ĐẶNG HỮU TOÀN (*)
Kế thừa và tiếp thu có chọn lọc, vận dụng và phát triển một cách sáng tạo lý luận về cách mạng vô sản, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất phát từ những đặc điểm lịch sử - cụ thể của Việt Nam – một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, chứ không thể tiến hành ngay cuộc cách mạng vô sản và bước ngay vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như ở các nước tư bản phát triển.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã diễn ra theo đúng tư tưởng đó của Hồ Chí Minh. Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng, cả dân tộc Việt Nam đã đứng lên tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, trải qua cuộc kháng chiến chống đế quốc lâu dài, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, Việt Nam đã giành được độc lập cho dân tộc, chế độ dân chủ nhân dân được xây dựng về cơ bản. Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc từ năm 1954 và trên cả nước từ năm 1975.
Nói rõ hơn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với tư cách “một cuộc cách mạng nhằm đánh thắng lạc hậu và bần cùng” để “xây dựng hạnh phúc muôn đời” cho nhân dân lao động, Hồ Chí Minh đã khẳng định, “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,… tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”(17).
Kế thừa quan điểm của V.I.Lênin về khả năng tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội ở các nước chậm phát triển, Hồ Chí Minh cũng đã nói đến khả năng “tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” ở Việt Nam. Song, với những hiểu biết sâu sắc về thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhiều lần điều chỉnh lại sự “tiến thẳng” đó với tư cách “một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”. Người nhiều lần khẳng định: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều. Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục”. Rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, “công cuộc đổi mới xã hội cũ thành xã hội mới gian nan, phức tạp hơn việc đánh giặc” và “không thể làm mau được mà phải làm dần dần”, bởi “chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới chưa từng có trong lịch sử dân tộc”, “phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm”, “phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới…, biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp”, “biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”(18).
Khẳng định thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là một thời kỳ lịch sử lâu dài, đầy khó khăn với những nhiệm vụ lịch sử trọng đại như vậy, Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra những nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp lớn lao này. Những nhân tố đó là: Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước; phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị - xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cùng với đó, Hồ Chí Minh còn luôn nhắc nhở chúng ta phải học tập kinh nghiệm của các nước anh em, nhưng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi Việt Nam có những đặc điểm riêng, “không thể giống Liên Xô” và do vậy, “có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(19). Người cũng luôn nhắc đến truyền thống lịch sử - văn hoá của dân tộc, đặc điểm địa lý, tài nguyên và thể chất, tinh thần con người Việt Nam . Từ đó, Người yêu cầu chúng ta phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo, nắm vững lịch sử - văn hoá dân tộc, thấu hiểu địa lý và con người Việt Nam, chống giáo điều, rập khuôn kinh nghiệm nước ngoài.
Về bước đi của thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh cho rằng, Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội “từ hai bàn tay trắng”, “khó khăn còn nhiều và lâu dài” và do vậy, phải có những bước đi thích hợp. Mặc dù chưa có điều kiện để làm rõ những bước đi đó, cụ thể hoá chúng, song Người đã khẳng định, thời kỳ quá độ ở Việt Nam phải qua nhiều bước, “bước ngắn, bước dài, tuỳ theo hoàn cảnh” và “chớ ham làm mau, ham rầm rộ”, “đi bước nào vững chắc bước ấy”.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nên biện pháp tốt nhất để thực hiện sự nghiệp này, theo Hồ Chí Minh, là kết hợp cải tạo với xây dựng trên tất cả các lĩnh vực, lấy xây dựng làm chủ chốt và lâu dài. Và, với quan niệm chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân, Người đã khẳng định phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội hiệu quả nhất là “đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân”, động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, nhất là phải “dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, để cải tạo và xây dựng chế độ xã hội mới.
Với quan niệm như vậy về lòng dân, sức dân, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, động lực chủ yếu nhất để phát triển đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc trên cơ sở của khối liên minh công – nông – trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với Người, đoàn kết là cái làm ra sức mạnh, “đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”, “đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, là “then chốt của thành công” và do vậy, chỉ có trên cơ sở “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”, chúng ta mới có được “thành công, thành công, đại thành công”(20) trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Ý thức một cách sâu sắc đến như vậy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, trong suốt những năm tháng lãnh đạo toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người đã không ít lần khẳng định, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, Đảng phải ra sức phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, bởi với Người, xây dựng chủ nghĩa xã hội không phải chỉ là vấn đề giai cấp, mà còn là vấn đề dân tộc, không phải là sự nghiệp riêng của công nông, của Đảng, mà còn là sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Với Người, có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mới tăng cường được sức mạnh dân tộc, mới giữ vững được độc lập dân tộc và ngược lại, chỉ có trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc, tăng cường sức mạnh dân tộc mới có được thành công trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cũng do vậy, khi kế thừa và tiếp thu có chọn lọc, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, chủ nghĩa dân tộc vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người đã khẳng định, “chủ nghĩa dân tộc” với tư cách chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân Việt Nam, cái đã được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử và vốn là một lực lượng tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc và do vậy, là cái khác về chất so với chủ nghĩa dân tộc sôvanh, vị kỷ của giai cấp tư sản mà lịch sử đã lên án, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã phê phán, chính là một “động lực lớn của đất nước”(21) Việt Nam không chỉ trong cách mạng giải phóng dân tộc, mà cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Với Người, “yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”(22).
Khẳng định vai trò động lực của việc xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh còn nói đến việc phát huy sức mạnh của con người với tư cách cá nhân người lao động. Bởi theo Người, sức mạnh cộng đồng được hình thành từ sức mạnh của cá nhân, thông qua sức mạnh của từng cá nhân và do vậy, muốn phát huy được sức mạnh của cộng đồng, phải tìm ra các biện pháp khơi dậy, phát huy động lực của mỗi cá nhân. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Người luôn yêu cầu Đảng phải huy động được sức mạnh lý tưởng, tinh thần (lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa anh hùng,…) cũng như phải đem lại lợi ích vật chất (ruộng đất, cơm áo, nhu cầu vật chất hàng ngày) cho cả cộng đồng và cho mỗi cá nhân. Ý thức rõ xây dựng chủ nghĩa xã hội là đi vào một trận tuyến mới và do vậy, Người cũng luôn yêu cầu Đảng phải biết kích thích những động lực mới, đó là quan tâm đến lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động và lấy đó làm động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội.(22)
Khẳng định vai trò động lực của việc quan tâm đến lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, song Hồ Chí Minh không coi đó là phương thuốc vạn năng có thể chữa khỏi bách bệnh. Cùng với việc đề cao lợi ích cá nhân chính đáng, Người còn khẳng định vai trò to lớn của việc phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của người lao động, bao gồm quyền làm chủ sở hữu, làm chủ quá trình sản xuất và phân phối, coi đó cũng là một động lực quan trọng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của người lao động, theo Người, trước hết Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thực hành dân chủ cả trong Đảng lẫn trong đời sống xã hội, và coi đó là “cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(23) trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới.
Coi thực hành dân chủ là một động lực, với quan niệm: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”(24), Hồ Chí Minh còn coi thực hiện công bằng xã hội cũng là một động lực trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ngoài những động lực đó, trong suốt những năm tháng lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Hồ Chí Minh còn nhiều lần nói đến vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, cơ chế, chính sách của Nhà nước và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội khác trong hệ thống chính trị. Người luôn coi việc phát huy một cách có hiệu quả, phát huy một cách thực sự vai trò to lớn của các tổ chức chính trị - xã hội này, nhất là vai trò lãnh đạo của Đảng, là một động lực hết sức quan trọng của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, có thể nói, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu có chọn lọc, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với bối cảnh lịch sử - cụ thể của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội, về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao gồm những vấn đề hết sức cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa, về những đặc trưng bản chất và mục tiêu cơ bản của chủ nghĩa xã hội và về phương hướng, bước đi, cách thức cũng như động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tế của những thành công và thất bại trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hơn 60 năm qua ở Việt Nam đều đã chứng minh những quan điểm, tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Chính vì vậy, giờ đây, trong công cuộc xây dựng và đổi mới chủ nghĩa xã hội, mặc dù diễn ra trong một bối cảnh và điều kiện mà cả ở Việt Nam lẫn trên phạm vi toàn thế giới đã có nhiều thay đổi so với sinh thời Hồ Chí Minh, những quan điểm, tư tưởng cơ bản của Người về chủ nghĩa xã hội, về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cùng toàn bộ di sản tư tưởng của Người, vẫn là “tài sản tinh thần to lớn” không chỉ của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn của cả dân tộc Việt Nam trên con đường xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Không chỉ thế, những quan điểm, tư tưởng đó và cả toàn bộ di sản tư tưởng của Người vẫn là cơ sở lý luận và phương pháp luận, là kim chỉ nam cho chúng ta tiếp tục suy nghĩ, sáng tạo để tìm ra những hình thức, bước đi, cách làm trong tình hình mới và do vậy, việc làm sống động tư tưởng Hồ Chí Minh trước một thực tiễn mới để từ đó, góp phần làm phong phú thêm lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học ở thời đại ngày nay nói chung, về công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói riêng, có thể khẳng định, là vấn đề hết sức thiết thực, vừa cơ bản vừa cấp bách.q(23)
(4) Xem: Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr. 554.
(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.465.
(11) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9, tr.447.
(12) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.226.
(13) Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.17.
(16) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr.505.
(19) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.227.
(20) Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr.392; t.11, tr.22, 154; t.10, tr.607.
(22) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9, tr.173.
(24) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr.185.