skip to main |
skip to sidebar
OAI NHƯ GÁI VIỆT
Khác người là
phụ nữ ta
Ðông Sơn đầy nữ tướng
Là chuyện lạ không đâu
có
Thôi làm vỏ, vẫn làm ruột
Kìa, trông lại mà
xem
Dư
âm tự nghìn xưa đấy!
Khác
người là phụ nữ ta
Á Ðông gồm bốn nước
"đồng văn" là Tàu, Việt, Nhật, Hàn. Ðồng văn tức viết cùng thứ chữ, có cùng loại
hình văn hóa.
Dưới mắt người ngoài, như
người Tây phương, trước kia Việt, Nhật, Hàn đều trông giống Tàu : nào chữ Hán,
nào đạo Khổng... Nhưng chỉ trông thế thôi, chứ thực thì không phải
thế.
Ba "anh em", mỗi người khác
Tàu sâu sắc cách riêng.
Trường hợp người Việt, một
trong những phân biệt lớn nhất giữa văn hóa ta với văn hóa Tàu là vai trò của
phụ nữ trong xã hội. Gái Tàu nổi tiếng "yểu điệu thục nữ", gái Nhật nổi tiếng
ngoan ngoãn ngang với... cơm Tàu (1), còn gái Hàn trước kia ta ít để ý, nay mới
biết lại còn ngoan hơn cả gái Nhật! Như sẽ trình bày, gái Việt oai hơn hẳn các
chị em Á Ðông đấy, rất có thể oai nhất thế giới!
Ðông
Sơn đầy nữ tướng
Ðã đọc trong sách, đã
xem ảnh trong sách từ lâu, vậy mà lần đầu tiên đến thăm Viện
Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội, tận mắt ngắm những chuôi dao găm Ðông Sơn, vẫn không
khỏi kinh ngạc.
Rõ ràng đó là tượng một
người đàn bà chống nạnh, mắt trợn tròn xoe, oai phong lẫm liệt. Dao găm có tầm
đánh ngắn, chắc là vũ khí của cấp chỉ huy (như khẩu súng lục bây giờ). Người đeo
những dao găm ấy chắc là những nữ tướng...
Trần Quốc Vượng cho biết
tượng làm chuôi dao găm Ðông Sơn "phần nhiều là tượng phụ nữ".(2) Có vẻ trong
văn hóa Ðông Sơn phụ nữ chẳng những có làm tướng mà còn chiếm đa số trong hàng
tướng lĩnh!
Là
chuyện lạ không đâu có
Làm tướng được, sao
không làm vua được?
Người ta có thể tự hỏi, liệu
trong số 18 vua Hùng có vua bà nào chăng (cho đến giờ vẫn chưa ai tìm ra được
một bằng chứng cỏn con về nhân thân của các vị vua tiền sử ấy
(3))...
Nếu có nữ Hùng Vương,
thiết tưởng đâu có gì lạ, vì đến mấy trăm năm sau HV thứ 18 mà dân tộc ta vẫn
còn có phụ nữ làm vua, tức Hai Bà Trưng. Rồi hơn hai trăm
năm sau đó, lại có phụ nữ lãnh đạo khởi nghĩa nữa, tức Bà Triệu.
Các Bà là những tổng chỉ huy
quân đội xuất sắc. Hậu Hán thư chép Hai Bà Trưng đã đánh cho "thứ sử Giao Chỉ và
các thái thú chỉ còn giữ được thân mình mà thôi"!(4) Còn Bà Triệu thì ra oai dữ
dằn đến nỗi "thứ sử Giao Châu mất tích"!(5)
Trong mấy trăm năm đầu
của thời Bắc
thuộc có hai lần dân tộc Việt Nam vùng lên chống ngoại xâm, cả hai lần
đều do phụ nữ cầm đầu.
Chuyện đàn bà làm tướng làm
vua ở ta là chuyện có bằng chứng, có được ghi chép rõ ràng, ta quen đến nỗi lấy
làm thường, chứ thực ra là chuyện hết sức độc đáo, độc đáo đến nỗi hình như khắp
thế giới xưa nay không đâu có: cái xứ Amazon trong thần thoại Hy Lạp, đa số sử
gia Tây phương vẫn xem chỉ là chuyện hoang đường.(6)
Thôi
làm vỏ, vẫn làm ruột
Ðọc tờ sớ báo cáo tình hình
cai trị của thái thú Tiết Tổng dâng lên vua Ngô năm 231, dễ dàng thấy sau 400
năm đè đầu cưỡi cổ, văn hóa Trung Quốc vẫn chưa làm quỵ được văn hóa Ðông Sơn
(7), mà một đặc trưng căn bản là vai trò quan trọng của phụ nữ.
Chính vì vào khoảng ấy trong
xã hội ta phụ nữ còn có thể tự nhiên làm lãnh đạo mà năm 248 mới lại có đàn bà
Việt cưỡi voi đánh đuổi Tàu.
Nhưng dĩ nhiên rốt cuộc văn
hóa Ðông Sơn đã phải quỵ.
Từ Bà Triệu tới nay người
phụ nữ Việt Nam không có lần nào xông pha lừng lẫy như thế nữa.
Vì kém văn hóa Tàu về quân
sự mà văn hóa Ðông Sơn phải chịu mất... mặt. Nó không còn được xuất hiện trong
tư cách lãnh đạo, không còn được làm "vỏ" cho xã hội Việt Nam nữa.
Nhưng nó vẫn tiếp tục
tồn tại như "ruột". Thôi Lạc vương Lạc hầu Lạc tướng không có nghĩa là người
Việt biến thành người Tàu. Với đại đa số nhân dân vẫn sống trong các làng quê,
xa ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Tàu, trong bóng tối dân tộc ta âm thầm xây
dựng một nền văn hóa mới, vừa tự lực sáng tạo, vừa tiếp thu hạn
chế văn hóa của quân xâm lược, vừa dai dẳng duy trì một số yếu tố căn bản của
nền văn hóa truyền thống...
Kìa,
trông lại mà xem
Tuy không còn oai bằng Hai
Bà Trưng, Bà Triệu, phụ nữ ta vẫn làm vua giỏi khi có dịp. Lý Thánh tông thân
chinh đánh Chiêm Thành, nguyên phi Ỷ Lan ở nhà thay vua cai trị nước xuất sắc
đến nỗi vua đang rút quân nghe tin, nghĩ bụng: "Mình đi đánh Chiêm Thành không
thành công, thế ra đàn ông hèn lắm...", bèn mới quay trở lại cố đánh quân Chiêm
cho được.(8)
Rồi nữ tướng Bùi Thị Xuân
của triều Tây Sơn.
Rồi bao nhiêu nữ chiến sĩ
can trường trong thế kỷ 20...
Không phải chỉ khi ngồi trên
ngai hay trên bành voi trận, hay khi chiến đấu với giặc cướp nước, người phụ nữ
Việt Nam mới tỏ ra không chịu lép cánh nam nhi.
Mặc cho các nho sĩ cao
giọng rao giảng "nam nữ thụ thụ bất thân", ở các làng quê phụ nữ không hề chịu
ru rú trong buồng hay lẩn quẩn xó bếp mà vẫn đều đều đi chợ (9), đi hát quan họ
hát trống quân, đi hội Chùa Hương hội Chùa Thầy, đi ra đình chen vai lễ bái với
đàn ông, vẫn khúc khích bảo nhau mua "ba đồng một mớ đàn ông"(10), vẫn thi nhau
"gánh giang sơn nhà chồng"(11) v.v. Nói chung là mặc các nho Việt sì
sụp khấn Khổng Tử, phụ nữ Việt cứ giao tiếp xã hội tưng bừng, cứ cười cợt phái
nam và cứ đưa "vai gầy" ra vác trọn công việc nhà chồng!
Ca dao tục ngữ là một
tấm gương phản ánh văn hóa. Nhìn vào gương ca dao, dễ dàng thấy
một chân dung phụ nữ Việt đặc biệt ngang tàng.
Cái hiện tượng thơ Hồ
Xuân Hương là một tấm gương khác. Nếu quả do một nữ sĩ làm, thơ ấy hình như
không hai trong lịch sử văn học thế giới. Còn nếu chủ yếu là sáng tác của một
đám đàn ông (12), thì việc thơ ấy bị ký ẩu nữ sĩ cũng vẫn là hiện tượng đặc biệt
nổi bật. Trong lịch sử dằng dặc của văn học Trung Quốc, chẳng hạn, không
nghe nói
có thứ thơ văn "tục" do đàn bà ký tên, hoặc ký tên đàn
bà!
Ðiêu khắc dân gian là một
tấm gương phản ánh văn hóa nữa. Xem đi xem lại ảnh chụp những chạm trổ ở một số
đình làng ngoài Bắc từ thế kỷ XVI đến XVIII (13), chợt để ý nét mặt và dáng vẻ
mạnh dạn của các phụ nữ. Bức chạm Thiếu nữ múa ở đình Hưng Lộc (Nam Hà), chẳng
hạn, cô gái múa mà tay chống nạnh tay giơ cao làm ta vừa xem vừa lờ mờ nghĩ đến
cái chuôi tượng người tròn xoe mắt phượng của con dao găm Ðông
Sơn...
Tín ngưỡng dân gian dĩ
nhiên càng đầy hình ảnh văn hóa. Nhìn vào đó, ta thấy gì? Gần như
thấy toàn nữ thần! Do tình cờ lịch sử, thế giới hiện thực coi như đã mất vào tay
nam giới, nhưng "thế giới tâm linh (của chúng ta vẫn tiếp tục) do nữ giới cai
quản"(14). Có phải sở dĩ đàn bà được làm trùm ở thế giới bên kia là do họ đã vốn
làm trùm ở thế giới bên này trước khi bị đàn ông "đảo chính"?! Hẳn đàn bà đã có
vai trò đặc biệt quan trọng đối với nước, nên bây giờ nhạc sĩ Phạm Duy yêu nước
mới ca Mẹ Việt Nam um sùm chứ!
Cái giá cao của phụ nữ trong
xã hội ta, nó đã từng được đúc thành luật hẳn hoi: "Luật Hồng Ðức ở thế kỷ XV có
một số điều chú ý đến quyền lợi của phụ nữ. Như con gái có quyền hưởng gia tài
như con trai, có quyền sở hữu về tài sản; vợ có quyền ly dị chồng nếu chồng bỏ
vợ trong năm tháng không đi lại, trường hợp có con, thời hạn ấy tăng lên một
năm. Ðó là tập tục cổ truyền còn được giữ lại, và đó cũng là giá trị lớn nhất
của luật Hồng Ðức."(15)
Triều Lê chủ trương Hoa hóa
mà còn phải nể "cổ" đến thế, đủ biết cái thế lực của phụ nữ ở ta vốn nó lớn đến
chừng nào (các ông chồng "đi lại" biếng nhác bị đuổi như chơi!).
Dư âm
tự nghìn xưa đấy!
Không đừng được, văn
hóa Tàu đã có mức độ ảnh hưởng tới xã hội Việt Nam. Ít nhiều, đã có xảy ra hiện
tượng "chồng chúa vợ tôi". So với bà tướng Ðông Sơn, bà vua Trưng, bà chủ tướng
Triệu thì... bà xã kém uy nhiều lắm. Tuy vậy, phụ nữ Việt trước sau vẫn
không hề thất thế tới mức bị... bẻ chân.(16)
Sau hơn một ngàn năm
Bắc
thuộc, sau những thời kỳ vua chúa ta tự Hoa hóa kịch liệt, mà người phụ
nữ Việt Nam rốt cục vẫn có được một địa vị xã hội oai phong hơn hẳn đàn bà Tàu,
thử hỏi do đâu mà được thế?
Còn đâu nữa, nếu không là do
cái đặc trưng trọng nữ độc đáo của văn hóa Ðông Sơn mà tổ tiên ta đã kiên trì
bảo lưu xuyên suốt mọi giai đoạn lịch sử!
"Ðông Sơn đã mất nhưng Ðông
Sơn đang còn"!(17)
-----------____________________
(1) Có câu "Cơm Tàu, vợ Nhật,
nhà Tây". Vọng ngoại. Cơm Tàu béo quá, chóng chán. Vợ Nhật chiều chồng quá, cũng
chóng chán. Còn nhà Tây nơi "Hà Nội phố" có lẽ hay, chứ nếu đặt giữa làng quê
thì trơ, mà ở thì làm sao thoải mái bằng nhà truyền
thống của ta được.
(2) Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam
- Tìm tòi và suy ngẫm, nxb. Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 2000, tr.
142.
(3) Có
những sách chép rõ tên hiệu của từng vua Hùng. Nhưng theo Trần Quốc Vượng, "VUA
HÙNG (...) chỉ là nét vẽ muộn màng của (...) thời Lý - Trần – Lê" (sđd., tr.
60). Có lẽ thời Ðông Sơn dân Lạc Việt đã có thủ lĩnh tối cao, nhưng chân dung
của các "vua" ấy không ghi lại ở đâu hết, mãi mười mấy thế kỷ sau con cháu nhớ
nguồn mới "vẽ" ra để có cái mà thờ.
(4) Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà
Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Ðại Học và Trung Học Chuyên
Nghiệp, Hà Nội, 1983, tr. 267.
(5) PHL, TQV, HVT, LN, sđd., tr. 346.
Về chuyện phụ nữ chiến đấu, tạp chí Archaeology (Mỹ) số tháng 3 và 4 năm 2008 có
ghi rằng ở Phum Suay (Khơ-me) người ta đã đào được 35 bộ hài cốt trong đó có 5
bộ là xác phụ nữ bên cạnh có gươm. Khu mộ táng này được xem là có niên đại từ
thế kỷ 1 đến thế kỷ 5 sau Tây lịch. Không biết những "nữ binh" Phum Suay có liên
hệ gì với phụ nữ ta hay không.
(6) Xem lời tóm tắt trong
Wikipedia.com.
(7) Nguyễn Duy Hinh, Văn minh Lạc Việt, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN,
2004, tr. 144.
(8) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược.
(9) Trong Nguồn gốc Mã Lai của
dân tộc Việt Nam (Sài Gòn, 1971, tr. 219), Bình Nguyên Lộc cho biết đến năm 1911
mà bên Tàu việc đi chợ mua đồ ăn vẫn là việc của đàn ông. Thậm chí, đến thập kỷ
1960 mà ở Chợ Lớn đàn bà Tàu vẫn chưa được đi chợ! Trong Hạn mạn du ký (1921,
đăng trên tạp chí Nam Phong), Nguyễn Bá Trác kể chuyện bên Tàu: "Người mấy tỉnh
về đàng bắc (...) Ðàn bà con gái tập tục khác hẳn những tỉnh đàng nam: con nhà
thượng lưu ít khi ra đến cửa". Vậy cấm cung phụ nữ đúng là tục ở
Hoa Bắc, tục của chủng Hoa.
(10) Ca dao: "Ba đồng một mớ đàn ông
/ Ðem về mà bỏ vào lồng cho kiến nó tha..." (Nguyễn Văn Ngọc, Tục ngữ phong
dao).
(11) Ca
dao: "Có con phải khổ về con / Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng" (Nguyễn
Văn Ngọc, Tục ngữ phong dao).
(12) Xem bài Tuy ngoài mà
trong.
(13)
Việt Nam điêu khắc dân gian thế kỷ XVI-XVII-XVIII, Trần Văn Cẩn chọn, Nguyễn Ðỗ
Cung giới thiệu, Lê Vượng chụp ảnh, nxb. Ngoại Văn, Hà Nội, 1975.
(14) Phan Ngọc, Bản sắc văn
hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1998, tr. 85-86: "thiên đình Ðạo
giáo Việt Nam (...) do nữ giới làm chủ, chứ không phải nam giới (...) Mẫu Thượng
Thiên, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn... cùng với các cô, các bà chúa (...) thế giới
tâm linh của Việt Nam là do nữ giới cai quản."
(15) Trương Chính và Ðặng Ðức Siêu,
Sổ tay văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 1978, tr. 69.
(16) Văn hóa Tàu có tục bó
chân phụ nữ.
(17) Trong lời cuối sách của Hà Văn Tấn, Văn hóa Ðông Sơn ở Việt Nam,
nxb. Khoa Học Xã Hội, VN, 1994.