (văn học thành văn)
Đặc điểm sinh tồn
- Trong hệ thống tác phẩm cùng nội dung, sự kiện lịch sử
- Trôi nổi theo dòng lịch sử
- Sản sinh nhiều dị bản
- Tồn tại biệït lập, trong bộ chính sử
- Không thay đổi theo thời cuộc - Không chấp nhận dị bản
Quan điểm chi phối
Quan điểm nhân dân
Quan điểm chính thống
Đặc điểm và cách xử lý sự kiện lịch sử
- Gạt bỏ những sự kiện ngẫu nhiên, thứ yếu để tìm ra cốt lõi, bản chất của từng biến cố, hành động, cá tính nhân vật lịch sử
- Sẵn sàng tô vẽ, sửa đổi sử theo quan điểm nhân dân
- Được quyền chọn lọc nhưng phải tôn trọng sự thật, khách quan
- Không được làm sai lạc lịch sử
- Không được gạt bỏ hoặc thêm thắt chi tiết theo chủ quan người viết
Thành phần nhân vật
Tất cả những người có công với đất nước (nổi tiếng hoặc vô danh)
Chỉ có vua và bề tôi (các trung thần)
Dấu hiệu hình thức
- Mở đầu là xuất thân nhân vật
- Tiếp theo là chuỗi công trạng
- Kết thúc có lời ca ngợi, chứng tích văn hóa
- Mở đầu bằng ngày tháng năm
- Kể theo trình tự mốc thời gian
- Nhiều hành động, đối thoại
Ngôn ngữ kể
- Mẫu câu đa dạng
- Từ ngữ biểu cảm, ngôn ngữ toàn dân
- Câu ngắn gọn
- Từ ngữ hàm súc, dùng nhiều biệt ngữ, từ Hán Việt
Giọng kể
Luôn thành kính, trang trọng
Có cả khen, chê, mỉa mai
Cách thức xây dựng hình tượng
- Đặc tả ngoại hình, sử dụng ngôn ngữ, hành động để làm bật tính phi thường của nhân vật
- Đôi khi có miêu tả tâm lý
- Được quyền hư cấu, phóng đại
- Chọn lọc cao độ ngôn ngữ, hành động để khắc họa nhân cách, tài năng của nhân vật
- Không được hư cấu, thêm thắt
Chức năng tác phẩm
- Đánh giá lịch sử theo cách nhìn của nhân dân
- Biết ơn, ngưỡng mộ, tôn thờ, người có công đức
- Đánh giá lịch sử theo cách nhìn của tầng lớp thống trị
- Rút ra bài học nhân sinh
- Cảnh tỉnh, răn đe đời sau
Thái độ người tiếp nhận
- Luôn có niềm tin
- Tăng thêm lòng ngưỡng mộ, biết ơn nhân vật lịch sử
- Có nhu cầu gắn tác phẩm với chứng tích văn hóa
- Chọn được thái độ đánh giá, ứng xử với người, với đời
- Không có nhu cầu gắn tác phẩm với chứng tích văn hóa
\
3.11. Thái độ người tiếp nhận: Khi tiếp nhận truyền thuyết, mọi người luôn đặt niềm tin vào sự hiện diện của cái kỳ ảo trong đời sống, tin vào tài năng, phẩm chất những anh hùng. Nghe kể truyền thuyết, mọi người tăng thêm lòng ngưỡng mộ, biết ơn nhân vật lịch sử. Khi đó, người tiếp nhận truyền thuyết có nhu cầu gắn tác phẩm với những chứng tích văn hóa (lăng mộ, đền miếu, lễ hội,…). Còn khi tiếp nhận lịch sử, mọi ngưòi không cần quan tâm vấn đề niềm tin. Điều chính yếu là phải chọn được thái độ đánh giá, ứng xử đúng đắn với người, với đời, với từng triều đại, những vị vua. Mọi người không có nhu cầu gắn tác phẩm với chứng tích văn hóa cụ thề nào
Từ phần diễn giải trên, chúng tôi xin tổng hợp thành bảng so sánh giữa truyền thuyết lịch sử và chuyện kể lịch sử (Xem Bảng 1).
Bảng 1: SO SÁNH TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ VÀ CHUYỆN KỂ LỊCH SỬ
4. Kết luận
Từ quá trình phân tích, tổng hợp và đối sánh trên, chúng tôi xin rút ra một vài nhận xét:
4.1. Truyền thuyết lịch sử và chuyện kể lịch sử có mối quan hệ khăng khít với nhau từ xa xưa. Chính đặc điểm và sự vận động nội tại của chúng đã khiến chúng dễ bị đồng nhất hoặc nhầm lẫn.
4.2. Truyền thuyết lịch sử và chuyện kể lịch sử dù đôi chỗ còn quan hệ khá nhập nhằng nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt, không gây khó khăn lắm cho việc nhận diện từng thể loại. Vì vậy, người sưu tầm, nghiên cứu lịch sử và văn học dân gian không nên tiếp tục đồng nhất chúng.
4.3. Trong số những điểm khác nhau, theo chúng tôi, tiêu chí mang tính quyết định dùng phân biệt truyền thuyết lịch sử và chuyện kể lịch sử chính là cách thức xây dựng hình tượng nhân vật lịch sử. Nếu như truyền thuyết có xu hướng làm bật tính phi thường, tầm vóc kỳ vĩ của nhân vật bằng sự hư cấu, phóng đại thì chuyện kể lịch sử lại có xu hương khắc họa nhân cách, tài năng nhân vật mà không được quyền hư cấu, thêm thắt theo chủ quan người kể.
*
Trên đây là những bước dò dẫm của chúng tôi trên con đường mà người xưa đã từng mở lối. Tự mình chọn lại lối đi khó, trong khi hành trang về lý luận khá mỏng và kinh nghiệm nghiên cứu còn non nớt nên chắc chắn các luận điểm trong bài viết sẽ không tránh được lỗ hổng và sai sót.
Biết vậy nên chúng tôi sẽ phải tiếp tục học hỏi và nỗ lực đeo đuổi vấn đề này, hy vọng sớm vận dụng những kết quả tìm được vào thực tế sưu tầm, nghiên cứu thể loại truyền thuyết dân gian.
Mỹ Tho, tháng 11 năm 2006
(Đã in trong Bình luận Văn học – Niên giám 2006,
NXB Văn Hóa Sài Gòn & Hội nghiên cứu – Giảng dạy Văn học TP.HCM, tr.315).



[1] Nghìn xưa văn hiến, tập I, NXB Hà Nội, 2003, tr.44
[2] Lịch sử và Văn học dân gian, Hà Nội: Văn Học, 2003, tr.349
[3] Sđd, tr.319
[4] “Lời nói thẳng xói lỗ tai” - chữ GS. Kiều Thu Hoạch đã dùng (VPC)
[5] Từ truyền thuyết đến lịch sử, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6 (96)/2004
[6] Hà Nội: KHXH, 1994, tr.546
[7] Lịch sử là gì?, Hà Nội: Giáo Dục, 1981, tr.10
[8] Sđd, tr.44
[9] Ngữ văn 10 Nâng cao, tập II, Hà Nội: Giáo Dục, 2006, tr.57
[10] Lịch sử là gì?, Sđd, tr.9
[11] Ngữ văn 10 Nâng cao, tập II, Sđd, tr.57
[12] Nghìn xưa văn hiến, Sđd, tr.44
[13] Lịch sử và Văn học dân gian, Sđd, tr.321
[14] Lịch sử và Văn học dân gian, Sđd, tr.37
[15] Theo Văn hóa Việt Nam – đặc trưng và cách tiếp nhận, Hà Nội: Giáo Dục, 2001, tr.169
[16] Lịch sử là gì?, Sđd, tr.14
[17] Folklore - một số thuật ngữ đương đại, Hà Nội: KHXH, 2005, tr.323
[18] Lịch sử là gì?, Sđd, tr.18
[19] Lịch sử và Văn học dân gian, Sđd, tr.34)
[20] Theo Ngữ văn 10 Nâng cao, Sđd, tr.68
[21] Sđd, tr.320
[22] Dẫn theo www. vae.org.vn Vietnam Association of Ethnology (VPC).
[23] Lịch sử và Văn học dân gian, Sđd, tr.318
[24] Về một thể loại văn học dân gian, TC. Văn Học, 1979, số 4, tr.132
[25] Lịch sử và Văn học dân gian, Sđd, tr.320
[26] Để có thể nắm bắt thực chất của văn học dân gian, TC. Văn Học, 1977, số 6, tr.81
[27] Chữ dùng của Đặng văn Lung (Lịch sử là gì?, Sđd, tr.352)
[28] Văn học dân gian Việt Nam, Hà Nội: ĐHQG, 1999, tr.56-58
[29] Đóng nắp quan tài rồi mới có nhận định chắn chắn, nhằm khẳng định nhân cách của nhân vật lịch sử.
 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved