.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn HỌC THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HỌC THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa

Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013 | 11:59

QUÂN TRỊ CHỦ NGHĨA VÀ DÂN TRỊ CHỦ NGHĨA
PHAN CHÂU TRINH

Đây là bài diễn văn của cụ Phan Châu Trinh năm 1925 tại Sài Gòn, sau khi Pháp thấy cụ gần chết vì lao phổi nên đưa cụ từ Pháp về Sài Gòn (để chết). Đến lúc gần chết cụ vẫn đau đáu về tương lai của Việt Nam.

Thưa các anh em, chị em, đồng bào!
Từ khi tôi biết cái học mới đến bây giờ, thì trong trí tôi bực tức, ngẫm nghĩ lấy làm lạ quá. Lạ vì trong xứ Á Đông này có bốn nước đồng văn, mà đều sùng bái cái chính thể quân chủ, đều sùng thượng Nho Giáo. Vậy làm sao mà từ hồi cái văn minh bên Châu Âu tràn sang cõi Á Đông đến nay thì chỉ có người Nhật Bản bỏ ngay cái học cũ mà theo lối mới, thì sự giàu mạnh trông thấy liền trước mắt, chừng trong bốn năm mươi năm mà đã sánh vai với liệt cường? Còn nước Xiêm [Thái Lan] ở gần bên ta, thì nó chẳng có đạo Nho gì hết, nó chỉ có đạo Phật mà thôi, mà nay nó cũng đứng vào hàng Vạn quốc bình đẳng. Tại làm sao mà được như thế?
Chẳng có sự gì thế, hễ người Anh lại nó cũng cho vào, người Pháp lại nó cũng cho vào, người Mỹ, người Đức lại nó cũng đãi tử tế, để nó theo học cái hay của mấy nước đó. Chỉ chừa ra có ba nước là nước Tàu, nước Cao Ly [Triều Tiên] và nước ta, dân thì nghèo, nước thì yếu, cái phần người dốt nát thì chiếm đến 80%. Còn gọi là thượng lưu, chẳng qua là trong bọn "bát cổ" đã chiếm hai phần ba trong nước; thật chẳng biết biết cái Nho Học là gì, mà cũng nhắm mắt lại chê càn cái văn minh mới là mọi rợ! (đây tôi nói Cao Ly và Tàu, còn Việt Nam ta để tôi nói lại sau).
Nhưng mà nay cái phong trào trong thế giới nó mãnh liệt lắm: ai thuận theo nó mà đi thì thuận buồm xuôi gió, ai không thuận theo nó thì cũng bị xô đẩy mà đổ lướt đi như cỏ rác.
Vậy cho nên bọn thiếu niên Cao Ly họ đã tỉnh dậy, mới có cái hồi vận động năm 1919, làm cho Nhật Bản phải bỏ lòng hổ lang đi, mà trả cái tự do lại cho họ; nước Tàu thì có sự vận động bọn thanh niên năm 1925, làm cho liệt cường thể nào cũng phải lấy sự công bình mà đối xử lại với họ.
Khốn nạn thay cho cái dân tộc nước Việt Nam ta, đến bây giờ trong dân tộc mà gọi là các ông Nho học tức là các ông có học được ít chữ Tàu, mà nhất là các ông đã đậu được Cử Nhân Tiến Sĩ; các ông đó tôi dám chắc rằng không hiểu Nho Giáo là gì hết; vậy mà mở miệng ra là cứ đem Nho Giáo ra để làm chỗ dựa,để bài bát cái văn minh kim thời, tức là cái văn minh mà các ông tuyệt nhiên không hiểu được một chút nào cả.
Còn nói về các anh thiếu niên tân học, trừ ra có đôi anh tự cái sức thông minh của mình mà tìm kiếm ra thấy được nhiều ít, kỳ dư thì chỉ theo cách học cũ; mong kiếm lấy cái chức phẩm gì, hay là coi cho rộng để viết lách khoe khoang mà thôi. Không có ông nào chịu đem cái sự học của Âu Tây để so sánh lại với cái cũ của ta, xem điều gì hay, điều gì dở cho người ta xét đoán mà tìm lấy đường tiến tới về sau này.
*
* *
Tôi xin lỗi các anh chị em đồng bào, cái đề mà tôi lựa diễn thuyết bữa nay, Quân Trị Chủ Nghĩa (tức nhân trị chủ nghĩa), Dân Trị Chủ Nghĩa (tức là pháp trị chủ nghĩa), cái đề mục đó thật là lớn lao quá, không phải là sức tôi có giải quyết ra cho minh bạch được. Muốn giải quyết ra cho minh bạch thì phải tìm về Âu Á lịch sử chính học và chính trị triết học, mới có thể nói ra cho tinh tường được.
Các anh em chị em có lạ gì tôi: cái học về đường lịch sử chính trị Tàu thì tôi cũng hiểu được ít nhiều, còn về đường Tây học thì thật là kém lắm. Nhưng mà tôi cũng ráng hết sức, đem cái việc mà tôi đã biết xin nói ra cho anh em nghe, còn cái việc gì cao xa không thấu, thì để phần ông nào hiểu hơn tôi diễn giải ra cho anh chị em rõ.
NÓI VỀ CÁI LỊCH SỬ QUÂN TRỊ CHỦ NGHĨA
Cuộc quân chủ đến ngày nay thì cũng như một cái hoa tàn lá héo phất phơ trong đời bây giờ.
Xem như trong một cõi Á Đông này, không kể những ông vua mất nước rồi mà những nước mạnh họ chỉ để làm con nộm, con bồ nhìn để đè dân bổn xứ, thì chỉ có Vua Xiêm và Vua Nhật đủ quyền phép đáng xưng là Ông Vua mà thôi. Âu Châu bây giờ dân chủ đã đến 14 nước mà quân chủ chỉ xót lại có 12 nước. Còn bên Mỹ Châu thì chẳng có một nước nào quân chủ. Vậy thì ta có thể nói rằng: trong trái đất này chỉ có 8.000 triệu người, mà số dân có vua thì không được một phần trong số mười.
Vẻ vang thay cái oai quyền dân chủ! Gớm ghê thay cái dục vọng của quân chủ! Đang hồi Thượng cổ, Trung cổ, dân chúng còn hèn yếu ngu dốt, cho nên bất câu loài dân nào cũng phải có cái quyền quân chủ để bao bọc cho dân, dạy dỗ cho dân, che chở cho dân; đang cái thời đó thì quân chủ thật là một vị thuốc hay cho loài người hồi đó.
Khốn nạn thay cái tính loài người; thấy người ta tôn trọng mình bao nhiêu thì mình lại thêm kiêu hãnh bấy nhiêu; thấy người ta kính nể mình bao nhiêu thì mình lại càng tự thần tự thánh bấy nhiêu; thấy người ta chiều chuộng mình thì mình lại muốn ngồi lên đầu người ta! Không những thế lại muốn truyền cho con cháu từ đời này qua đời khác, như cái gia tài riêng của mình. Đất muốn cho ai thì cho như là bán ruộng, còn dân thì làm như bọn mọi vậy.
Ta thử xem từ xưa đến nay, bất cứ vua nào, hễ cướp được nước lên làm vua thì tìm đủ cách để truyền cho con cháu cho lâu dài, mà rốt cuộc lại họ nào lâu lắm là ba trăm năm, còn mấy họ vắn thì năm mười năm thôi. Cái cuộc đó thì ở Á ở Âu gì cũng như thế cả. Nhưng mà ở Âu Châu thì đến thế kỷ mười bảy, mười tám, các bậc hiền triết ra xướng lên cái chủ nghĩa dân quyền. Mấy ông vua nào hung dữ chuyên chế, phản đối lại cái phong trào dân chủ thì bị nhào cả; còn anh nào điều hòa với dân thì còn ngoắc ngoải đến bây giờ.
Về cái vấn đề này thì tôi cốt chỉ cho rõ cái quân trị chủ nghĩa bên Á Đông này thật không phải là gốc tự Nho Giáo. Tôi xin chỉ vẽ rõ ràng cái tư tưởng sai lầm từ xưa đến nay cho anh chị em đều hiểu.
Cứ theo các ông triết học Âu Châu bàn về lịch sử nhân loại: kể từ loài người mới sinh, rồi làm sao mà có tù trưởng, làm sao rồi thành vua thành chúa; cứ nói như thế thì mất hết thì giờ, mà các Ngài nghe cũng vô ích. Vậy nên tôi cứ sử Tàu mà cắt nghĩa để các Ngài dễ hiểu hơn.
Tàu thì tôi cứ nói từ vua Hoàng Đế là một ông vua mạnh nhất ở nước Tàu. Từ ở núi Côn Lôn (phía Tây nước Tàu) tràn xuống phía Bắc Tàu, rồi đánh với dân bản xứ Tàu là dân Hữu Miêu ở miền Dương Tử Giang, giết được tướng nó là Xuy Vưu; ông ta thật là một ông vua lớn của nước Tàu. Nhưng vậy mà đến khi ông Khổng Tử làm sách, Ngài không muốn để tên ông Hoàng Đế đầu, vì ông thấy thượng binh thượng võ lắm. Ngài chỉ chép từ vua Nghiêu vua Thuấn mà thôi. Vì hai ông vua ấy không có lòng gì muốn làm vua hết, chỉ bị các nước chư hầu bắt buộc, họ bầu cử lên mà thôi, cũng nối nghiệp ông Hoàng Đế đi đánh Hữu Miêu, nhưng trong một tháng không được thì rút binh về để lo sửa việc học hành, dạy dỗ dân mà thôi.
Đời đó thì bày ra những là dạy dân có ngũ luân, làm ra lịch có ngày tháng thì giờ, cho tiện người làm ruộng, đặt ra cân ra thước, ra lường để cho tiện dân buôn bán, bày ra có áo xiêm, có lễ phục v.v... còn nhiều nữa tôi không có kể ra đây cho hết được. Đây các Ngài nghe cho rõ: cái dân tộc Á Đông mà có Nho Giáo ra là từ hai ông. Nên ông Khổng xưng là "tổ thuật Nghiêu Thuấn". Thầy Mạnh nói cũng chỉ khuyên Nghiêu Thuấn. Mà bây giờ ở nước ta những ông có học được một hai chữ Tàu, hễ mở miệng ra là nói đạo Nho cũng vì cái lịch sử lờ mờ đó.
Đây tôi xin nhắc lại cái đời Nghiêu Thuấn, lúc đó thế nào? Cái đời đó vua Nghiêu vua Thuấn chẳng qua là một anh thủ lĩnh của đám tù trưởng ở trong dân tộc Trung Hoa hồi đó mà thôi.
Cứ theo cái dấu tích lịch sử mà suy, thì lúc đó chư hầu nước Tàu có ít cũng là đến mười lăm ngàn nước; về sau trong hai trăm năm rồi vua Võ hội chư hầu ở Đồ Sơn còn lại một vạn nước, tính theo số đó, thời đó thì không sai sút mấy. Vậy thì cái nghi vệ và cái quyền lợi của Thiên Tử hồi đó ra thế nào? Thiên Tử cũng ở trong một nước nhỏ như các nước chư hầu vậy thôi, chỉ có lập ra triều nghi để cho các chư hầu triều cống. Cái quyền to nhất là cái quyền được tế trời đất, còn chư hầu chỉ được tế những núi những sông ở xứ mình mà thôi. Thiên Tử có đi xem xét ở các nước chư hầu thì chư hầu phải đón rước, Thiên Tử được cử lên làm quan, có tội thì phạt, có công thì cũng được phong làm chư hầu.
Vậy thì nói lược qua đó, anh em chị em đủ biết ông Thiên Tử cũng như ông Tổng Lý Hội Vạn Quốc đời nay. Chỉ có được lễ triều cống, được cầm quyền chinh phạt, là theo cái số nhiều chư hầu mà phạt nước này mà thưởng nước kia.
Thương hại thay các ông học chữ Tàu, nghe nói cái tên Nghiêu Thuấn thì các ông tưởng là nhà Ngũ Phụng Lâu, cỡi xe lục long xa, tưởng là cũng ra vào hò hét như các vua ta bây giờ. Nhưng mà ai có độc địa dư hay là có đi du lịch đến chốn Bình Dương Bồ Bản, thì mới biết rằng cái kinh đô của hai Ngài bằng hai cái thành con bây giờ, nghĩa là không đầy hai ba dặm vuông.
Từ đó vua Võ nối vua Thuấn, truyền ngôi cho con trị những nước chư hầu lớn mà cứng đầu nhất, nghĩa là nó muốn giành ngôi Thiên Tử: như là đời ông Võ thì giết ông Phòng Phong, đời ông Khải thì giết Hữu Hộ, đời ông Thiếu Khang thì giết Hậu Nghệ ở nước Hữu Cùng. Ấy tôi tạm đặt đó là cái thời kỳ thứ hai của Thiên Tử.
Từ đó về sau đến 400 năm, đến đời ông Kiệt. Ông Kiệt thì tôi không cần nói những cái lỗi của ông ấy ra, các Ngài cũng đã hiểu rồi. Đến khi đó thì các nước chư hầu nhỏ nhất làm đầu, mà đánh đuổi ông Kiệt đi, rồi thay vào ngôi Thiên Tử. Cái việc đã mấy nghìn năm rồi, có thật hay không, không biết, nhưng mà tôi cũng thuật lại cho mà nghe. Khi ông Thang đã được chư hầu cử lên làm Thiên Tử, thì ông cáo với dân và các nước chư hầu rằng: "Ông lấy cái sự đuổi vua Kiệt đó làm thẹn, nhưng vì ông muốn cứu dân nên phải ra làm". Tuy ông nói thế nhưng chư hàu vẫn cứ tôn ông lên ngôi Thiên Tử. Ấy là cái oai quyền Thiên Tử tấn tới về nước thứ ba.
Từ đó con cháu ông đến sáu bảy vua giỏi nối nhau làm vua, truyền đến 600 trăm năm. Đến đời ông Trụ, dân không phục nữa mới mất nước. Hồi ấy dân ông Trụ ba phần thì đã hai phần phục theo ông Văn Vương rồi, thế mà ông Văn Vương cũng không chịu đuổi Trụ, đến đời con ông Văn Vương là ông Võ Vương mới giết ông Trụ mà lên làm vua. Đến hồi đó thì trong sự đánh dẹp, thấy luyện tập cũng đã ghê lắm rồi, thấy quân lệnh cũng nghiêm trang, binh giáp cũng dữ dội, cũng lấy giết người chảy máu làm nhiều danh giá, giết được tướng giặc thì cũng chặt đầu bêu lên, cũng đã làm cách dã man như lối bây giờ vậy. Cho nên ông Khổng Tử khen ông Văn Vương là chí đức, chê ông Võ Vương là vị tận thiện là thế.
Từ ông Võ đến đây là hơn một nghìn năm, ông tức là vua đầu nhà Hạ. Khi ông lên làm vua thì dưới quyền ông còn hơn một vạn nước; đến hồi vua Thang nhà Thương đuổi vua Kiệt, thì còn mấy nước chư hầu sử không thấy nói. Đến đời ông Võ Vương nhà Chu đánh ông Trụ thì thấy chư hầu không hẹn mà tới hội được 800 nước. Vậy thì trong độ một nghìn năm mà tuyệt mất hơn 9000 nước. Đời ông Võ Vương nhà Chu thì oai quyền lắm, nên có thể nói rằng đến đời này thì cái oai quyền Thiên Tử tấn tới bước thứ tư.
Bây giờ tôi xin nói tóm lại: Khổng, Mạnh, và Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang, Văn, Võ tức là những ông đã làm ra cái gương để cho các vua đời sau gọi là Nho Giáo đó. Ta phải xem xét cái thời thế phong tục của các vua đời sau so lại với Nho Giáo thì có giống chút nào không?
Từ sau Võ Vương giết vua Trụ, dân đã không phục, duy có đời vua Văn, vua Võ, vua Thành, vua Khang thì dân phục mà chư hầu cũng phục. Đến đời vua U vua Lệ thì dân nó nổi lên giết các vua ấy, rồi ngôi Thiên Tử của nhà Chu từ đó mà mất theo. Một đoạn lịch sử tốt đẹp như Tàu từ Nghiêu Thuấn cho đến Văn, Võ, thật như là cái khí mùa xuân, như là cái ánh sáng mặt trời êm ái, ai thấy không khen ngợi. Ai thấy mà không ước ao. Vậy cho nên Đức Khổng, Thầy Mạnh nhân đó mà lập ra cái đạo để bình trị thiên hạ thì cũng phải lắm.
Lạ thay cho đến đời Xuân Thu là nữa đời Chu thì năm nước Bá ra, chẳng cần gì đạo đức nhân nghĩa như trước cả, chỉ lấy cái giả dối thay nhau, còn Thiên Tử chỉ để lấy cái huy hiệu mà thôi. Từ lúc đó thì còn được 300 nước; hơn một trăm năm nữa rồi chỉ còn bảy nước; không đầy một trăm năm nửa thì rút cuộc lại thống nhất về nhà Tần.
VỀ CÁI THỜI NÀY TÔI MỚI CẮT NGHĨA CÁI QUÂN TRỊ CHỦ NGHĨA TỨC LÀ NHÂN TRỊ CHỦ NGHĨA
Ông Tần Thủy Hoàng khi mới lên làm vua thì ông làm cái gì? Ông đặt ông là ông vua đầu; ông truyền cho đến muôn nghìn đời về sau; ông sợ dân khôn nên ông đốt sách; ông sợ học trò chống cãi lại nên ông chôn sống học trò; sợ để gươm giáo trong dân gian nhiều thì dân nó nổi giặc; nên ông phá ra đúc làm tượng để chơi! Phá mấy cái thành cao, lấp mấy cái ao sâu, không cho dân dựa đó mà chống lại nhà nước. Lại tin cái câu sấm "Vong Tần dã Hồ" mà bắt cả dân già trẻ đi đắp Vạn Lý Trường Thành, khổ não biết bao nhiêu. Cái mối loạn phát ra từ đó.
Ông làm như thế thì ông tưởng có cái gì mà sợ nữa. Ông làm ra cái cung điện A Phòng, bỏ vài ba nghìn con gái đẹp vào để chơi. Ông làm ra cái lăng Ly Sơn dài ba bốn dặm, có đàng cách đạo, trùng thành; còn nhiều cái sang đẹp nữa. Ông lấy chữ "Trẫm" để cho mình ông Hoàng Đế xưng mà thôi.
Đời xưng hễ xưng "hoàng" là "hoàng", xưng "đế" là "đế", khi trước đạo Nho lấy "vương" là quý, ông chỉ phong cho đầy tớ mình mà thôi.
Sung sướng đặng bao nhiêu, chưa đầy 13 năm đã bị thằng Triệu Cao nó giết, rồi thiên hạ lại vào tay nhà Hán, quân chủ lại vào tay nhà chuyên chế khác nữa.
Đó! Xin các ngài nghe rõ một khúc này nữa. Nay những ông Nho học ở nước ta, các ông yêu mến đạo Nho mà các ông ghét nhà Tần biết bao nhiêu; vì các ông thấy nhà Tần bội đạo Nho. Nhưng mà ông vua của các ông có xấu thế nào các ông cũng cứ vì với Nghiêu, Thuấn, Võ, Thang, Văn, Võ chớ không khi nào các ông ví với vua Tần. Như mà các anh em thử nghĩ xem, vua mà xưng "Trẫm" là theo đạo Nho hay là theo Tần? Vua mà xưng là "Hoàng Đế" thì theo đâu! Vua mà có luật giết ba họ người thì có phải theo họ Tần không? Vậy mà ông vua nói mình theo đạo Nho; tự ông nói vậy là phải; các quan nịnh theo vua thì họ nói theo cũng phải đi, bọn đó không kể; còn các ông đồ già cũng rán gân cổ lên mà cãi rằng:
Vua mình theo đạo Nho!
Triều đình mình sùng đạo Nho!
Nước nhà mình theo đạo Nho!
Dân mình theo đạo Nho!
Vậy thì đạo Nho ở đâu?
Do nhà Hán đến nhà Đường, do nhà Đường đến nhà Tống, do nhà Tống đến nhà Nguyên, do nhà Nguyên đến nhà Minh, do nhà Minh đến nhà Thanh, nghĩa là trong độ 2.200 năm đó, cách chính trị của Hán cũng không có gì rộng rãi công bình; nhưng Hán cũng còn hơn Đường, Đường cũng còn hơn Tống,Tống cũng còn hơn Nguyên, Nguyên cũng còn hơn Minh, Minh cũng còn hơn Thanh. Xét cái lịch sử quân chủ ở Á Đông này thì chúng ta biết rằng từ Tần Thủy Hoàng về sau, các nước nói theo đạo Nho đó kỳ thật trong nước không có thi hành một chút đạo Nho nào, chỉ còn xót lại một hai điều ở trong gia đình mà thôi. Kỳ dư là những điều mấy ông vua chuyên chế dựa vào đạo Nho để đè nén Dân.
CÁCH CHUYÊN CHẾ Á ĐÔNG KHÉO HƠN ÂU CHÂU THẾ NÀO?
Vua Âu Châu ở xứ thượng võ, cho nên làm cái gì cũng hung hăng mà ngay thật, cho đến sự độc ác cũng vậy. LÚC TRƯỚC MUỐN ĐÈ NÉN DÂN THÌ PHẢI THÔNG ĐỒNG VỚI GIÁO HỘI, bày đặt ra nói ông vua là ông Thần Trời, thay mặt cho Thần Trời, hay Thần Trời hóa thành ra; nghĩa là ông vua không phải một loài với dân thì dân phải tôn kính ông vua. Nhưng mà những cái đó là cạn cùng giả dối, chỉ có phỉnh dân ngu được một lúc mà thôi, cho nên sau rồi ở Âu Châu cái dân quyền càng mạnh chừng nào thì quân quyền càng xếp lại chừng nấy.
Vua Á Đông thì họ không làm như thế. Họ lựa ở trong các lời nói của ông Khổng ông Mạnh, hoặc ở trong sách cổ có những câu nói có nhiều ý nghĩa để họ dựa vào đó; họ lập ra pháp luật để bó buộc cai trị dân; cái ngôi vua thì gọi là con Trời, nhưng họ cũng cứ xưng họ là người, chẳng những họ không đứng ra cái ngoài hàng bà con của dân mà họ lại đứng ra vào cái hàng thân thiết của dân, như là ta nói "quân, sư, phụ", lại thường nói "Vua, Cha, Chồng". Dù ở chốn hương thơm rách nát không biết ông vua thế nào, nhưng mà họ thấy đứng vào hàng cha, thầy, chồng thì họ cũng đứng vào đám thân thiết. Dân ngu thì họ cứ kính cứ yêu, chứ họ có biết đâu đến hồi giận của ông vua thì ông giết cả ba họ người ta, chớ có khi nào làm hại làm ác như thế. Còn khi cha mẹ đẻ ta ra, thì, đói, no, sống, chết, thế nào cũng ở trong tay mẹ ta, nào ông vua có biết đến đâu. Thế mà đến hồi tuổi ta lồng lộng lớn lên thì đánh một tiếng là "Tôi trời con vua". Ông vua muốn cho sống thì được sống, ông vua muốn cho chết thì phải chết, ta không có thể chối cãi lại được, là nghĩa lý gì?
Dân bên Âu Châu thượng võ, cho nên dòng quý tộc chư hầu phải có võ công mới lên được, mà đã lên được thì khó mất lắm. Còn bên Á Đông này, cái cách quí tộc lại chuộng thi văn, mà trong thi văn đó ai đậu mới được làm quan, ai không đậu thì thôi, bên quan võ thì chỉ hồi có giặc hay là hồi khai quốc mới có người tài thật, kỳ dư thì võ chức chỉ là để thưởng cho những người dốt nát. Thí dụ như một người đi lính từ 20 tuổi đến 50 tuổi,thì thế nào cũng lên được chức Lãnh binh, Đề đốc hưởng được cái mùi phú quý ít năm, nghĩa là mình ăn ở miễn sao cho người ta đừng ghét là được. Ấy là cái mưu quân chủ rèn tập cái trí dân ở Á Đông là cho khờ khĩnh. Ta thí dụ nước ta đã mất nước mấy mươi năm rồi, mà đến kỳ thi ai cũng khí khủm lo cho đậu được một chút mới thôi. Hễ đậu được thì cho là mồ mả ông cha có phúc. Còn người có thế hay là có tiền thì cũng vác đi lo làm quan, cũng kiếm một cái hư hàm. Chừng chúng ta đi ra Hà Nội, ra Huế, ta thấy những bọn mang thẻ bài ngà nó đi đụng đầu với nhau, còn một bọn thì đang vác tiền đi lo, thì ta cho là bọn điên cuồng ngu dại, ta không biết cái óc chúng nó ra thế nào, nhưng mà ta biết rằng cái giống đó là giống đã gieo mầm từ các đời vua trước đã mấy nghìn năm rồi.
Nói tóm lại cách chuyên chế ở Á Đông này tôn lên mấy lời tà thuyết, như là câu "lọt lòng mẹ ra đã phải chịu cái nghĩa vua tôi". Nhưng mà ta có biết rằng "quân thần dĩ nghĩa hiệp" là nghĩa làm sao? Vậy cho nên có người họ chán, họ bỏ đi ẩn thì bọn chuyên chế nó lại lập ra cái luật "hữu tài bất di quân dụng" nghĩa là có tài mà không cho vua dùng, nó lập ra cái luật "yêu quân", nghĩa là nũng vua, để mà phạt bọn người ấy. Nó sợ rằng dân biết chính trị nhiều thì dân nổi lên cách mạng, cho nên nó cấm học trò và dân không được nói đến chính trị. Hết thảy những cách chuyên chế đó, nghĩa là họ bảo dặn rằng: "Mày muốn làm gì làm, nhưng đừng động đến cái ngôi vua của con cháu tao".
Có hay đâu giữ khéo thì dân trong nước không động đến ngôi vua của con cháu họ thật, nhưng mà ngoại quốc đến lấy thì dễ như chơi, bởi vì dân nó ngu! Nó không biết nước là cái gì cả. Ta thử xem cái gương nhà Tống trước thì mất với Liêu, rồi sau mất với Kim, rồi sau mất với Mông Cổ. Còn nhà Minh thì mất với Mãn Châu, Cao Ly thì mất với Nhật, Việt Nam thì mất với Tây.
Thương hại thay trong hai nghìn năm các nhà vua chẳng ngó chi đến lợi hại dân tộc, chỉ lo tính toán để đè nén cái trí dân, để mà giữ chặt cái chìa khóa tủ sắt ngôi Thiên Tử cho con cháu mình. Nhưng mà có hay đâu, dân đã ngu thì nước phải yếu, vua quan lại nghênh ngang tham nhũng nữa, như thế tất loạn, loạn thì ngôi vua mất. Nếu dân ngu quá, yếu quá không đủ dấy loạn được, thì các nước khác nó tràn vào, ấy là cái lẽ tự nhiên, làm gì thế nào cũng không khỏi mất. Cho nên xưa nay cái ngôi vua thay đổi luôn, cũng như cái ghế hạng nhất ở rạp hát vậy.
CÁI QUÂN CHỦ LỢI HẠI THẾ NÀO?
Vậy bây giờ ta tóm lại để coi cái lợi hại về quân chủ như thế nào, thì ta thấy bất kể là Á là Âu, ở xứ nào, dân tộc nào mà lập thành nước để đến bây giờ, đều là nhờ những anh hùng hào kiệt đời xưa, họ ra cầm đầu cho dân, ngoài thì đối phó với các dân tộc khác, trong thì sửa sang lại việc hòa bình ở trong nước. Những cái công đức của các ông đó ta cũng nên khen ngợi, đáng nghi nhớ, chớ không phải không. Còn cũng có dòng dân, trước còn đứng được, sau lại không có anh hùng hào kiệt đứng ra chống chỏi, thì lại bị nước khác nuốt mất. Xem vậy thì cái lợi của quân chủ ở đời thượng cổ quý không gì bằng. Tuy các ông cũng có mưu về lợi riêng, nhưng chúng ta cũng có thể tha thứ được. Còn cũng có một cái dịp dùng cái quyền quân chủ rất tốt, như nước Nhật nước Xiêm, khi người Âu Châu mới qua thì dân còn ngơ ngác không biết gì, thế mà nhờ trên có vua anh hùng, dưới có các quan tài trí, đem đường chỉ lối cho dân tấn tới lại càng mau. Vậy thì cũng là một sự hay. Còn từ đó sắp sau, chỗ nào dân không thể nhờ được dịp đó thì cái quân chủ là một đồ vô dụng.
Ta xem bên Tàu 30 năm trước, vua Quang Tự đã hạ chiếu duy tân, vì có một người thiếp của cha, mê trai, tham của, không chịu thay đổi chính trị, chẳng những làm cho dòng vua Mãn Châu mất, mà làm cho Tàu đến nay hãy còn khốn đốn. Vua Cao Ly, bên vợ thì duy tân, bên cha thì thủ cựu, đánh nhau mãi, giết nhau mãi, rút cuộc lại cha mẹ thì bị ở tù, vợ thì bị giết, mình thì hai tay bưng nước đưa cho Nhật, rồi bị cách chức.
Nhắc đến ông vua nước ta là ông Tự Đức mà đến bây giờ mấy ông quan già và mấy ông đồ già còn ca tụng là "Thánh Quân", khi người Tây mới qua, quan binh thì cũng có như ông Nguyễn Tri Phương, như ông Võ Trọng Bình xin đánh, mà nói có muốn đánh thì phải xuất tiền đi ngoại quốc mua súng ống về mới có thể đánh được. Nhưng mà ông vua ấy có tính thương tiền tiếc bạc, cứ muốn chôn dưới đất, chẳng muốn đem mua cái gì cả, ông trả lời với các quan binh rằng: "Các anh muốn đánh thì đánh, nhưng mà nếu các anh đánh không hơn thì các anh mới để mẹ con trẫm vào đâu?" Làm ép cho mấy quan võ như Võ Trọng Bình bỏ về, còn ông Nguyễn Tri Phương để cho Tây bắt, rồi không ăn mà chết. Cũng có người học thức như ông Nguyễn Trường Tộ, khuyên vua dạo qua bên Tây, xem xét cái văn minh của họ rồi cho người qua học, các quan văn cũng có nhiều người xin thế, mà ông vua trả lời rằng: "Nhật nó là dòng Mọi, Xiêm nó là dòng Mọi; Mọi thì nó học với Mọi được, chớ như ta là con Thần cháu Thánh, lẽ nào ta lại đi học với Mọi hay sao?"
Thôi! Tôi không đoán cái hay cái dở của ông vua đó, để các Ngài nghe rồi các Ngài sẽ đoán xét các ông vua đó là ông vua gì. Mẹ con ông chết thì có chỗ chôn, còn mẹ con hai mươi triệu bơ vơ đến bây giờ đó thì sao? Bọn mà ông cho là mọi rợ thì bây giờ nó đã tấn tới hết cả. Hai mươi triệu khi xưa không đến mọi rợ mà bây giờ chẳng những hóa ra mọi rợ, mà lại hóa ra tôi đòi hèn hạ nữa!
QUÂN TRỊ TỨC LÀ NHÂN TRỊ (Người trị người)
Đây hãy nói tóm lại quân trị tức là nhân trị. Quân trị chủ nghĩa, tuy có pháp luật mặc lòng, nhưng pháp luật cứ tự tay ông vua lập ra, chứ còn dân thì không hay biết gì hết. Vậy cho nên khi nào gặp một ông vua thông minh anh hùng, hiểu được cái sự quan hệ giữa dân với nước là thế nào, mà trừng trị lũ quan tham lại nhũng, để cho dân được yên lặng làm ăn, thì dân giàu nước mạnh, mà cái thì giờ của vua sống được bao nhiêu thì nước còn được thái bình bấy nhiêu.
Còn mấy ông vua hôn ám thì ông sống với đàn bà con gái, với bọn hoạn quan, còn biết gì đến nước trao chính quyền vào trong tay mấy đứa nịnh thần, người đã hư thì nước cũng đổ thôi. Cho nên ông Khổng Tử có nói rằng: "Văn võ chi chính bố tại phương sách, kỳ nhân tồn tắc kỳ chánh cử, kỳ nhân vong tắc kỳ chính tức", nghĩa là cái chính trị vua Văn vua Võ còn chép ở trong sách, có người chính trị giỏi thì cái chính trị trong sách đó mới thi hành ra, nếu không có người giỏi thì cái chính trị ấy mất. Tuân Tử thì nói rằng: "Hữu trị nhân, vô trị pháp" nghĩa là có người hay làm hay chứ không có cái pháp luật nào hay được. Ông Mạnh thì kiêm cả hai ông mà nói rằng: "Đồ thiện bất túc dĩ vi chính, đồ pháp năng dĩ tự hành", nghĩa là có người giỏi mà không có pháp luật thì cũng không làm chính trị được; có pháp luật mà không có người giỏi thì pháp luật cũng không tự làm lấy được.
Mấy nghìn năm nay, mấy ông vua giỏi, tướng giỏi hết sức mà tránh cho khỏi cái chữ quân trị là nhân trị, nhưng mà không được, vì là lập phép này phép kia cũng tự tay vua, đến khi đạp đổ đi cũng tự tay vua.
Ấy tôi nói những ông vua biết lo mà chữa cho khỏi chữ nhân trị là từ đời Tống, đời Đường sắp lên, những ông vua hiền minh thì thế. Còn từ đó sắp xuống thì chuyên chế quá lắm. Xem như ông Minh Thái Tổ đặt ra cái luật "hữu tài bất vi quân dụng". Nghĩa là đặt ra cái luật hễ ai mà không ra cho vua dùng thì có tội. Ấy là để bắt người ta phải ra cho mình áp chế hết cả, chớ không cho ai ở ẩn nữa. Về đời Càn Long lại đặt ra luật "yêu quân" nghĩa là có tài mà buộc vua cầu cạnh mình thì có tội. Những cái luật đó thì còn có ích gì cho dân tộc, cho nhà nước đâu, chỉ làm sướng cái óc kiêu ngạo, làm cho sướng cái xác thịt của ông "Hoàng Đế" đó thôi. Vua đời xưa thì còn cầu hạ sĩ, chứ còn vua đời sau thì cứ nằm ngửa đó, thằng nào có tài mà không cho ra cho tao dùng thì tao bỏ tù, thì còn gì sang trọng hơn nữa.
Từ nãy đến giờ tôi nói về cái lịch sử và triết học quân trị là nhân trị. Đây tôi xin kể thêm vài cái chứng thật cho anh em dễ hiểu. Nhân trị nghĩa là cai trị một cách rộng rãi hay là nghiêm khắc chỉ tùy theo lòng vui, buồn, thương ghét của một ông vua mà thôi, pháp luật tuy có cũng như không.
Thí dụ như ông Gia Long lấy cái luật của đời Càn Long nước Tàu để trị dân Việt Nam; trong cái luật đó nói rằng: "phí công quân bất hầu", nghĩa là không có công đánh được giặc thì không phong tước hầu. Vậy thì ông Nguyễn Văn Thành phong tước hầu, và làm đến trung quân, chẳng qua là ông Gia Long có tấm lòng công bình mà xét cho cái công trạng của ông ấy theo đánh giặc từ nhỏ đến lớn. Sao tôi dám nói vậy? Bởi vì sau đó con ông Thành có làm một bài thơ chơi, nghĩ cũng chẳng tội lỗi gì, mà ông Gia Long giết tới ba họ. Như vậy chẳng qua là khi cơn giận ông lên thì ông giết, chớ có pháp luật gì đâu.
Tôi nhắc qua một cái tích của ông Tự Đức mà tôi đã nói trên kia. Năm ông Tự Đức thứ 25, dân Trung phần chết đói, nhà nước đã lo phát chẩn được một ít rồi, các quan lại xin trích tiền thuế trong các tỉnh, các chủ huyện để trữ lại trong xã thương các làng, phòng năm các dân có đói chăng, thì ông ta cho phép dân được đem tiền đem lúa ra nạp quyên mà lấy chức Bá Hộ, Bát phẩm, Cửu phẩm. Nhưng mà ông nói đói quá có lúa có tiền đâu mà quyên. Ông xuống dụ các quan cho đàn quyên chịu đã, chừng nào đóng đủ số tiền đó thì sẽ phong sắc cho. Còn tiền đóng thì cứ để lại cho đàn ấy. Cái dụ xuống nói rõ ràng như thế. Cách một năm thì thấy cái dụ khác kể hết tiền chưa đóng và đã đóng rồi, bắt phải đem hết ra tỉnh để cấp cho lính đánh giặc. Tỉnh sức xuống phủ huyện, phủ huyện sức xuống các làng. Dân trả lời rằng vua cho quyên chịu, chớ không bắt đóng ngay, năm này mất mùa dân không chịu đóng, mà gì nó cũng không có mà đóng. Quan tỉnh tư Bộ, bộ tâu Vua, Vua phải phải làm tội hết những quan ấy. Nhưng mà trong luật Việt Nam những cái luật tiền bạc thuộc về dân qua qua lại với nhà nước thì ít thấy lắm các quan không biết theo mặt luật gì mà làm án, phải tâu lên vua hỏi phải làm án gì, nhà vua bắt làm theo luật "thượng thư bất dĩ thiệt" nghĩa là chiếu theo luật các quan dâng thư cho vua nói về chính trị mà không thật. Quan Bộ cứ đó mà làm tội. Đến khi tư về các tỉnh, người thì sáu năm, người thì tám năm, người thì mười hai năm tù. Gia dĩ đang khi đói khát, cha xa con, vợ bỏ chồng, tưởng quyên cái Bát, Cửu Phẩm để lấy làm vui, hay đâu không được vui mà lại phải ở tù. Thế nên cả nhà, cả họ ai cũng lấy làm đau lòng xót ruột. May đâu cái án đó đi đến Quảng Ngãi, gặp một ông Ấn Sát, ông ấy thì giỏi luật lệ mà có lòng thương dân, lo việc nước. Ông ấy là người Bến Tre về tỉnh Vĩnh Long tên là Nguyễn Thông hiệu Kỳ Xuyên, sau lục tỉnh mất thì ông chạy ra Phan Thiết. Ông ấy cứ từ câu mà bẻ hết cái án, rồi ông gởi trả lại cho Bộ, ông nói rằng: "cái vụ này là chỉ có vua và quan nói dối dân, chứ dân không nói dối ai chút nào cả". Còn chiếu theo luật "thượng thư bất dĩ thật" thì không đúng vào đâu cả. Ông Tự Đức biết mình lỗi, nhưng mà mắc cỡ xui cho người khác kiện ông Nguyễn Thông rồi cách chức ông đi, muốn trị tội nặng. Nhưng dân Quảng Ngãi và dân các tỉnh hết sức bênh vực cho ông ta, cho nên cũng chẳng làm hại cho ông được, chỉ đuổi ông ta đi mà thôi. Đây nói lược qua một hai điều cho các Ngài nghe, chứ tôi kể hết cái sử Tàu và Việt Nam thì mấy ngày cũng không hết.
NÓI QUA DÂN TRỊ CHỦ NGHĨA
Nay khắp cả thế giới những nước nào đã theo kịp được một ít văn minh Châu Âu, hay là hiểu được một ít tư tưởng tự do, thì ai cũng hiểu được cái tiếng dân chủ là thế nào, hay là dân trị là thế nào.
Bên Âu châu có mấy nước quân chủ mặc lòng, nhưng nước nào cũng có đảng Dân chủ ở trong thượng, hạ nghị viện cả. Duy có nước ta thì như trong lục tỉnh này thuộc với Tây đã hơn sáu mươi năm, cái chữ "République" thì nói luôn trên miệng, nhưng mà chẳng tìm kiếm nghĩa lý như thế nào, so sánh với dân trị chính thể cũ của nước ta ra thế nào! Ấy là nói những người có ăn học, ý tôi xem hình như các Ngài đoán trước rằng có quân chủ là hơn. Còn nhất là dân nhà quê chẳng những là không biết dân chủ là gì, mà đối với vua thì thờ trên đầu như thờ Thần thờ Thánh; chẳng những không nghĩ đến sự "phải có hay là không" mà hình như có ai nghĩ đến việc đó thì phải bị sét đánh, đá dằn, voi chà, ngựa xé. Khi nào nghe nói bất luận là ông vua nào, nghe qua thì trong lòng đã vui mừng hớn hở, nghĩa là ông ấy chắc là mình trông cậy được, rất dở là mới đây việc Phan Xích Long còn xảy ra trong xứ này. Vậy mới biết rằng cái độc quân chủ vào óc dân ta sâu quá, mà cái trình độ của dân ta cũng thấp quá, chỉ có một người mà nói: "Mầy phải trung với người này phải kính với người này", thì nó mới hiểu. Mà nếu cứ nói ra cái tên nước Việt Nam mà rằng: "Ấy là nước ông cha mầy, mầy phải thương", thì tay nó không rờ được, mắt nó không trông thấy được thì nó không thể làm thế nào mà thương được. Vậy thì cứ trừ ra một cái nhà, một cái vườn, vài mẫu đất nội chỗ con mắt nó thấy đó thì nó thương được mà thôi. Đã mấy năm nay tôi thường thấy nhà báo hay nhà diễn thuyết, hễ mở miệng ra thì nói nước có hai mươi triệu quốc dân, trong cái giọng nói thì hình như có cái danh giá, có sự khoe khoang, có sự tin cậy. Nhưng mà tôi nghĩ trong hai mươi triệu ai cũng biết có nhà mà không biết có nước; như thấy trong cái nhà nào trong lúc rủi ro có ba, năm người con trai bị chết tuyệt tự, hay nhà nào ruộng đất mà bị kiện thưa, hay là bị con ham cờ bạc thì xúm lại nói ồn ào khắp dân gian, cho là việc quan hệ nhất ở trong xứ này. Còn đến việc "mất nước" thì chẳng ai mơ màng vào đâu. Một dân tộc mà đối với nước lơ láo lạt lẽo như thế cũng khốn nạn thật! Dân như vậy mà muốn bỏ vua đi mà lập ra dân quốc, chắc trong các Ngài có ông cũng lấy làm lạ. Nhưng mà tôi nghĩ rằng vì cái độc quân chủ giết hẳn cái lòng ái quốc của dân Việt Nam ta, bây giờ muốn cho dân Việt Nam ta biết nước là của chúng nó, thì phải đem cái tụi bù nhìn đó vất hết cả đi, thì nó mới có thể tìm kiếm cái nước đó là nước của ai? Mà nòi giống ta thông minh, có lẽ một ngày kia sẽ gặp thấy rằng ở trong cái miếng đất mấy nghìn năm lưu truyền lại đây, cái quyền lợi của nó hãy còn nhiều. Cái quyền phép của nó cũng có nhiều, rồi nó sẽ hiểu rằng xưa nay người mà gọi rằng vua quan đó, chẳng qua là người thay mặt làm việc cho nó, nếu làm không xong thì nó đuổi đi cũng không có lỗi gì.
Khi nào dân đã hiểu như thế thì nó mới biết thương nước. Mà nó có biết thương nước thì một ngày kia mới mong tự do độc lập được, chứ không thế thì cứ đời đời làm tôi mọi mãi.
SAO GỌI LÀ DÂN CHỦ?
Câu này ở Châu Âu thì không cần phải cắt nghĩa cho nhiều, nhưng mà ở trong xứ mình thì tôi cắt nghĩa mau mau để cho người ta hiểu cái đại lược.
Lịch sử – bất cứ là dân nước nào số người học thức cũng là phần ít cả, thường thường nhờ cái đảng thượng lưu, trung lưu dìu dắt nó đi ấy lẽ thường. Nhưng mà duy có dân châu Âu khác với dân ta có một việc; là từ khi bắt đầu mới khởi ra thì họ cũng sùng trọng quân chủ. Nhưng không biết thế nào hồi nước Hy Lạp họ lại có cái hộ gọi là Trưởng giả hội nghị, thì do ông vua nhóm họp lại những bậc quí tộc mà lập pháp luật ban cho dân. Lại có một cái hội tên là Quốc dân hội nghị, phàm những luật lệ mà ông vua cùng những người quí tộc đã đặt ra thì phải giao cho hội ấy xem có bằng lòng thì mới được làm. Sau đến nước La Mã thì có hội nghị "một trăm người" thì lấy trong quân lính mà sắp đặt ra hội ấy, phàm xứ ấy có việc gì lôi thôi thì hội ấy bàn. Còn sau đến hồi dòng vua La Mã đã mất, thì có một cái hội "La Mã nguyên lão viện", lại một hội "La Mã bình dân viện". Cho nên sau khi La Mã đổi làm đế quốc chuyên chế mà cái phép La Mã cũng phát đạt luôn luôn. Bây giờ các nước đâu đâu cũng bắt chước La Mã cả.
Trong một lối từ khi mọi Nhật Nhĩ Man tràn xuống phá La Mã đế quốc, các nước châu Âu được độc lập hết cả, thì cái chính thể hội nghị ấy đã mất đi đến mấy trăm năm.
Lạ lùng thay người nước anh còn giữ lại được gọi rằng "Nhân dân hội nghị", "Hiền giả hội nghị", hai hội ấy đều là vua nhóm những kẻ tài trí trong dân gian để giao cho cái quyền "lập pháp". Đến nay thành ra cái Hạ Nghị Viện của Anh bây giờ, mà đến thế kỷ 17-18 lại truyền bá ra cả lục địa châu Âu. Ấy là nói lược qua cả lịch sử dân quyền châu Âu.
ĐÂY TÔI XIN NÓI QUA CHÍNH THỂ DÂN CHỦ LÀ THẾ NÀO?
Bây giờ bên châu Âu trừ nước nào dân còn ngu dại, còn thì theo chính thể dân chủ. Đây tôi nói về cái chính thể bên Pháp - ở trong nước có một Hạ Nghị Viện quan hệ nhất. Số nghị viện thì trên dưới sáu trăm, dân đúng hai mươi mốt tuổi trở lên thì ra bầu cử. Dân hai mươi lăm tuổi trở lên thì được ra ứng cử. Được cử rồi thì gọi là Hạ Nghị Viện. Số phận của nước Pháp cầm ở trong tay cái hội ấy, hội ấy thì chủ quyền để lập pháp luật. Thứ nữa có một Nguyên Lão Nghị Viện. Cái viện ấy lại không phải dân cử. Các hội đồng ở các tỉnh các hội nào mà nhà nước đã nhận có cái nhân cách, và những người làm việc nhà nước thì lại ra ứng cử. Hội ấy thì để coi về việc tiền bạc.
Khi nào bắt đầu đặt Tổng Thống, hay là thiếu mà đặt lại, thì hợp số người trong hai viện ấy lại làm bỏ thăm. Người ta ứng cử cũng là ở trong hai viện ấy. Ai được nhiều thăm thì làm Tổng thống. Khi Tổng thống đã được bầu cử rồi, thì phải thề trước mặt hai viện ấy rằng: "Cứ giữ theo hiến pháp dân chủ, không phản bạn, không theo đảng này chống đảng kia, cứ giữ công bình, nếu có làm bậy thì dân cứ trục xuất ngay". Trước thì có Mac Mahon, sau thì có Millerand bị cách chức, cũng vi phạm hiến pháp.
Còn chính phủ thì cũng bởi trong hai viện ấy mà ra. Nhưng mà giao quyền cho đảng nào chiếm số nhiều ở trong hai viện ấy thì được tổ chức Quốc vụ viện (tức là chính phủ, tòa nội các). Theo Quốc vụ viện bây giờ chừng đâu cũng đến vài chục bộ, nhưng không phải ăn rồi ngồi không, vênh râu lên đó như mấy ông Thượng thư ta đâu. Ông nào cũng có trách nhiệm ông ấy cả. Nếu cái gì mà làm không bằng lòng dân, thế nào cũng có người chỉ trích. Bởi vì ở trong hạ nghị viện thế nào cũng có hai đảng, một đảng tả một đảng hữu; nếu cái đảng tả chiếm số nhiều mà cầm quyền trong nước thì đảng hữu xem xét chỉ trích; cho nên có muốn làm bậy cũng khó lắm.
Trong nước đã hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng hiến pháp. Cái quyền chính phủ cũng bởi hiến pháp qui định cho, lười biếng không được, mà dẫu muốn áp chế cũng không chỗ nào thò ra được. Vả lại khi có điều gì phạm đến pháp luật, thì người nào cũng như người nào, từ ông Tổng Thống cho đến một người nhà quê cũng đều chịu theo một pháp luật như nhau.
Các quan chức về việc cai trị chỉ có quyền hành chính mà thôi, còn quyền xử đoán thì giao cho các quan án là những người đã học giỏi luật lệ, có bằng cấp. Các quan ấy thì chỉ coi về việc xử đoán, có độc quyền độc lập, cứ theo lương tâm công bình, chiếu theo pháp luật mà xử, xử chính phủ cũng như xử một người dân. Các quan án ở về một viện riêng gọi là Viện Tư Pháp.
Quyền tư pháp cũng như quyền hành chính của chính phủ, và quyền lập pháp của nghị viện, đều đứng riêng ra không họp lại trong tay một người nào. Đây là nói sơ lược mà thôi, muốn hiểu kỹ cái chính thể dân trị thì phải chuyên môn mới được.
Xem vậy thì biết dân trị tức là pháp trị (lấy phép mà trị người). Vì quyền lợi và bổn phận của mọi người trong nước đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, không khác gì là đã có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi tự do. Muốn bước tới bao nhiêu cũng không ai ngăn trở, chỉ trừ khi nào xâm lấn đến quyền lợi của người khác thì không được. Vì đối với pháp luật thì mọi người đều bình đẳng không có ai là quan, ai là dân cả.
*
* *
So sánh hai chính phủ quân trị và dân trị, ta thấy chủ nghĩa dân trị hay hơn chủ nghĩa quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của một người hay là của một triều đình mà trị một nước, thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê, được ấm no vui vẻ là phải đói rét khổ sở chỉ tùy theo lòng của người chăn. Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị, thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân muốn thế nào thì làm thế ấy. Dù không có người giỏi làm cho hay lắm, cũng không đến nỗi phải đè đầu khốn nạn làm tôi mọi một người, một nhà, một họ nào.
Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân nào ngu dại cứ ngồi yên mà nhờ trời mà mong đợi mà trông cậy ở vua, ở quan, giao phó tất cả những quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay là một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường.
Anh em chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau góp sức lo toan việc nước, mới mong có ngày cất đầu lên nổi!

Sử Việt Và Việt Sử - PHẦN 1

Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013 | 01:04


NGUYỄN VŨ TUẤN ANH



Hôm nay là ngày mùng 3. tháng 5 Việt lịch. Ngày kiêng cữ rất xấu với Lý học gọi là ngày Tam Nương sát. Tôi mở topic này để tâm sự đôi chút về Việt sử gần 5000 năm văn hiến hay Thời Hùng Vương chỉ hơn 300 năm với tư cách là một “liên minh bộ lạc” với những người dân “Ở trần đóng khố”. Tất nhiên vấn đề có liên quan đến Trung Nhân với “hai thằng nhìn vào nhà đã hai ngày hôm nay và khả năng truy sát sư phụ” – theo cách gọi của anh ta.a


Thực tình tôi chẳng làm gì xấu với ai theo các chuẩn mực cổ kim để đến nỗi phải bị trả thù đến mức truy sát. Tôi cũng chẳng liên quan đến bất cứ một tổ chức chính trị nào nhân danh bất cứ một cái gì. Vậy sao lại có kẻ đòi truy sát?Vậy phải chăng là tôi một lòng minh chứng cho Việt sử gần 5000 năm văn hiến?

Tôi cũng muốn cố quên và nhìn đời với con mắt xanh. Rất tiếc! Như một bóng ma ám ảnh, những sự kiện có vẻ như ngẫu nhiên luốn nhắc tôi điều này. Đó là lý do mà tôi muốn dứt điểm sự kiện vào ngày tối kỵ của Lý học.
Tại sao bao nhiêu kẻ “sinh sự” với tôi không khiến tôi phẫn nộ bằng Trung Nhân? Bởi vì họ tuy rất sinh sự trong qúa trình tôi minh chứng cho Việt sử 5000 năm văn hiến. Nhưng nó vẫn còn có chuẩn mực cho hành vi. Cho dù nó là chuẩn mực vô lý thì nó vẫn cứ là một chuẩn mực. Thí dụ, nếu ai đó gặp một tay anh chị phát biểu: “Từ sáng đến giờ tao chưa uýnh thằng nào” – thì đấy là một chuẩn mực của tay anh chị đó. Còn việc hai thằng nhìn vào nhà và truy sát tôi thì không có một chuẩn mực nào. Họ thích thì làm và tôi cũng chẳng hiểu vì sao lại như vậy. Và Trung Nhân đâu phải tay giang hồ như trong thí dụ trên?
Vậy có ai có thể sống được trong một môi trường mà không có một chuẩn mực nào không? Nếu trong một xã hội đen thì chí ít nó cũng có chuẩn mực của xã hội đen. Nếu ngay cả trong xã hội đen cũng không có chuẩn mực của nó thì tự nó sẽ tan rã.
Sự đe doa nếu chỉ với “hai thằng nhìn vào nhà” thì tôi quen rồi và không có vấn đề gì phải bàn. Nhưng đe doa truy sát thì đó là sự thể hiện phi chuẩn mực xã hội. Ít nhất nó cũng phải có lý do gì giải thích được – tức là một chuẩn mực dù là rất tự nhiên, chứ không phải do con người quy định?! Hay là tôi chống đối xã hội, phạm luật nặng đến mức phải tử hình? Hay là tôi đe doa cho thậm chí con chuột nhà hàng xóm? Hoàn toàn không có gì cả.
Vậy tại sao một người như Trung Nhân lại xác định “hai thằng nhìn vào nhà có khả năng truy sát” – Tức là cố tình giết tôi?
Tất nhiên, nếu tôi sợ chết thì chắc chắn tôi không tiếp tục công việc của mình. Khi tôi biết rằng đã có những cái chết có vẻ như ngẫu nhiên liên quan – thí dụ như giáo sư Phạm Huy Thông. Hay là việc chứng minh cho Việt sử 5000 năm văn hiến đụng chạm đến một quyền lợi tối thượng của ai, hoặc một tổ chức nào đó?
Đã vài lần, tôi được nghe nói tới việc Thiên Sứ “khắng khăng với quan điểm Việt sử 5000 năm văn hiến”.
Tại sao lại gọi là “khăng khăng” nhỉ? Từ “khăng khăng” trong tiếng Việt chỉ sử dụng cho một kẻ cố chấp. Còn tôi minh chứng cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến có luận cứ rất rõ ràng. nếu tôi sai thì với “hầu hết những nhà khoa học trong nước” và “công đồng khoa học thế giới” không lẽ không đủ khả năng vạch ra cái sai trong luận cứ của tôi?! Toàn giáo sư tiến sĩ cả đấy chứ! Mà đâu phải mới đây, đã hơn 15 năm nay rồi.Tất nhiên là phải công khai, minh bạch. Chứ không phải lừa bịp phản biện sau lưng.
Họ nhân danh khoa học khi phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt đấy chứ! Ít nhất thì về danh nghĩa công khai họ phát biểu cho những kẻ “phó thương dân” như tôi biết thế! Vậy thì việc tôi cũng nhân danh khoa học với đầy đủ luận cứ phản biện và minh chứng thì chí ít nó phải có sự sòng phẳng khoa học – đó là chuẩn mực tối thiểu trong khoa học – Vậy tại sao lại lắm kẻ đeo theo đe dọa, chụp mũ như vậy? Trung Nhân chỉ là hiện tượng cuối cùng mà tôi công khai lên đây.Trước đây Dũng Tử Vi – một nick quen thuộc trên vài diễn đàn Lý số đã nói với tôi: “May mà anh nghèo, nếu anh giầu thì chắc anh đi tù rồi”(?) – tất nhiên vì tôi xác định Việt sử 5000 năm văn hiến với sự chứng minh Lý học Đông phương có nguồn gốc Việt – Tất nhiên nó không phải của Tàu.
Không lẽ giầu nghèo là chuẩn mực cho chân lý? Phải chăng đó là “cơ sở khoa học” để phủ nhận văn hóa truyền thống Việt?
Vấn đề được đặt ngược lại: Tại sao “hầu hết những nhà khoa học trong nước” khăng khăng với quan điểm phủ nhận Việt sử 5000 năm văn hiến (Cách gọi trước đây là “hơn 4000 năm”). Hay là vì họ có “cơ sở khoa học”, còn tôi thì không?! Cho nên chỉ có tôi mới bị “truy sát” còn họ thì không?
Nhưng cho đến ngày hôm nay, tức là nửa năm đã trôi qua – giáo sư Phan Huy Lê – Hội trưởng Hội Sử học Việt Nam vẫn chưa hề có định nghĩa về khái niệm của chính ông ta đưa ra, trong buổi Hội thảo về Chữ Việt cổ , về thế nào là “cơ sở khoa học”. Bản thân khái niệm “khoa học” cũng rất trừu tượng. Vậy cái “Cơ sở khoa học” của giáo sư Phan Huy Lê thực chất là cái gì – để căn cứ vào đấy “hầu hết những nhà khoa học trong nước” “khăng khăng” phủ nhận giá trị văn hóa truyền thống của Việt sử?
Tôi đã nhiều lần rất thẳng thắn trên diễn đàn công khai: Nếu sự phủ nhận văn hóa truyền thống Việt là một nguyên nhân chính trị và tất cả những ai có tham vọng chứng minh cho Việt sử 5000 năm văn hiến như tôi thì đều có một kết quả như Trung Nhân đã nói với tôi là sẽ bị “truy sát” thì họ có thể nói thẳng với tôi. Tôi sẽ im lặng. Chí ít thì nó cũng là một chuẩn mực trong quan hệ xã hội.
Rất tiếc! Cho đến ngày hôm nay, chưa thấy ai công khai nói việc này và qua hành vi của Trung Nhân thì phải chăng người ta muốn cá nhân tôi phải suy luận ra điều đó?!
Tôi công khai điều này lên đây. Tất nhiên tôi biết rất rõ sẽ làm khó chịu cho ai đó hoặc tổ chức nào đó mà Trung Nhân chỉ là người thực hiện. Nhưng chí ít thì nó cũng là một phản ứng tự nhiên – một thứ chuẩn mực tự nhiên của con người khi bị “truy sát”. Và nếu nó có ảnh hường gì đó xấu hoặc tốt thì đó cũng là hệ quả tất yếu mà bắt nguồn từ chính hành vi của con người Trung Nhân.
Kiểu nhắn nhủ “may mà anh nghèo” của Dũng Tử Vi. Hoặc kiểu chụp mũ của Nguyễn Thị Thái theo kiểu “căm thù chế độ cộng sản”. Nhưng chí ít thì Thị Thái và Dũng Tử Vi còn đưa ra một chuẩn mực trong quan hệ con người, để người ta biết đường lựa chọn: Nếu anh muốn tiếp tục viết lách thì không nên vì động cơ “căm thù chế độ cộng sản”, hoặc đừng có mục đích hám lợi. Tuy nó cực vô lý trong điều kiện chứng minh có “cơ sở khoa học” – kể cả hiểu theo cách của ông Phan Huy Lê – thì nó vẫn là một thứ chuẩn mực xã hội.
Nhưng đến Trung Nhân trắng trợn đe doa truy sát thì nó khác hẳn. Nó không cần đến một chuẩn mực nào, vì không có bất cứ một nguyên nhân nào để có thể lựa chọn. Anh có thể sống trong một môi trường xã hội,mà chỉ cấn một cái “nhìn đểu”; hoặc “nhìn thấy ghét” anh có thể bị giết. Nhưng nó còn có chuẩn mực là “nhìn đểu” ; hoặc “nhìn thấy ghét”. Anh muốn sống thì anh đứng “nhìn đếu” và phải tạo một bộ mặt dễ thương. Nhưng liệu anh có thể sống trong một môi trường mà anh có thể chết với bất cứ một nguyên nhân nào do con người xung quanh anh muốn giết anh, kể cả anh là người mà quen gọi là hiền lành tử tế – một xã hội không chuẩn mực.
Khi “hầu hết những nhà khoa học trong nước” lên tiếng phủ nhận truyền thống văn hóa sử gần 5000 năm văn hiến” họ nhân danh khoa học. Chí ít cái nhân danh khoa học đó là một chuẩn mực trong lĩnh vực của cái gọi là khoa học của xã hội loài người – (Là chuẩn mực của trí thức để họ có thể vênh váo với bằng giáo sư, tiến sĩ – thậm chí viện sĩ). Nếu như “hầu hết những nhà khoa học trong nước” thực sự khoa học thì khi có người bày tỏ quan điểm phản biện nhân danh khoa học – như họ công bố trên tất cả các phương tiên truyền thống và cả trong Lời nói đầu của Hiến Pháp – thì – trong một xã hội chuẩn mực mang tính chính danh – họ phải có phản biện công khai,minh bạch và có trách nhiệm với quan điểm của chính họ – để biện minh cho luận điểm của họ một cách có trách nhiệm theo tính thần khoa học. Chứ không phải là việc làm của Trung Nhân, Nguyễn Thị Thái, Dũng Tử Vi…vv….
Nhưng điều này đã không xảy ra. Tôi đã hân hạnh được một người bạn giới thiệu gặp trực tiếp vị đại biểu quốc hội nổi tiếng là Dương Trung Quốc, để trình bày luận điểm của mình và đề nghị ông trung gian tổ chức một cuộc hội thảo liên quan đến Việt sử 5000 năm văn hiến. Ông ta đã đồng ý,nhưng chỉ tổ chức kiểu mini với chừng 20 nhà khoa học và có tính bàn tròn, không công khai với báo chí. Tôi cũng chấp nhận việc này. Tôi có thông báo việc này với anh Lãn Miên, để chuẩn bị tham gia cùng tôi. Nhưng sự kiện xảy ra trước khi bầu cử quốc hội khóa này. Ông Dương Trung Quốc vì bận công tác nước ngoài nên hoãn. Hẹn 10 ngày sau. Chờ hết 10 ngày thì ông bận rộn trong việc bầu cử quốc hội. Và tất nhiên tôi chờ đến bây giờ. Tôi không nhắc ông. Chính vì những kiểu can thiệp liên tục từ khi viết cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” – dạng Nguyễn Thị Thái, Dũng Tử Vi… hơn 10 năm trước – khiến tôi hiểu rằng: Đây là một việc tế nhị và ông muốn né tránh. Bởi vậy, khi chạm mặt ông ở một cuộc hội thảo tôi đã không gặp – dù tôi biết ông cũng nhìn thấy tôi. Tôi không muốn một vị đại biểu quốc hội khả kính phải ngại ngùng khi gặp tôi và khiến ông phải nhớ tới lời hứa của mình,liên quan đến việc trọng đại của cả một dân tộc: Cội nguồn Việt sử. Đang nhẽ ra, về mặt lý thuyết thì ông ta là người có trách nhiệm cao nhất – vì là đại biểu quốc hội – và có trách nhiệm trực tiếp vì còn là Tổng thư ký Hội Sử học Việt Nam – chứ không phải là tôi, Phó thường dân dự khuyết hạng II Nam Bộ. Nhưng hành vi của Trung Nhân đã xác định: Không có cả ngay cái lý thuyết này. Vì hành vi đó xác định: Không có chuẩn mực xã hội. Nên tôi không buồn ông Dương Trung Quốc, sau hành vi này của Trung Nhân.
Tôi cũng nói trước rằng: Tôi biết các vị đại biểu quốc hội sắp bỏ phiếu tín nhiệm những nhà lãnh đạo cấp quốc gia. Bài viết này của tôi không liên quan gì đến vấn đề này. Nó chỉ liên quan đến bức xúc của cá nhân tôi. Các vị cứ việc xét theo ý của các vị. Và đừng có suy luận gì về hành vị của tôi cả. Sự biện minh của tôi thực sự cũng không cần thiết khi không còn có chuẩn mực nào đế phán xét – khi sự truy sát không có lý do tối thiểu nhân danh con người. Vậy thì còn gì để phân tích, phán xét về tôi nữa – làm gì còn chuẩn mực nào để phán xét nữa – khi người ta có thể “truy sát” mà không cần nguyên nhân (Lý do cũng không có). Các người muốn phân tích, nhận xét, đánh giả về một con người – như tôi chẳng hạn – thì chí ít cũng phải có một chuẩn mực nào đó chứ nhỉ? Tối thiểu cũng phải là “nhìn đểu” – Cũng không có – thì thôi đi. Thích cứ làm.

Thậm chí tệ đến mức độ thế này: Một người là cán bộ thuộc dạng trung cao tặng tôi một công cụ cai thuốc lá , nhỏ bằng hột đâu có thể gắn vào một huyệt vị trên tai. Tôi vào Nam mang trên tai hột này – Một đệ tử của tôi là Công Minh – từ khóa I Phong Thủy Lạc Việt – trong một buổi đi chùa phóng sinh cùng Wildlavender, nhìn thấy buột miệng: “Không biết đó là dấu hiệu của tổ chức nào”. Không biết anh ta còn nhớ anh ta đã nói gì không. Nhưng với tôi mọi hành vi của người xung quanh tôi đều rất dễ gây ấn tượng.


Tôi không tham gia bất cứ một tổ chức chính trị nào, không chống lại bất cứ một lợi ích nhóm nào. Trên diễn đàn không có bài viết chỉ trích ai tham nhũng cả. Vâng! Không phải tôi vô cảm! Không phải tôi không biết gì. Nhưng vì công việc của tôi chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến đã qúa đủ để vượt ra ngoài tầm sức vóc có thể của một con người. Và chỉ với một điều kiện đó thôi – cũng cái như là một yếu tố chuẩn mực của cá nhân tôi – cũng đủ để bị đe doa truy sát. Và tôi lấy ngay việc làm của tôi như một chuẩn mực quán xét tất cả. Tôi cũng công khai minh bạch trên diễn đàn: Lề trái, lề phải, không thấy ai có một lời nhắc tới Việt sử 5000 năm văn hiến. 

Cho đến giờ này – khí sự bức xúc phải công khai lên đây – thì tôi xác định ngay rằng: Tôi vẫn tiếp tục minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến và chấp nhận bị truy sát.
Đừng ai phân tích , phân teo về tôi nữa. Do làm gì có chuẩn mực xã hội nào để nhận xét về một con người? Hành vi của Trung Nhân đã xác định điều này trong hàng loạt các hành vi tương tự – nhưng còn chấp nhận được.
Việt sử 5000 năm văn hiến có còn cần thiết với xã hội này nữa hay không và có ai cần đến nó thì tùy hỷ. Không có chuẩn mực nào cả.
Tôi giống như kẻ rao bán hành trong truyện cổ tích Việt Nam. 
Hôm nay, có một cuộc Hội thảo do Viện Nghiên cứu tiềm năng con người tổ chức – liên quan đến ngôi mộ cổ của công chúa thời Lý – họ có mời tôi. Tôi rất quý cô Hoàng Thị Thiêm và có cảm tình với viện này. Nhưng tôi cáo lỗi không đi. Bởi vì phát chót tôi được biết có ông Đinh Xuân lâm – một thành viên trong cái gọi là “hầu hết những nhà khoa học trong nước” phủ nhận văn hóa truyền thống Việt. Tôi không thể ngồi đồng hạng với ông ta. Ngoại trừ – có thể ngối đối mặt trong hội thảo về cội nguồn Việt sử.
Đây cũng là lý do mà tôi không hề có một lời bình luận liên quan đến Đàn Xã tắc, mà rất nhiều thành viên post lên diễn dàn. Bởi vì tôi thấy những người đứng ra bảo vệ luận điểm giữ Đàn Xã Tắc hầu hết có trong đám “hầu hết”. Tôi không đồng hạng với họ. Cả một cội nguồn Việt sử còn đem quăng thì với cái Đàn Xã Tắc còn nghĩa lý gì, mà bàn với đám này.Bạn đọc đang xem bài viết này thấy quá căng thẳng phải không? Nhưng nếu ai đó hiểu rằng: Ngay trong lúc chuẩn bị Hội Thảo “Phong thủy là khoa học” – ngày 15, tháng 12. 2009 – với hàng trăm việc bận rộn liên quan, tôi vẫn phải chuẩn bị tình huống cho cuộc hội thảo bị ngưng nửa chừng với những lý do không khó hiểu. Cho đến khi biết có ông Thang Văn Phúc , nguyên thứ trưởng Bộ Nội Vụ tham gia tôi mới hơi yên tâm. Đủ hiểu rằng: Trong quá trình minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến nó căng thẳng thế nào.
Các bạn quan tâm đến hội thảo, hãy xem kỹ lại các bài tham luận liên quan đến TTNC LHDP – hầu như nhắc rất hạn chế đến cội nguồn Lạc Việt của bộ môn phong thủy. Chính vì lý do “tế nhị và nhạy cảm” đó.

Nhân danh khoa học phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt. Vậy nếu những nhà gọi là Khoa học của Việt Nam – tự nhận rằng “hầu hết thống nhất quan điểm” – còn có chút gì gọi là liêm sỉ và lòng tự trọng – nếu như còn có chuẩn mực này tối thiểu trong giới gọi là trí thức – thì hãy công khai bác bỏ luận điểm của tôi. Còn nếu nhưng không thể làm được việc này thì các người hãy câm mẹ nó đi và công khai đính chính sự ngu dốt của các người. Nếu như còn chuẩn mực tối thiểu của Thượng Đế ban cho là sự ngu dốt của con người, Hình như ngay cả chuẩn mực này cũng không có nốt. Giáo sư, tiến sĩ thì phải thông minh hơn những thằng khác chứ nhỉ!


Còn những trò hề như của Trung Nhân tôi không quan tâm. Làm gì còn chuẩn mực nào để bảo anh ta xấu hay tốt?!

Nếu ai đó có chút chạnh lòng thì tôi xin cảm ơn. Vâng! Nhưng chạnh lòng là chuẩn mực của Thượng Đế chứ không phải loại người như Trung Nhân.

Mặt lạ của cái gọi là "Con người"

Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013 | 00:46

Sự kiêu ngạo và ích kỉ

Con người, người ta nói, khác các thực thể thiên nhiên khác ở chỗ nó ích kỷ. Nhận định này sai bét. Tất cả mọi thực thể đều như vậy. Thậm chí: con người dường như kém ích kỷ hơn con vật. Tất nhiên, không phải vì nó tốt hơn, mà vì con người ngốc hơn.
Thế này: bởi vì chủ nghĩa cá nhân của con vật minh mẫn và tỉnh táo. Đúng hơn nữa: bởi vì sự ích kỷ của nó khách quan. Con người  muốn, cái gì nó làm đều có lợi. Nhưng” rất ít người có đủ trí óc để ích kỷ”. Chủ nghĩa cá nhân của con người, cần thừa nhận, không mấy ích lợi. Tại sao? Bởi vì nó không minh mẫn và tỉnh táo, hay nói đúng hơn: chủ quan.
Con người không khác các thực thể thiên nhiên khác ở chỗ ích kỷ, mà khác bởi vì nó chủ quan. Chủ nghĩa cá nhân của con vật rõ ràng đến nỗi có thể nói về chúng như sau: một sự ích kỷ  thiếu vắng lợi ích. Thiếu vắng lợi ích bởi vì: phi cá nhân. Và cá tính đối với sự ích kỷ tự nhiên của con người cũng gây tác hại.
Con người ngốc ở chỗ không thể trở nên ích kỷ thực sự. Sự minh mẫn và tỉnh táo của nó tắt ngấm trong quyền lợi. Nó không thiết gì khác ngoài chính bản thân. „ Tôi chỉ có cảm xúc với cái gì là chính tôi”- một nhà thơ Pháp nói.
Con người không muốn lợi ích mà chỉ muốn chính bản thân nó. Bởi vậy không vô tư. Và bản chất của điều này không phải sự ích kỷ mà là: sự kiêu ngạo. Thế gian: là cái gương.
Con người chỉ muốn, chỉ thích nhìn chính bản thân, vì thế  chỉ biết nhìn thấy chính bản thân.  Bầu trời xanh; nhưng màu xanh này là bản thân bầu trời. Nếu con người yêu một ai, nó yêu một  biến đổi suy tưởng của bản thân nó. Nó không nhìn thấy thế gian mà nhìn thấy những hình ảnh riêng của mình. Nó không nằm trong quan hệ với thế gian, mà với chính bản thân. Nó có mặt trước cái gương và sống ở đó.
Cái gương không là gì khác ngoài là góc của những trạm đỗ đối diện với thế gian. Con vật cảm thấy nó đặt bản thân nó vào giữa các sự vật, đặt cái TÔI của nó vào thế gian. Thực ra con vật không mang mình ra khỏi thế gian, mà mặc kệ bản thân ở đó. Bởi vậy thế gian của con vật: là môi trường .
Thế gian của con người: là cái gương. Bởi con người nâng bản thân lên giữa các sự vật, và đứng theo cách khi  nhìn ra thế gian, tia nhìn của nó gãy và phản chiếu lên trên bề mặt của các sự vật. Bởi vậy con người thay vì nhìn thấy các sự vật luôn luôn chỉ nhìn thấy bản thân mình.
Tính vô tư của con vật không là gì khác ngoài hành vi được thể hiện một cách khách quan; còn tính chủ quan của con người là một góc nhìn xộc xệch đối diện với thế gian. Cái con người có thể nhìn thấy từ góc xiên này chỉ có thể là hình ảnh phản chiếu của chính nó. Vị trí thế gian của con người: cái gương.
Cái mặt nạ
Có thể dễ dàng cho rằng con người lựa chọn góc của cái gương, bởi từ đấy nhìn thấy nhiều hơn. Rằng không phải thấy thế gian, mà thấy bản thân và vì không thể thấy gì khác ngoài chính bản thân, nên biết đâu sẽ nhìn sâu hơn và tầm nhìn rộng hơn, phong phú hơn. Biết đâu như thế tốt hơn: từ đây nhìn đúng hơn và rộng hơn.
Nhưng không phải như vậy.
Cái gương  là thứ dẫn dắt mắt đến một cái gì đó mà kể cả sinh linh duy nhất trên thế gian cũng không biết tý gì. Toàn bộ thiên nhiên bị phủ kín trước chính nó. Không ai có thể nhìn vào chính mắt  mình. Nhưng cái gương không phải là cái nhìn trực diện của con người với chính bản thân. Trái lại.
Một thực thể nhìn thấy mình nếu nó đặt nó vào thế gian một cách đúng đắn, vô tư, minh mẫn. Khi nhìn thấy mình là lúc nó không nhìn thấy nó. Bởi vì lúc ấy nó ở trong góc thẳng. Lúc ấy nó đứng trong điểm giữa. Đấy là sự liên kết vũ trụ của mọi thực thể tự nhiên: chúng nhìn ra thế gian một cách trung thực, đúng đắn và vì thế chúng nhìn thấy bản thân cũng như vậy.
Tấm gương là góc nhìn xiên,  cái nó chỉ ra không phải là TÔI, mà là cái mặt nạ. Mặt nạ không phải là TAO cũng chẳng phải là MÀY. Không phải là con người,  không phải là thế gian. Nó ở giữa cả hai, nhưng không trên một đường thẳng, mà trên một đường xiên, theo hướng bị gẫy. Nhưng trong gương cái nguy hiểm không phải là giả, mà là sự bất lực. Đúng hơn: bất lực không phải vì giả, mà giả bởi vì bất lực.
Người ta nói:”Có thể nói dối cả sự thật”. Bởi vì, cái con người nói ra, chỉ đúng nếu mở. Tôi nói bất cứ gì, nhưng nếu dùng điều ấy để che đậy bản thân, tôi nói dối. Tôi có thể sử dụng sự thật để nó trở thành cái vỏ cho tôi. Nếu giờ đây con người bảo: có thể sử dụng sự giả dối để nói dối, lúc đó ta biết cái gì là mặt nạ.
Sự kiêu ngạo không liên quan đến con người mà liên quan đến mặt nạ. Tất cả mọi người đều  biết,  con người chỉ có nếu mặt nạ biến mất. Nhưng mặt nạ đắt- đắt hơn con người. Bởi con người miễn phí còn mặt nạ phải trả tiền.
Miễn phí?- đúng: không cần quan trọng hóa, đơn giản, trung thực, minh mẫn. Phải trả tiền?- đúng: cần phải từ bỏ trạng thái tự nhiên, đơn giản, trung thực và minh mẫn. Bởi vậy mặt nạ đắt hơn và vì thế cần. Bởi vì đắt. Sang trọng hơn, giả dối hơn, uốn éo hơn, giàu có hơn, dễ lừa hơn.
Đấy là cái người ta gọi là sự thật của mặt nạ. Sự thật của mặt nạ không liên quan đến điều nó nói, bởi điều nó nói, giả dối; mà liên quan đến điều nó che đậy, bởi nó che đậy sự thật.
Gương vỡ
Kẻ đứng trước gương, là kẻ không có khả năng nhìn thấy cái khác ngoài bản thân mình. Nhưng không nhìn thấy bản thân mình mà thấy mặt nạ. Bởi cái gương không nói dối sự thật mà nói dối sự giả dối.
Mặt nạ không phải là Thần, mà là thần tượng. Bởi vậy số phận con người rốt cục không là gì khác ngoài sự diễn tiến của đời sống hữu cơ trong kích thước và không gian thần, nó đạt đến chính hướng ngược lại so với hướng xuất phát.
Sự kiêu ngạo không phải Thần mà chính là sự ngược lại. Cái mặt nạ là thần tượng, là thần giả. Thần tượng là sự giả bộ thần linh hoàn toàn, hay nói đúng hơn là tính chất con người hoàn toàn. Nhưng cái gì là chất người mới được chứ?- Là hành vi nâng mình lên khỏi trật tự tự nhiên của các sự vật, bởi thế còn lại một mình và chủ quan.
Bởi thế bản chất của điều này là sự kiêu ngạo. Trong kiêu ngạo con người khoác lên nó sự giả bộ thần linh, tất cả chỉ là sự giả bộ và là mặt nạ. Hình ảnh thần linh thiếu Thần: thần tượng. Đây là cái mặt nạ trong gương phản chiếu lại con người.
Sự kiêu ngạo không thất bại trong kiêu ngạo, mà thất bại sâu hơn một mức. Cái gương còn đấy. Luôn luôn giơ mặt nạ ra và sẽ tiếp tục giơ ra. Kẻ nhìn vào gương sẽ luôn luôn nhìn thấy cái nó thấy.
Đấy là trớ trêu khủng khiếp của trật tự thế gian: để cho sự vật và con người trở nên là nó, và tất cả mọi người sẽ sống một số phận tự lựa chọn. Thế gian không nhắc nhở, không sửa chữa. Thế gian còn làm cho nặng hơn: để mặc tất cả mọi con người trong hoàn cảnh họ không nhận ra khi nào đất sẽ lở dưới chân.
Con người không thất bại trong kiêu ngạo, mà trong hiện thực của quan điểm về chính nó. Không trong cái liên quan mà còn nặng hơn một mức: nó không trở nên giả trong cái nó tận mắt nhìn thấy và tin là thấy, mà trong cái nó cho rằng nó thấy.
Bởi vậy sẽ không bao giờ  nhận ra từ sự kiêu ngạo kẻ kiêu ngạo. Kẻ nào nói: tôi không kiêu ngạo,  không hề động chạm đến sự kiêu ngạo riêng của mình, chỉ che đậy, hay đúng hơn, nói dối.  Con người này  không bị lật tẩy và lung lay trong sự  kiêu ngạo của hắn, vì thế gian để mặc cho hắn cứ tiếp tục nhìn vào gương như thế và ngần ấy, như hắn muốn, để nói dối.
Thế gian không bao giờ bóc mặt nạ ra khỏi con người. Cần phá vỡ con người cùng mặt nạ, cần phá hủy nó trong mặt nạ và thông qua mặt nạ. Và sự phá vỡ này không chạm đến mặt nạ mà đến cái sau mặt nạ: sự thật. Bởi sự thật lựa chọn sự dối trá. Cái biến đi không phải cái che dấu khuôn mặt, mà chính là khuôn mặt bị che dấu.
Một lần nữa đây là sự thật của mặt nạ: mặt nạ thật sự còn lại; tiếp tục nói dối. Kể cả khi, đằng sau nó không còn gì nữa.
Có thể đứng một cách như thế nào để các tia nhìn không gẫy và không khúc xạ ngược trở lại? Một cách: tia nhìn chiếu thẳng xuyên qua không gian và chạm tới cái hướng tới? Một cách: con người nhìn xuyên suốt qua gương? Khả năng nào để con người nhìn thấu suốt xuyên qua gương, để tia nhìn của mắt không chạm tới cái mặt nạ phản chiếu lại bản thân nó, mà chạm vào thế gian? Cần phải đập vỡ gương?
Cần nhắc lại lần nữa và lần cuối cùng: Sự thật của mặt nạ.
Tất cả đều còn lại như đã và đang có.
Vị trí thế gian của con người chỉ thay đổi trong độc nhất một trường hợp duy nhất: khi nó có thể đứng thẳng trong góc nhìn và biết bước đi chân thật giữa các sự vật. Nếu có đập vỡ, không phải gương vỡ, mà là cái trong gương: thần tượng.
Bởi vậy mặt nạ là đúng, bởi sự thật xảy ra trên mặt nạ. Chỉ có thể nhìn thấy thế gian nếu con người nhìn thấy Thần chứ không phải thần tượng.
Bởi vậy Montaigne viết: „il faut oster le masque aussi bien des choses que personnes”- Cần vứt bỏ bộ mặt giả của con người và sự vật.

 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved