.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÔNG GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÔNG GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng
08:12
Kitô Giáo Tại Pháp: Tàn lụi hay chuyển mình
Written By kinhtehoc on Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012 | 08:12
Cao Sơn Michel Barnouin
Nguyên Giáo sư Đại chủng viện Xuân Bích, Phú-Xuân, Huế
Nguyễn Đăng Trúc & Đỗ Tân Hưng chuyển qua Việt ngữ
Tình trạng Kitô giáo ở Pháp hiện nay có vẻ nghịch thường. Một mặt, Kitiô giáo xem ra hùng mạnh, chi phối sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật. Mặt khác, người ta thấy Kitô giáo hầu như biến mất: các thánh đường như trống vắng tín hữu tham dự phụng vụ vào Chúa nhật. Thanh niên không tha thiết gì mấy với lý tưởng sống đời giáo sĩ phục vụ các giáo xứ hay sống đời tu trì. Giới truyền thông báo chí lại thường dửng dưng hoặc châm biếm lập trường của Giáo hội.
Nhưng qua các vị giám mục, Giáo hội tại Pháp tự đặt câu hỏi cho chính mình. Với tư cách tập thể, các ngài đã công bố một bức “Thư gởi người Công giáo ở Pháp”(Nhà Xuất Bản Le Cerf, năm 1994, được bổ túc năm 1996) với nhan đề: “Đề nghị Đức Tin trong xã hội hiện đại”. Gần đây Đức cha Hippolyte SIMON, một giám mục Pháp, nghiên cứu tận tường đức tin Kitô giáo trong xã hội ngày nay và trình bày chi tiết trong một cuốn sách. Sách được trình bày qua hình thức một cuộc đối thoại với một ký giả. Tựa đề là “Tự do hay thần tượng?” (Nhà xuất bản Cana và DB, năm 2003). Ngài đề cập tới những thần tượng của nền văn minh mãi hóa đang bị nhu cầu tiêu thụ khống chế. Đức Tin Kitô giáo đề nghị một cái nhìn mới, ngược lại, phát sinh từ sự bừng khởi của tự do hướng đến một tương lai vô tận của nhân vị con người. Chúng ta thử rút ra một vài nét chính của tác phẩm nầy.
DƯ LUẬN CÔNG CHÚNG KẾT ÁN GIÁO HỘI THUỞ XƯA
Khi nói đến dư luận quần chúng đối với Giáo hội, là nói về việc gì ? Hẳn là nói tới điều mà giới truyền thông lặp lại như một chuyện đương nhiên được mọi người xưa nay đều biết không cần chứng cớ hay biện minh làm gì. Thật ra, những nhà trí thức Pháp có ảnh hưởng vào thế kỷ thứ XVIII, trong phong trào “Ánh Sáng”, dựa vào khả năng lý trí để phê phán Giáo hội về những sai lầm gia trọng (như vụ Galilée) và những tội ác (như Tòa Án Dị Giáo). Từ những sự kiện ấy, họ bác khước niềm tin vào sứ điệp mà Giáo hội tuyên dương là được Thiên Chúa mạc khải. Cùng một trật, họ tỏ ra hâm mộ những nền văn minh khác, như nền văn minh Trung Hoa, và nghĩ rằng những nền văn minh đó đảm bảo một đời sống nhân linh vượt lên trên đời sống những Kitô hữu ở Âu châu.
Đức cha SIMON đề cập đến các nội dung nầy trong bối cảnh của vấn đề về SỰ DỮ phổ cập. Các lý thuyết gia quên vấn đề căn cơ nầy khi khai triển những kế hoạch để canh tân nhân loại, kể cả bằng võ lực. Đức Cha nhấn mạnh (trang 137) rằng “bất cứ ai muốn làm cách mạng đến nói với chúng ta rằng sự dữ sẽ được tiêu trừ là một người nói dối, và người ấy sẽ lôi cuốn nhân loại nhảy nhào vào vực thẳm để kết thúc trong kinh hoàng. Mỗi khi Kitô hữu hành động như vậy, chẳng hạn như Tòa Án Dị Giáo, thì họ cũng không thể tránh khỏi thảm họa.”
Thật thế, Giáo hội thời Trung Cổ và cho đến thời Cách Mạng Pháp đã thân cận với quyền bính của vua chúa trần thế. Giáo hội đã lạm dụng quyền nầy. Giáo hội tưởng tượng có thể sử dụng những phương tiện trần thế để bảo vệ đức tin Công giáo. Trước hết điều đó ngược lại với Phúc Âm và kế đó là vô luân, cho dẫu khi dư luận nói chung lúc bấy giờ đã chấp nhận như thế. Ngày nay Giáo hội bị xem là “mắc tội về lối thống trị nầy trong quá khứ” (tr. 94), “luôn bị ngờ vực là muốn cai quản xã hội”…”đóng vai trò tôn giáo Nhà Nước và làm tổng giám thị Quốc Gia.”(tr. 142).
Ngược lại “chúng ta đang bước vào thời kỳ Quốc Gia pháp trị và chính sách biệt lập tôn giáo” (tr. 147). Đức Cha SIMON nói rằng trách vụ thiêng liêng của Kitô giáo vẫn luôn khẩn trương. Trước đây, đối với nhiều người chủ trương ‘chính sách biệt lập tôn giáo’ có nghĩa là một ý đồ phá hại Giáo hội. Thế nhưng một chính sách biệt lập tôn giáo như thế lại giúp Giáo hội tránh được lời buộc cáo tôn giáo độc đoán chuyên quyền, và hỗ trợ cho tự do lương tâm được triển nở, một sự tự do vốn là yếu tố thiết yếu cho một đức tin chân thật. Vì vậy phải loại trừ những “khẩu hiệu lỗi thời” bởi vì“chúng ta đã sống trong một thế giới đã thay đổi. Tương quan giữa Giáo hội và xã hội dân sự đã đảo lộn” (tr. 156).
DÂN PHÁP YÊU MẾN GIÁO HỘI MUÔN THUỞ
Một điều mâu thuẫn: Một mặt nước Pháp biết mình phát sinh như một quốc gia Công giáo và luôn mãi tìm gặp ở đó nhiều giá trị văn hóa. Mặt khác nước Pháp muốn mình tân thời và không cần Thiên Chúa. Như Đức Cha SIMON nói: “Nước Pháp là nước Kitô giáo qua nhiều định chế của mình. Gia sản, những định chế lớn được hướng dẫn bởi tâm tư Kitô giáo…Những ngày lễ, những niên lịch, những tên gọi.” Dẫu vậy người ta cũng nói ngược lại rằng: “Nhưng điều đó đang tàn dần. Những ngày nghỉ lễ Phục Sinh là những ngày nghỉ ‘mùa xuân’. Những ngày nghỉ lễ Giáng Sinh là những ngày nghỉ lễ cuối năm, và càng ngày người ta càng chọn những tên tuổi trong các truyện trên đài truyền hình Hoa kỳ để đặt tên cho con cháu”(tr. 230)
Tình trạng phức tạp tương tự đối với những buổi lễ rửa tội, làm phép cưới và nghi thức tống táng: đa số dân chúng muốn cử hành những nghi lễ nầy “ở trong nhà thờ”, cho dẫu họ không sống đạo và ít tin tưởng. Bởi vì đó là truyền thống trong gia đình đã có “từ lâu rồi”, như một tập tục nối kết hiện tại với quá khứ và tạo thành sự nhất thống của toàn thể gia đình khi sum họp. Người ta tự hỏi đây có phải là điều còn sót lại của ngọn lửa Kitô giáo còn nhen nhúm hay không? Có phải đây là biểu lộ mối khắc khoải thâm sâu về ý nghĩa sự sống sự chết hay không? Đây có phải là một thứ tình cảm tôn giáo tự nhiên, độc lập với đức tin Kitô giáo đặt trọng tâm ở Chúa Giêsu Phục Sinh không? Đây hẳn là điều mà Đức Cha SIMON gọi là một thứ tình cảm tôn giáo “ngoại đạo” theo bản năng, tự nhiên và tốt lành, gắn liền với mầu nhiệm của bản tính con người, dẫu con người không hay biết, mầu nhiệm về phẩm giá vô song vì được tác tạo theo hình ảnh Thiên Chúa.Dân Pháp cũng yêu thích các ngôi thánh đường. Đó là thành phần chính của gia sản kiến trúc. Người ta thích thăm viếng, học hỏi. Người ta buồn tiếc khi thấy những ngôi thánh đường ở các làng quê bị đóng cửa. Điều đó có nghĩa là những người giữ đạo tích cực ít đông đảo hơn. Hoặc giả (phản ứng khác) là người ta dồn sức tu bổ, trang hoàng và biến thành những bảo tàng viện luôn mở cửa đón tiếp du khách. Nhưng như thế gia sản đó đã chết về phương diện đức tin. Nhà Nước đã nhận ra sự kém hiểu biết của giới trẻ đối với gia sản tôn giáo nên tổ chức ngay trong những trường công lập một chương trình giáo dục về những sự kiện tôn giáo hay cả những học thuyết tôn giáo. Nhưng sự khách quan vô tư đó có thể nói được là điều cơ bản của đức tin không? Đức tin là gì nếu không phải là một sự liên kết, một sự dấn thân tin tưởng, một kinh nghiệm tâm linh? Đức Cha SIMON thường xuyên nhấn mạnh: chỉ có đức tin mới có thể nói về đức tin, và đề nghị đức tin ấy cho người khác qua chứng nghiệm sống động và hiện thực.THIÊN CHÚA Đà BỊ LÃNG QUÊN?THIÊN CHÚA Đà TÌM LẠI ĐƯỢC ?Khi người ta lướt qua những sách vở ở đại học, những tài liệu giáo khoa, những bài báo của các ký giả hay những nghị luận về những vấn đề xã hội, nếu phải đề cập đến vấn đề tôn giáo, thì tôn giáo sẽ được nhắc nhở là những tình cảm chủ quan. Muốn nói cái gì thật thì người ta tránh nhắc đến bất cứ điều gì liên quan đến Thiên Chúa. Người ta giả thiết rằng Thiên Chúa không thể ở trong phạm trù một chân lý khách quan được chấp nhận một cách hợp lý. Người ta nghĩ rằng Ngài không hiện hữu như một thực tại, mà chỉ như một giấc mơ thi phú. Người ta quả quyết điều đó bởi vì các kiến thức khoa học không dành một chỗ nào cho Thiên Chúa hay cho ý tưởng về sự Tạo Dựng. Và người ta tin tưởng rằng không gì có thể hiện hữu ngoài điều mà các khoa học dựa trên lý trí tự nhiên hiểu biết được.Thái độ có tính cách giáo điều đó đã thống trị nước Pháp từ thế kỷ thứ mười tám và càng lâu càng mạnh mẽ hơn nữa. Thái độ đó được củng cố nơi nền văn minh đang bị các kiến thức khoa học và vô tuyến truyền hình khống chế. Những kiến thức ở mức nầy chất đầy não bộ chúng ta bằng số lượng dữ kiện và hình ảnh rất hấp dẫn, nhưng không dành một chỗ nào cho những thắc mắc quan trọng hơn đối với cuộc sống cá nhân chúng ta. Kỳ thực, chúng ta là ai? Tại sao chúng ta sống? Xã hội, với tiền của và phương tiện truyền thông “có thể chi phối tâm trí để cắt xén chúng ta ... ra thành những phần tử định lượng được, mặc cả được, trao đổi được”. Mỗi một người trở thành “một cá nhân ở giữa những cá nhân lưu động khác…một cá nhân hoán chuyển nhau được, chỉ đơn thuần là một con số mà thôi, một con mối trong tổ mối”. Trong lúc đó “con người, có khả năng tự nhận thức, là một nhân vị tuyệt đối cá biệt. Nhưng cũng một trật con người có thể cảm nghiệm nỗi vui thâm sâu tự biết mình hiện hữu trong sự thông hiệp với người khác”. Và“trong một tương giao chân thành có tính cách bằng hữu, tríu mến hay thiết thân cha-con”. Chúng ta phải bảo vệ “chỗ nương náu cuối cùng của nhân loại chúng ta…của sự tự do chúng ta, của quyền lợi được sống của chúng ta trong những mối tương giao thân mật”. Bởi vì “mỗi người phải gánh trách nhiệm về cách họ đối xử đối với người khác và đối với Thiên Chúa”. Thật ra chính Thiên Chúa đảm bảo sự siêu việt tâm linh và sự tự do cá nhân của chúng ta theo hình ảnh hiệp thông của Ngài ở trong Ba Ngôi. (trang 83-85).Một lối ý thức về cuộc sống con người và ý thức chính thân phận con người như thế luôn gắn liền với một nỗ lực giải thoát (khỏi tăm tối), một kinh nghiệm giúp chúng ta tìm lại Thiên Chúa.
THIÊN CHÚA VÀ KIẾN THỨC KHOA HỌC: XUNG KHẮC HAY LIÊN MINH ?
Ở Pháp thông thường người ta cho rằng hiểu biết theo lý trí luôn đi đôi với chủ trương về sự xung đột giữa ý niệm về Thiên Chúa và khoa học. Muốn cắt nghĩa vũ trụ, thì cứ việc khám phá những nguyên nhân tiềm ẩn của mọi hiện tượng quan sát được. Vì khoa học chỉ quan sát điều gì thuộc về vật chất, thì chỉ cần những nguyên nhân vật chất là được. Do đó không có vấn đề Thiên Chúa ở đây. Và nếu có vấn đề Tạo Dựng, thì chỉ cần đặt câu hỏi mà những tư tưởng gia lỗi lạc không ngừng lặp lại: - tại sao thế giới hiện hữu hơn là hư không?
Nhưng trước khi đạt tới khoa học duy lý, nhân loại đã tưởng tượng những nhân vật thần thoại để cắt nghĩa những hiện tượng vũ trụ tự nhiên mà nguyên nhân còn mơ hồ. Chẳng hạn những cơn giông bão, sự vận hành của các tinh tú. Thường thường những người có tín ngưỡng đã nói tới Thiên Chúa và những sự can thiệp nhất định nào đó của Ngài như muốn nói rằng khoa học chưa cắt nghĩa được. Và chỉ thế thôi. Nhưng người ta lại tưởng tượng một cách sai lầm rằng có một lãnh vực riêng được Thiên Chúa cai quản mà những nguyên nhân khoa học không mảy may chi phối. Một ý tưởng khờ khạo như thế xuất hiện và lên án tố cáo Thiên Chúa chẳng hạn gây ra những trận động đất nào đó trên quả địa cầu. Và với sự tiến bộ của khoa học, bấy giờ người ta lại nghĩ rằng không có Thiên Chúa nào can dự vào đó cả.
Vài tư tưởng gia áp đặt ý tưởng về sự xung khắc của hai lực khống chế, làm như Thiên Chúa và nhân loại cùng chung một thân thế. Và sự đối kháng “như thể con người chiếm một phần đất và Thiên Chúa chiếm phần còn lại”…”Nhiều người đã trình bày tương tự về một thứ cạnh tranh giữa Thiên Chúa và nhân loại như thể chúng ta tranh giành nhau một không gian giới hạn.”
Thực ra “con người càng cao cả thì càng phải tôn vinh Đấng Tạo Hóa, càng triển khai sự cao cả của Thiên Chúa”…”Thiên Chúa càng cao cả thì tặng phẩm Ngài ban cho con người càng lớn lao”. Như thế “chúng ta tự tôn vinh thân phận của chính chúng ta”. Vả lại Đức Kitô đã nói cho chúng ta rằng “Thiên Chúa không ở trước mặt chúng ta như một bậc thầy để thống trị chúng ta, để hạ thấp chúng ta, nhưng như là một Đấng…ban cho chúng ta một phương tiện để hoàn thành chính chúng ta” (tr. 102-104). Ngài đích thật là một người cha.
Vả lại “ý nghĩa về sự tự do có trách nhiệm” không ngăn cản việc“nhìn nhận chúng ta cũng cần một Đấng Cứu Thế.” Nhờ đức tin, chúng ta đặt “những bước chân chúng ta vào những bước chân của Đức Kitô để cứu thoát chúng ta, để giúp chúng ta vượt qua được sự chết ngõ hầu cùng với Ngài đạt tới sự phục sinh.” (tr. 105).
Nhưng đồng thời, người ta cũng bắt đầu nhận ra rằng lập luận của giới trí thức duy khoa học của Pháp về Thiên Chúa là một ý thức hệ chỉ biết đến đồ vật .. Thiên Chúa họ nêu lên vốn xa lạ với Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mạc khải và Giáo hội đề nghị với chúng ta.
KITÔ GIÁO, VẤN NẠN CHUNG CỦA THẾ GIỚI
Người Pháp thích tưởng tượng họ đi trước những dân tộc khác trong lãnh vực trí thức và văn hóa. Điều đó đôi khi cũng có đúng. Giờ đây nên công nhận rằng nền văn minh nhân loại chúng ta có tính cách thế giới, đâu đâu đều có những sự tiến hóa tương tự. Nếu người ta tưởng rằng những xứ xưa kia nổi tiếng là Kitô giáo đang bị khủng hoảng, thì cần phải nói thêm là sự khủng hoảng đó là chung cho cả thế giới, cho dù ở dưới những hình thức khác nhau tùy theo địa phương.
Khắp nơi đều có những cố gắng để kiểm thảo, những trào lưu canh tân, những tiến bộ để tân phúc âm hóa trong từng địa hạt và địa phương nhất định. Đức Cha SIMON đúng là một chứng nhân của sự đổi mới đó. Sách của ngài dẫn chứng những thành công kiểm chứng được, và đồng thời không che giấu một số những yếu đuối và dòn mỏng. Tác giả không nhằm trình bày một Kitô giáo hời hợt dễ dãi, nhưng nhấn mạnh đến những yêu sách của một đức tin chân thật ở nơi Đấng Phục Sinh (tr. 90) và ở nơi mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa (tr. 82). Chân lý đòi buộc sự can trường nhưng đem lại tự do.
Nhất là cần biết ngờ vực chính mình khi đoán xét người khác. Mỗi người đều là nạn nhân của sự cám dỗ dễ bị thu hút bởi những thần tượng mà xã hội làm cho chúng ta tôn sùng, và của những xét đoán vội vàng mà chúng ta muốn dùng để khống chế những ai nghe chúng ta. Chúng ta hãy để Thiên Chúa đoán xét, và nên dấn thân cải thiện những thiếu sót và điều chỉnh lệch lạc trong dư luận. Chúng ta cần giúp mỗi một người tự giải thoát khỏi áp lực buộc họ hành động và suy nghĩ chung chung như mọi người. Bởi vì khuynh hướng ấy có lẽ sẽ đưa tới sự tăm tối hơn là ánh sáng.
Trong những năm sắp đến, hẳn sẽ có những đổi thay và chúng ta lại có dịp để học hỏi./.
| |
Chuyên mục
CÔNG GIÁO
23:38
Giêsu Kitô, Con Người thương xót
Written By kinhtehoc on Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012 | 23:38
Nguyễn Đăng Trúc
| |
(Bài giảng của Đức Hồng Y Albert Decourtray[1], Tổng Giám Mục Lyon, thành viên Hàn Lâm Viện Pháp Quốc) - Nguyễn Đăng Trúc chuyển qua Việt ngữ
Không có ai tôn trọng người khác như Con Người ấy.
Đối với Con Người nầy, kẻ khác luôn vượt lên trên và cao quí hơn điều mà các tiền kiến muốn đánh giá, dẫu đó là định nghĩa của các nhà văn hóa hay các bậc thông hiểu Lề luật. Người ấy luôn thấy nơi ông hay bà mà Người gặp một tia hy vọng, một lời hứa sống động, một kẻ có thể phi thường, một người được Thiên Chúa gọi để thực hiện một ngày mai tươi sáng, vượt lên trên và bất chấp những giới hạn, tội lỗi và đôi khi là những tội ác của họ.
Có lúc, Người còn nhìn vào thực trạng xem ra khốn khổ của kẻ đối diện để mặc khải một sự lạ lùng bí ẩn, để suy niệm và tạ ơn!
Người ấy không nói : Bà ấy lung tung, nhẹ dạ, ngu ngốc ; bà ấy xếp nếp theo thói đạo hạnh và tôn giáo địa phương thô thiển, ấy cũng chỉ là một thứ đàn bà ! Nhưng Người đến xin bà một ly nước và khởi đầu bắt chuyện với bà.
Người ấy không nói : Đây là một loại gái hư, một thứ đàn bà bán thân mất nết. Ngài nói : Người nữ ấy có nhiều may mắn để hưởng Nước Thiên Chúa hơn những kẻ sống bám tiền của hoặc huyênh hoang về nhân đức và hiểu biết của mình.
Người ấy không nói : Người đàn bà nầy chỉ là gái ngoại tình. Người nói : Tôi không lên án bà. Hãy đi đi và đừng phạm tội nữa.
Người ấy không nói : Người đàn bà tìm cách đụng đến áo mình chỉ là một thứ kinh loạn. Người lắng nghe bà, nói với bà và chữa lành bệnh cho bà.
Người ấy không nói : Bà già ấy bỏ tiền xu cắc vào hòm cúng để giúp sinh hoạt đền thờ là một người đàn bà mê tín. Nhưng Người nói bà ấy thật phi thường và ta cần noi theo gương vô vị lợi của bà.
Người ấy không nói : Bọn trẻ nầy chỉ là những đứa nhãi con. Người nói: Các người hãy để chúng đến với tôi và cố sống giống như chúng.
Người ấy không nói : Tên nầy chỉ là một thứ công chức hư hỏng, nịnh bợ quyền thế và bóc lột kẻ nghèo để vinh thân phì gia. Người tự đến ngồi vào bàn với người nầy và quả quyết rằng nhà ông ta đã nhận ơn cứu độ.
Người ấy không nói như những kẻ quanh mình : kẻ mù kia hẳn phải đền tội của mình hoặc mọi tội của tổ tiên mình. Người nói rằng người ta hoàn toàn lầm lạc khi suy nghĩ như vậy. Người làm cho mọi người chung quanh, các Tông đồ, các ký lục và Pharisêu ngạc nhiên, khi Người chỉ rõ rằng kẻi ấy đang hưởng ơn cao quí của Thiên Chúa : Hành động của Thiên Chúa phải được thể hiện ra trong ông ta.
Người ấy không nói : Người sĩ quan nầy chỉ là một kẻ xâm lược. Người nói: Tôi chưa hề thấy một đức tin nào như thế trong Israel.
Người ấy không nói : Tên thức giả nầy chỉ là một loại trí thức. Người mở đường cho ông ta được tái sinh trong Thánh Thần.
Người ấy không nói : Tên nầy chỉ là thứ đạo tặc. Người ấy nói với ông ta: Hôm nay, Tôi sẽ ở với anh trên Thiên đàng.
Người ấy không nói : Tên Giuđa nầy luôn mãi chỉ là một phường phản bội. Người để cho ông ấy hôn mình và nói với ông: Hởi bạn của tôi.
Người ấy không nói: Tên khoác lác nầy chỉ là một kẻ bội nghĩa. Người ấy nói với ông : Phêrô, bạn thương ta không?
Người ấy không nói : Những thầy cả thượng phẩm nầy chỉ là những kẻ phán xét bất công, vua nầy chỉ là phường múa rối, tên toàn quyền đó chỉ là đứa khiếp nhược, đoàn lũ người đang bêu rêu mình chỉ là một lũ đê tiện, các người lính đang hành hạ mình chỉ là quân bạo hành tra tấn. Người nói : Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm...
Người Giêsu đã không bao giờ nói : Không có gì tốt nơi người nầy, nơi người nọ, nơi chốn nầy, nơi môi trường kia...
Trong thời đại chúng ta, hẳn Người sẽ không bao giờ nói : Ấy chỉ là một kẻ cuồng tín, chỉ là một thứ chạy theo mốt tân thời, chỉ là một tên tà phái, phát-xít, vô thần, dị đoan...
Với Người ấy, những người khác, dẫu họ là ai, họ đã làm gì, thuộc thành phần nào, thành tích, danh tiếng họ thế nào, thì luôn luôn họ là những con người được Thiên Chúa yêu thương.
Không hề có người nào trả lời cho những người khác như Con Người ấy. Người ấy là Duy Nhất.
Người ấy là Con duy nhất của Đấng làm cho mặt trời chiếu sáng trên kẻ lành cũng như trên kẻ ác.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Xin thương xót chúng tôi, là những kẻ tội lỗi!
[1] Cố Hồng Y Albert Decourtray, thành viên Hàn Lâm Viện Pháp Quốc :"Chúa Giêsu và sự tôn trọng người khác", trích lại từ tập san Định Hướng,số Mùa Đông 1994
| |
Chuyên mục
CÔNG GIÁO
03:51
Đôi nét Kitô giáo
Written By kinhtehoc on Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012 | 03:51
Đôi nét Kitô giáo
Nguyễn Ước
I. Lịch sử
Một tôn giáo thế giới; tính tới đầu thiên niên kỷ thứ ba có tới gần hai tỉ tín đồ. Kitô giáo đặt trọng tâm vào cuộc đời và công cuộc của *Giêsu Nadarét tại Israel và triển khai từ Do Thái giáo. Các tín đồ tiên khởi là người Do Thái, những kẻ, sau cái chết và sống lại của Đức Giêsu, tin rằng ngài là Đấng cứu độ, hay Đức Kitô, kẻ đã được các ngôn sứ (prophet) hứa trong Kinh thánh Cựu Ước, và trong quan hệ độc nhất với Thiên Chúa (Thượng đế), mà ngài được tuyên bố là Con của đấng ấy và là Ngôi Lời (Logos).
Khi còn sống, Đức Giêsu chọn 12 người làm Tông đồ, hình thành hạt nhân của Giáo hội như một hiệp hội hay một cộng đoàn của các tín đồ, được gọi đến cùng nhau để thờ phượng Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô, Chúa của lịch sử, đấng sẽ đến thêm lần nữa trong thời điểm đại khánh của Nước Trời.
Phúc âm (Tin mừng) được công bố lần đầu tiên bằng lời nói, nhưng cuối cùng, vào thế kỷ thứ nhất sau C.N. được tóm gọn thành văn bản và được chấp nhận là sách thiêng liêng có thẩm quyền, làm thành Tân Ước, được hiểu như một sự viên thành các kinh sách Do Thái hoặc Cựu Ước. Qua những chứng nhân của 12 thủ lãnh đầu tiên (Tông đồ) và những người kế tục họ, đức tin Giáo Hội hoặc “Đạo” (Way), bất chấp sự bách hại vào những thời điểm và địa điểm khác nhau, nhanh chóng lan rộng khắp thế giới Hi Lạp và La Mã .
Tới năm 315, Kitô giáo được Hoàng đế Constantine tuyên bố là tôn giáo chính thức của Đế quốc La Mã. Giáo Hội này sống sót qua cuộc tan rã của Đế quốc ấy và “Đêm trường Trung Cổ”, bằng cuộc sống và nhân chứng của các nhóm tu sĩ trong các tu viện, và hình thành cơ sở của văn minh thời Trung Cổ ở châu Âu.
Bị chia tách như là kết quả của sự khác biệt trong học thuyết và cách thực hành, những phân rẽ chủ yếu gồm Giáo hội Chính thống giáo phương Đông; Giáo hội Công giáo La Mã, thừa nhận Giám mục địa phận La Mã làm thủ lãnh, với danh xưng Đức Thánh Cha (Pope), thường gọi một cách thế tục và không hẳn đúng là Đức Giáo hoàng; và Giáo Hội Tin Lành (Protestant), phát sinh từ sự nứt rạn với Giáo hội La Mã trong phong trào Cải cách vào thế kỷ 16.
Hết thảy người Ki tô giáo đều thừa nhận thẩm quyền của Kinh Thánh (Bible), đọc trong các buổi thờ phượng công khai, diễn ra ít nhất mỗi tuần một lần và ngày Chủ nhật, ngày đầu tiên của một tuần, để hân hoan tưởng nhớ cuộc sống lại của Đức Giêsu Kitô. Hầu hết các Giáo hội thừa nhận ít nhất hai phép bí tích là phép Thanh tẩy (rửa tội để nhập giáo) và phép Thánh Thể (tiếp nhận Mình thánh Chúa trong thánh lễ Misa) là cốt yếu.
Sự thúc đẩy truyền bá Kitô giáo tới thế giới không Kitô giáo bằng các phong trào truyền giáo, đặc biệt trong hai thế kỷ 19 và 20 vừa qua, đưa tới kết quả là tạo dựng được vô số giáo hội rất vững mạnh tại các xứ đang phát triển ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ. Tại Việt Nam, nó có chừng 6 triệu tín đồ, khoảng 8% dân số. Các phong trào đại kết mạnh mẽ trong thế kỷ 20 cổ vũ một Hội đồng các Giáo hội, tìm cách phục hồi sự hiệp nhất các Giáo hội đang phân ly.
II. Đức Giêsu Kitô (k.6/5 tr.C.N.-k.30/33 s.C.N.)
Khuôn mặt trung tâm điểm của đức tin Kitô giáo, đấng có đặc tính là “Con Thiên Chúa” mà công cuộc cứu chuộc của ngài được đánh giá một cách truyền thống là niềm tin đá tảng của mọi tín hữu Kitô giáo.
Chữ Kitô (Christ, có gốc từ tiếng Hi Lạp Christus) được gắn liền với tên Giêsu trong các cộng đoàn Kitô hữu với niềm xác tín rằng ngài là đấng Messiah Do Thái. Theo kinh sách Do Thái, Messiah là đấng được xức dầu để lên ngôi vua. Messiah theo Cựu Ước cũng là đấng mà Thượng đế đã hứa là sẽ ra đời để cứu chuộc loài người sau cuộc sa ngã của Adam và Eva tại vườn địa đàng. Như thế, Messiah hay Kitô theo Tân Ước có nghĩa là Đấng Cứu độ hay Chúa Cứu thế.
Giêsu người Nazareth được mô tả là con của ông Giuse và bà Maria, mà người ta tin là đã thụ thai ngài một cách đầy phép lạ do bởi Thánh Linh (Chúa Thánh Thần), theo hai sách Phúc âm của Luca và Matthêu. Rõ ràng là Đức Giêsu ra đời tại Bêlem khoảng năm 6 hoặc 5 trước C.N. (trước ngày băng hà của hoàng đế Hê-rô-đê Cả). Thế nhưng ngài bắt đầu sứ vụ rao giảng tại Nadareth. Sau khi chịu phép thanh tẩy của Gioan Baotixia bên dòng sông Jordan (có lẽ vào năm 28 hoặc 19, theo Luca 3:1). Đức Giêsu qui tụ một nhóm 12 môn đệ thân cận, còn được gọi là các tông đồ, một con số có lẽ tượng trưng cho 12 bộ tộc của Israel, và có ý chỉ mục tiêu cải cách tôn giáo Do Thái vào thời của ngài.
Các tường trình chính về sứ vụ của Đức Giêsu là bốn cuốn Phúc âm, được gọi là Tân Ước, trong đó cho thấy ngài tuyên bố sự đến của vương quốc của Thượng đế, đặc biệt Nước Trời ấy nhận vào những kẻ bị áp bức và những kẻ nghèo khó. Rõ ràng là ngài hoạt động tại các thôn làng và xứ Galilee thay vì tại các thị trấn và thành phố. Và theo tường trình trong các sách Phúc âm , Đức Giêsu làm nhiều phép lạ chữa bệnh, trục quỉ ám và một số phép lạ “thiên nhiên” thí dụ làm lặng yên bão tố.
Các tường trình này cũng mô tả những xung khắc với giới Pharisiêu, gồm các học giả và người thế giá thời đó, về việc Đức Giêsu hành xử độc lập thẩm quyền tiên tri và đặc biệt ngài tuyên bố tha thứ các tội lỗi. Thế nhưng vụ hàng giáo phẩm Do Thái giáo bắt bớ ngài dường như là hậu quả trực tiếp hơn từ hành động của ngài chống lại Đền thánh Giêrusalem. Không chắc chắn về việc sứ vụ của Đức Giêsu kéo dài trong bao lâu nhưng Phúc âm thánh Gio-an cho ta ấn tượng là thời kỳ rao giảng đó kéo dài 3 năm.
Ngài bị hành quyết bằng cách đóng đinh vào giá thập tự theo lệnh của Pontius Pilate, quan trấn thủ người La Mã, do bởi sự thúc giục của giới thẩm quyền Do Thái và có lẽ cũng do bởi những hoạt động gây bất ổn của ngài. Thời điểm của cuộc tử nạn đó cũng không chắc chắn, nhưng thông thường được xem là năm 30 hoặc 33. Các tường trình về sự sống lại của ngài từ cõi chết được bảo lưu trong các sách Phúc âm, các thư của Phao-lô, và cuốn Sứ vụ của các Tông đồ cũng đề cập tới việc sau đó ngài lên trời.
Trong giới phê bình Kinh Thánh hiện đại, các sách Phúc âm, nguồn thông tin về cuộc đời của Đức Giêsu, là đối tượng thắc mắc đáng kể về tính lịch sử của nó. Một phần vì nhìn theo những dị biệt trong chính những tường trình của các sách Phúc âm (với những dị biệt giữa cuốn Phúc âm của Gio-an và ba cuốn còn lại - được gọi là Phúc âm Nhất lãm – đã gieo hoài nghi lên cuốn thứ nhất).
Chủ trương phê bình hình thức chú ý tới những ảnh hưởng tác động lên các “truyền thống Giêsu” trong giai đoạn trước khi các sách Phúc âm được viết ra, vào thời điểm các truyền thống ấy được lưu truyền chủ yếu trong các cộng đoàn nhỏ bằng truyền khẩu. Chủ trương phê bình giảm thiểu thì thêm vào đó bằng cách chú ý tới vai trò sáng tạo của những người viết sách Phúc âm.
Một số học giả hoàn toàn bi quan về các nỗ lực tái xây dựng cuộc đời của Đức Giêsu từ các nguồn sách Phúc âm chính thức ấy; họ phân biệt giữa “Giêsu của lịch sử” và “Đức Kitô của đức tin”, và xem chỉ có cái thứ hai là có ý nghĩa về mặt thần học đối với đức tin. Các học giả gần đây hơn thì gắn liền tầm quan trọng lớn lao hơn vào Đức Giêsu lịch sử thay cho đức tin Kitô giáo, và cách riêng đưa ra những nỗ lực để trình bày một giả thuyết đáng tín nhiệm về Đức Giêsu lịch sử trong liên quan tới hoàn cảnh xã hội, chính trị và văn hóa tại Palestine vào thời Đức Giêsu, thế kỷ thứ nhất sau C.N.
Cũng có thể tìm thấy các đề cập hữu hạn về Đức Giêsu trong các tác phẩm của sử gia Do Thái Josephus và các sử gia La Mã Tacitus và Suetonius và một số truyền thống Kitô giáo phi qui điển khác, được luân lưu về Đức Giêsu, trong các văn bản mà nhiều cái được tìm thấy trễ và có lẽ là giả mạo./.
Chuyên mục
CÔNG GIÁO
03:56
Hỗ trợ đào tạo hay là một cách để thu hút chất xám
Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012 | 03:56
Hỗ trợ đào tạo hay là một cách để thu hút chất xám

Thạc sỹ viễn thông trẻ Việt Nam tại Pháp
| Đỗ Đăng Giu |
Thạc sỹ viễn thông trẻ Việt Nam tại Pháp
Chuyện Iran
Đầu năm 2003, các nhà hữu
trách của Khoa Kỹ sư Điện lực Đại học Stanford đã sửng sốt nhận thấy là, trong
cuộc thi lựa chọn sinh viên vào làm tiến sĩ (PhD), mấy sinh viên đỗ đầu đều cùng
xuất thân từ một trường, đó là Đại học Sharif ở Teheran, thủ đô Iran.
Stanford là
trường mà rất nhiều sinh viên Iran tới học. Nhưng đó không phải là trường duy
nhất được sinh viên Iran lựa chọn. Các trường nổi tiếng khác như MIT, Caltech
... đều đã nhận thấy số sinh viên của xứ này tới xin học ngày một gia tăng. Ở
các nước khác như Canada, Úc, Anh Quốc... người ta cũng thấy có một chiều hướng
tương tự.
Sinh viên của
Đại học Sharif, cũng như của một vài đại học khác của Iran như ĐH Teheran, ĐH
Công nghệ Isfahan đã lập được những thành tích sáng chói trong các cuộc thi tài
quốc tế như các Olympiades về mọi ngành khoa học như Toán, Vật lý, Hoá học, Máy
tự động. Nhờ những kết quả này mà tỉnh Isfahan đã được quyền tổ chức Olympiades
về Vật lý, một vinh dự mà không một xứ nào ở Trung Đông đã
có.
Trước hiện
trạng đó, những công ty kỹ nghệ cao của Mỹ đã đứng rình ngay ở phía sau. Các
hãng Google, Yahoo ... đã lấy được hàng trăm sinh viên Iran về làm cho họ, cũng
như rất nhiều viện nghiên cứu và đại học khác. Những sinh viên đã lấy được những
giải Olympiades đặc biệt rất được chiêu đãi. Theo thống kê, 90% sinh viên Iran
được những giải này đã ra ngoại quốc du học.
Tại sao lại có hiện tượng
đó?
Iran là một
xứ tuy có nhiều dầu hoả nhưng đời sống dân chúng rất khó khăn, do hệ thống chính
trị nội bộ và chính sách bế quan toả cảng của các nước Tây phương đối với xứ
này. Lương bổng, nhất là lương công chức, rất thấp: người ta thường thấy những
giáo sư, ngoài giờ làm việc, còn phải đi làm thêm ở ngoài, kể cả đi lái taxi để
sinh sống. Có nhiều lý do cho ta giải thích tại sao sinh viên Iran lại giỏi như
vậy, trong đó có hai lý do chính:
- Iran là một nước có một truyền thống học hỏi cao, cũng như các quốc gia theo Khổng giáo (như Việt Nam). Trong các gia đình, cha mẹ thường hy sinh tất cả để con cái có điều kiện được học lên cao, và học giỏi.
- Các sinh viên thường rất chăm học và hết sức cố gắng để có hy vọng được vào những trường nổi tiếng. Trong số khoảng một triệu rưỡi sinh viên thi vào các đại học, chỉ có 1% được nhận vào những trường kể trên.
Tuy nhiên,
vấn đề đặt ra cho các sinh viên này là, một khi ra trường, họ không kiếm được
việc làm xứng đáng với tài năng và cố gắng của họ. Vì vậy, du học là phương pháp
giải thoát. Theo lời của một cựu sinh viên ĐH Sharif: "Khi bạn sống ở Iran và chứng kiến những bực
bội của cuộc sống hằng ngày, bạn mong ước được rời khỏi xứ, và sách vở và học
hành là những chìa khoá để có thể có một đời sống tốt đẹp hơn. Nó hơn cả là học
hành, nó trở thành một ám ảnh đưa bạn đến việc hằng ngày cố gắng dậy sớm từ 4
giờ sáng để có thể học thêm được vài giờ nhiều hơn các bạn
bè."
Kết quả là,
phần lớn các sinh viên giỏi đi du học và cái thành công của sinh viên Iran trong
việc học hành trở thành một thảm hoạ cho xứ đó: sinh viên thành tài chỉ có một
mong ước là đi ra ngoại quốc. Ngược lại, đó là một dịp may cho các đại học và
các hãng công nghệ cao của nước ngoài. Họ sẽ dùng đủ mọi phương tiện và mánh
khoẻ để lôi kéo những người này tới làm việc cho họ. Đó là một sự mất chất xám
trầm trọng cho Iran.
Trông người lại nghĩ tới
ta
Thật không có
gì khó: ta chỉ cần thay tên Iran bằng Việt Nam, và thấy tất cả những gì viết ở
trên đều đúng cho xứ ta vậy. Sinh viên Việt Nam cũng giỏi, hiện tượng mất chất
xám cũng đang xảy ra một cách trầm trọng.
Hiện nay, rải
rác trên toàn thế giới, có khoảng 30 ngàn sinh viên Việt Nam đang du học. Trong
những năm gần đây, số sinh viên đi sang các nước Tây phương, nhất là Mỹ và các
nước nói tiếng Anh (Úc, Canada, Anh Quốc...) ngày càng nhiều. Chỉ có một phần
nhỏ các sinh viên này là những người có học bổng quốc gia hoặc nước ngoài, còn
phần đông là đi tự túc.
Hiện trạng
này đem lại những thiệt hại cho quốc gia về nhiều phương
diện:
- trước hết, như đã nói ở trên, thiệt hại lớn nhất là mất chất xám. Cần nhớ rằng, những sinh viên du học là thành phần ưu tú. Ngoài những sinh viên có thành tích trong các cuộc thi quốc tế ( như olympiades ), ngay những sinh viên đi du học tự túc cũng phải là những người giỏi thì mới được nhận vào học trong những đại học có tiếng ở nước ngoài. Nói một cách khác, chính những phần tử ưu tú của quốc gia lại bị mất đi. Những học bổng nước ngoài, những chương trình đào tạo chất lượng mà các nước thành lập ở Việt Nam thực ra chỉ là những phương cách trá hình để chọn lựa và bắt cóc những thành phần ưu tú.
- thiệt hại thứ nhì cũng rất đáng kể là mất ngoại tệ. Để có một ý niệm về vấn đề này, ta chỉ cần biết là chi tiêu cho học phí và sinh sống trong các nước phát triển là khoảng từ 20 tới 40 ngàn USD một năm (trừ ở Pháp và một vài nước ở châu Âu không phải trả học phí). Vậy nếu ta trừ đi những sinh viên có học bổng hoặc có người thân sống ở nước ngoài hỗ trợ, còn lại khoảng hơn một nửa tổng số được hỗ trợ bởi gia đình, và với chi tiêu trung bình là 30 ngàn USD một năm, ta thấy là tổng số tiền thất thoát ra nước ngoài lên tới gần nửa tỷ USD mỗi năm! Việc Nhà nước không phải lấy tiền ở ngân quỹ ra (và có lẽ vì vậy mà Nhà nước không quan tâm!) không có nghĩa là quốc gia đã không mất ra ngoài một số tiền lớn.
|
Trong vòng 15 năm
qua đã có hơn một trăm sinh viên ưu tú của Việt Nam được học bổng sang học ở trường Bách khoa (Ecole Polytechnique)
Pháp. Cho tới nay, mới có 4 người thành tài trở về nước. Nhân dịp Thủ tướng Việt
Nam tới thăm trường Bách khoa này hồi tháng 6 năm ngoái, ông hiệu trưởng của
trường đã có nhận xét sau đây về những sinh viên này cũng như những sinh viên
đang du học ở những nơi khác: ... (
trong tình trạng hiện hữu ) một số
những người này sẽ không trở về nước sau khi học xong. Chỉ có một cuộc cải tổ
các đại học, các trường kỹ sư lớn và những viện nghiên cứu Việt Nam, cùng với
một sự tăng trưởng rõ rệt về lương bổng cho các cán bộ cao cấp, mới có thể làm
giảm bớt hiện tượng mất chất xám và lôi kéo được thành phần ưu tú đang sống ở
nước ngoài. Đối với những nhân tài của tương lai này, và đặc biệt là những sinh
viên của trường Bách khoa, nước Việt Nam cần phải trình bày những viễn tượng hấp
dẫn
hơn.
|
Khi
gửi sinh viên đi du học ở nước ngoài, Chính phủ cũng như gia đình cho rằng sau
này một khi thành tài, những sinh viên này sẽ trở về Việt Nam với những hiểu
biết và cái nhìn mới để giúp ích cho xứ sở. Sự thật ra sao? Ta hãy nhìn gương
của Trung Quốc: trong 20 năm, từ 1985 tới 2005, đã có 850 ngàn sinh viên đi du
học ở ngoại quốc, phần lớn ở các nước Tây phương. Kể tới năm 2005, số sinh viên
thành tài trở về nước là 40 ngàn người, tức là 5%! Cũng cần phải nói thêm là
sinh viên thành tài càng giỏi bao
nhiêu thi xác suất hồi hương càng nhỏ bấy nhiêu vì họ bị các đại học và các hãng
công nghệ cao nước ngoài bắt cóc bằng những lương bổng và lợi tức rất lớn.
Nói như vậy
không có nghĩa là không nên gửi sinh viên đi du học. Ngược lại, lớp trẻ ưu tú
của Việt Nam cần được đi ra ngoài để học hỏi những cái hay của các nước tiền
tiến. Vả lại, trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, dù có muốn đi nữa, Nhà
nước cũng không thể cấm đoán không cho sinh viên đi du học. Vấn đề là làm thế
nào để sau khi thành tài, những người này sẽ trở lại quê hương để giữ nhiệm vụ
hướng dẫn.
Từ vài năm gần đây, Trung Quốc đã nhận ra
điều này và đã có những cố gắng đáng kể để thu hút lại những nhân tài trẻ du học
ở nước ngoài. Những cố gắng này nằm trên ba phương diện
:
- trước hết về lương bổng, những nhân tài trở về nước được hưởng lương cao dựa trên khả năng, tuy không bằng lương ở các nước tiên tiến nhưng cao hơn lương của cán bộ nội địa và đủ để cung cấp cho một đời sống bình thường
- cung cấp những điều kiện thuận tiện cho việc làm phù hợp với khả năng
- khuyền khích hồi hương bằng những biện pháp đặc biệt như việc để cho các chuyên viên xin tạm nghỉ việc trong một thời gian ngắn ( một vài năm ) ở chỗ đang làm để về làm thử trong nước để quan sát tình hình.
Những biện pháp này đã có những hiệu quả tốt:
không những người Trung Hoa mà ngay cả người nước ngoài cũng đang bắt đầu tới
làm việc ở Trung Quốc. Đây là một hướng đi mà Chính phủ Việt Nam cần nghiên cứu
và áp dụng, hầu thu hút lại một phần những chất xám đang ( và còn tiếp tục
) bị thất thoát ở nước
ngoài.
Chuyên mục
CÔNG GIÁO
01:57
MỘT NỀN NHÂN HỌC VỀ TÍNH DỤC CON NGƯỜI
Written By kinhtehoc on Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011 | 01:57
See Also
| 2/28/2004 | Tạo Sinh Vô Tính (Cloning) và Luân Lý Đạo Đức | Bùi Hữu Thư |
| 11/10/2007 | Tranh luận về cái chết của bộ não và những hệ quả luân lý | Lm. Trần Mạnh Hùng, C.Ss.R. |
| 4/14/2005 | Đức Thánh Cha Gioan Phao lồ II nhận định về luân lý | Phó Tế Huỳnh Mai Trác dich |
| 7/4/2008 | Việt Nam trong dòng chảy lịch sử nhìn dưới góc nhìn của luân lý | Nguyễn Đức Long |
| 3/26/2004 | Khi nào chiến tranh được coi là chính đáng có thể biện minh được về mặt luân lý, đạo đức ? | Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn |
| 11/21/2007 | Tình ngay mà lý gian | Phó tế Nguyễn Mạnh San |
| 6/3/2010 | Tôi được yêu nên tôi hiện hữu | Lm Nguyễn Hữu Thy |
| 2/4/2010 | Nghiên cứu mới cho thấy lợi ích cuả giáo dục về tiết chế tình dục | Trần Mạnh Trác |
| 11/7/2008 | Tương quan giữa Đức Tin và Lý Trí | Quang Huyền, OFM |
| 6/3/2008 | Viện Đại Học Đà Lạt (1957-1975): Lý tưởng và Mục tiêu Giáo dục (2) | Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm |
| 4/11/2008 | Ðức Cha Lambert de la Motte đi kinh lý Ðịa phận Ðàng Ngoài | Gs Trần Văn Cảnh |
| 6/18/2007 | Triết lý của Đức Benêđictô XVI làm say mê các giáo sư triết ở Sorbone | PT Huỳnh Mai Trác |
| 5/10/2006 | Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 03 của Người Dân đòi Quyền Tự Do Ngôn Luận đã phát hành | LM Chân Tín |
| 8/27/2010 | Các bài tham luận tọa đàm: Đề tài 4: Tuy Hòa cho dến mãi hôm nay | Micae Trần Kim Đạt |
| 8/24/2010 | Các bài tham luận tọa đàm ''Tìm Về Dấu ấn Lịch Sử'' Tuy Hòa Phú Yên | Giáo hạt Tuy Hòa Phú Yên |
| 9/22/2009 | Luận bàn về hạnh phúc | Vũ Văn An |
| 12/18/2008 | Luận án tiến sĩ: Henri de Lubac đối diện với chủ nghĩa nhân bản vô thần | Lê Đình Thông |
| 11/23/2007 | Viết luận án Tiến sĩ | + GM GB Bùi Tuần |
| 5/15/2005 | Trẻ em tự bế - Kết Luận | Nguyễn văn Thành |
| 9/13/2004 | Phương pháp Tâm Vận Động: Kết luận (22) | Nguyễn văn Thành |
In ra máy inclose
Chuyên mục
CÔNG GIÁO
