|
CỦA THẦN, CỦA NGƯỜI
Thu Tứ |
Người Chàm khi
buồn khi vui
Nhưng nhạc Chàm lúc nào cũng "buồn"!
Thử tìm hiểu nhân sinh quan
Chàm
Nhạc Chàm là "của thần"
Nên nghiêm đấy, không phải buồn
đâu!
Người Việt cũng khi buồn khi vui
Tại sao nhạc Việt ít
buồn?
Thử nhìn lại nhân sinh quan Việt
Nhạc Việt là "của
người"
Nên có buồn, là thứ "buồn
tươi"!
Dĩ nhiên ta đâu phải chỉ tươi trong
nhạc
Người Chàm khi buồn khi
vui
Trong mười mấy thế kỷ kể từ
lúc Khu Liên mở nước Lâm Ấp đến lúc người Việt vào xưng chúa ở Nam Hà, dân tộc
Chàm bao phen "lên vinh xuống nhục"(1), chứ đâu phải lúc nào cũng
"nhục".
Đây những vinh
quang:
Thời Bắc thuộc
trong lịch sử ta, khi Giao Chỉ - Cửu Chân đã bỏ cuộc, chấp nhận đô hộ, thì Lâm
Ấp vẫn mãnh liệt tiếp tục chống cự quân xâm lược Trung Quốc. Vua Lâm Ấp từng sai
sứ sang Tàu đề nghị thiên triều nhường quyền cai trị Giao Châu lại cho nước
mình!(2)
Từ địa bàn gốc vùng Đại Lãnh
- Hải Vân, người Chàm từng Bắc tiến ra tận Hoành Sơn (3), trước sau xâm phạm bờ
cõi người Việt bốn mươi ba lần!(4)
Mới thế kỷ mười bốn,
Chế Bồng Nga còn giết được vua Việt tại trận, "ra vào nước Nam ta như đi vào chỗ
không người", ba lần đốt phá Thăng Long, làm vua cha vua con nhà
Trần khiếp hãi bỏ chạy, làm Trần Khát Chân nhận lệnh đi chống giữ mà sợ phát
khóc.(5)
Cái giống dân Chàm rõ ràng
đã từng có những quãng thời gian đáng vui quá đi chứ.
Nhưng nhạc Chàm lúc nào
cũng "buồn"!
Đời Lý, các vua Việt
rất thưởng thức những khúc Chiêm
Thành Âm. Đào Duy Anh cho biết đó là thứ nhạc "tiếng trong trẻo mà ai
oán thảm thương, ngâm nghe phải khóc".(6)
Khi Chiêm Thành còn là Lâm
Ấp, Rinyugaku- tức Lâm Ấp nhạc - đã
được triều đình Nhật chọn làm một trong ba loại nhã nhạc.(7) Hai nước ở xa nhau
lắm, cớ sao vua quan Nhật lại ưu ái, mến mộ nhạc Lâm Ấp đến mức ấy? Không khỏi
lờ mờ nghĩ đến ý kiến cho rằng hoàng gia Nhật và người Chàm có cùng gốc. Dù sao,
căn cứ vào tiếng sáo Nhật truyền thống, hình như dân tộc Nhật có một thiên hướng
về những âm thanh não nùng, ma quái. Mỗi loại nhã nhạc được chọn vì một lý do.
Có phải Rinyugaku trúng tuyển vì nó nghe đúng mức thê
lương?
Đó là hai manh mối khá rõ
ràng.
Ngoài ra, không biết dựa vào
đâu, Phạm Duy viết: "ngay từ khi dân tộc Chàm còn đang ở trong thời thịnh của
quốc gia họ (...) âm nhạc Chàm đã sớm (...) mang tính chất
buồn".(8)
Người đang thịnh, đang vui,
mà nhạc lại buồn?!
Thử tìm hiểu nhân sinh
quan Chàm
Không thể có chuyện người
vui mà nhạc buồn.
Nhạc Chàm hẳn thực ra không
phải là buồn.
Nhạc và người tất có liên hệ
chặt chẽ.
Để hiểu nhạc Chàm, thử tìm
hiểu người Chàm.
Về một dân tộc sống
ngay bên cạnh mình suốt hàng mười mấy thế kỷ, cái biết của ta sơ sài quá. Nhưng
như thế phần lớn là do chính người Chàm. Tuy có chữ viết, họ rất ít viết, cơ bản
chỉ thỉnh thoảng đục một tấm bia để ghi chép sự nghiệp của một ông vua hiển
hách. Thư tịch Trung Quốc, những bài "bi ký" hiếm hoi này, cùng với văn học
truyền khẩu Chàm, gộp lại cung cấp cho ta chút đỉnh kiến
thức.
Theo Phạm Duy, những người
láng giềng phương nam ấy "rất chú trọng đến việc tín ngưỡng. Ðời sống hằng ngày
của họ dường như là một cuộc lễ bái không ngừng".(9)
Theo Lương Ninh, "Đời sống
vật chất của người Chăm xưa rất giản dị (...) Mặc cũng đơn giản (...) Người dân
thường thật ít có nhu cầu".(10)
Đại khái, đó là một dân tộc
rất chăm tu mà biếng sống!
Họ rất đỗi tha thiết với thế
giới bên kia, mà rất thờ ơ với cõi đang sống. Họ sống mà như luôn hướng về cái
chết! (tuy họ vẫn tranh sống dữ dằn!)
Nhạc Chàm là "của
thần"
Biết người Chàm rồi, trông
lại nhạc Chàm, bắt đầu thấy... ánh sáng.
Vẫn Phạm Duy: "thể nhạc phổ
thông nhất trong xã hội Chàm là nhạc lễ".(11)
Hiển nhiên! Đã "lễ bái
không ngừng" thì làm gì còn có thì giờ cho thứ nhạc nào khác ngoài nhạc
lễ!
Lễ lễ nhạc nhạc lễ lễ liên
miên, đến lúc nào đó người Chàm rút ra một quan niệm độc đáo về âm nhạc: họ tin
rằng "âm nhạc là của thần thánh", là những âm thanh truyền xuống từ "chốn thiên
đường".(12)
Nhạc Chàm là nhạc "của
thần"!
Trách sao khác hẳn những
nhạc của người!
Nhưng, cụ thể, nó khác ra
sao?
Nên nghiêm đấy, không
phải buồn đâu!
Phạm Duy bảo nhạc Chàm buồn,
nhưng rồi lại cho biết "nhạc Chàm không thể có hơi Nam giọng ai của nhạc
Huế" và "nhạc Chàm thật ra rất gần gũi với loại nhạc oán của miền
Nam."(13)
Ai cũng biết nhạc Huế buồn
ơi là buồn.
Trong khi dân ca Nam bộ khi
buồn thì nhẹ nhàng, chứ không não nùng, thê thiết như hò Huế.
Vậy nhạc Chàm tiếng rằng
buồn, chứ thực ra không buồn mấy đâu, có thể không hề buồn!
Tại sao lạ
vậy?
Nhà thơ Xuân Diệu có
lần mô tả nhạc Chàm là "lạ lùng", "mê ly".(14) "Lạ" dễ hiểu, còn "mê ly" cũng dễ
hình dung. Nhạc lễ có tác dụng đưa tín đồ vào một cơn say tôn giáo. Người nghe
không phải tín đồ thì không say đạo nhưng rất có thể bị cái nhiệt tình của
nhạc thu
hút, có thể cũng đâm ra có cảm giác say sưa. Mặt khác, nhạc lễ tất phải
nghiêm trang, kính cẩn. Hễ nghiêm quá thì dễ gây buồn. Cho nên mới xảy ra chuyện
người nghe ngoại đạo như Xuân Diệu, như vua quan nhà Lý, vua quan Nhật, nghe
nhạc Chàm một lúc, bỗng thấy buồn mê ly?!
Tức cái
buồn nổi tiếng của nhạc Chàm chẳng qua là cái trang nghiêm của một thứ
nhạc tôn giáo!
Người Việt cũng khi buồn
khi vui
Dân tộc Chàm lên lên
xuống xuống thì lịch sử dân tộc Việt Nam cũng không hề toàn thuận buồm
xuôi gió.
Bắt đầu, là một môi trường
tự nhiên đầy thách đố. Trong lời mở của sách Việt Nam văn hóa sử
cương, Đào Duy Anh bùi ngùi nhớ lại: "Khắp một vùng trung châu Bắc
Việt, không một mẫu đất nào là không có dấu vết công trình thảm đạm kinh dinh
của tổ tiên ta".(15) Đất ta ở không phải đất dễ sống. Con người
muốn sống phải "khôn", phải hết sức chịu khó.
Ngoài tự nhiên khắc
nghiệt, dân tộc Việt Nam còn phải luôn đối phó với bọn cướp từ phương bắc. Đánh
giặc Tàu, ta có thua có được: khi phải chịu sống
trong "đêm dài Trung Cổ" hàng nghìn năm, khi đánh tan được ngay xâm lược Tống,
Nguyên, Minh, Thanh.
Ở biên giới phía nam,
giữa Chiêm Thành với Đại Việt trong nhiều trăm năm tình hình quân sự cũng thường
xuyên căng thẳng, đánh nhau với họ ta cũng khi thắng khi
thua.
Đã "ngoại chiến" gay go với
láng giềng nam bắc, lại thêm nội chiến ác liệt. Nào Trịnh với Nguyễn, nào Nguyễn
Tây Sơn với Nguyễn Gia Miêu.
Rồi đến giặc Pháp. Chính
sách thực dân hiểm độc làm xã hội Việt Nam nhanh chóng băng hoại và trở nên phân
hóa trầm trọng.
Đuổi Pháp xong, lại khói lửa
dữ dội triền miên...
Nếu so những lúc khó khăn,
vất vả, vào sống ra chết, dân tộc Việt Nam còn phải nhường ai!
Tại sao nhạc Việt ít
buồn?
Về cổ nhạc:
Đào Duy Anh nhận xét: "Những
cung bắc (...) thì (...) linh hoạt, vui vẻ và mạnh mẽ".(16)
Phạm Duy bảo hát quan
họ là "hình thức dân ca phong phú nhất
của người Việt"và cho biết nó điển hình "vui tươi, yêu đời, trìu
mến".(17)
Về tân nhạc:
Thời tiền chiến, nói chung
không khí nhạc là lãng mạn chứ không phải là buồn bã.
Thời đánh Pháp, cả nước gần
như chỉ toàn loại nhạc có nội dung tích cực.
Sau đó, ở Miền Bắc loại nhạc
tích cực tiếp tục ngự trị. Ở Miền Nam nhạc sinh nhiều dòng, nhưng không có dòng
nào thực sự não nùng.
Người có lúc vui lúc buồn,
có lúc thật buồn, tại sao nhạc rất hay vui, mà có buồn cũng không buồn
mấy?!
Thử nhìn lại nhân sinh
quan Việt
Việt, Chàm cùng là Bách
Việt, lại là hàng xóm láng giềng của nhau, nhưng ta và họ nhìn đời không giống
nhau đâu.
Như đã trình bày, người Chàm
sống mà luôn hướng về bên kia cõi sống.
Trong khi người Việt,
theo Đào Duy Anh, "chỉ trông cậy vào con cháu để lưu truyền nòi giống và
tiếp nối sự nghiệp của tổ tiên."(18)
Dĩ nhiên, người Việt
vẫn có tín ngưỡng, xem chết là "về với ông bà", nhưng quan trọng hơn nhiều đối
với ta là cố gắng sinh con đẻ cái để dân tộc trường tồn.
Ta vẫn sì sụp lễ bái, nhưng trọng tâm của sinh hoạt truyền thống là đời sống
hiện tại, chứ không phải những gì có thể diễn ra ở kiếp
sau.
Phan Ngọc cũng bảo
tâm
thức Việt Nam cơ bản "hướng về cuộc sống dưới đất, lo khắc phục những khó
khăn thực tế (...) để tồn tại, không chứa đựng kiến giải siêu hình nào
hết."(19)
Đào Duy Anh lại nhận xét:
"Sức làm việc khó nhọc, nhất là người ở miền Bắc, thì ít dân tộc bì
kịp."(20)
Nhạc Việt là "của
người"
Khác hẳn người Chàm, người
Việt chúng ta lo sống chứ không lo chết.
Sống không phải chỉ là làm
việc, dù là việc trồng lúa nước vốn rất nặng công. Sống còn là "ăn
chơi":
"Tháng giêng là tháng ăn
chơi..."
Ngoài những lúc làm,
lúc chơi, ta lại có những lúc không làm cũng không chơi, như khi ru em, ru con. Bất
cứ vào lúc nào, người Việt cũng có thể cất tiếng hát những bài ca mà nội dung
hoàn toàn hướng về cuộc sống, ăm ắp chất sống.
Kể ra, ngoài những lối
hát "trần tục" như hát ví, hát đúm, hát quan họ, hát ru v.v., ở miền Bắc còn có
hát văn có thể xem là một loại nhạc lễ. Hát văn gắn bó với tục lên đồng, có nội
dung ca ngợi thần linh. Tuy nhiên, các thần linh trong tục thờ Mẫu của ta lại
rất gần người, "rất quan tâm tới cuộc sống của người dân, tới vận mệnh đất
nước".(21) Hơn nữa, khi cầu xin phù hộ, người Việt "không hề đòi hỏi một hạnh
phúc siêu trần gian ở kiếp sau mà chỉ đưa ra những mong ước trong cuộc sống dưới
đất".(22) Hẳn do cái đặc điểm đạo hướng về đời này mà những âm thanh của một bài
hát văn tuy vẫn khá lung linh kỳ dị nhưng không gây nơi người nghe cái cảm tưởng
"buồn" của loại nhạc lễ Chàm.
Nhạc Chàm được truyền xuống
từ "chốn thiên đường", là nhạc "của thần", còn nhạc Việt thì đích thị xuất phát
ngay từ hạ giới này thôi, đích thị là nhạc "của người".
Nên có buồn,
là thứ
"buồn
tươi"!
Dù cổ hay tân, nhạc Việt vẫn
có lúc buồn.
Bèo Dạt Mây Trôi mà vui gì!
Hát ru là nỉ non than thân trách phận, chứ vui gì!
Rồi Buồn
Tàn
Thu,
Thu Cô Liêu, Giọt Mưa Thu, Con
Thuyền Không Bến v.v. của tân nhạc
thời trước 1945, nghe mà thẫn thờ!
Rồi những bài nhạc "mùi"(23)
ra đời ở Miền Nam và sau 1975 nhanh chóng lan tràn khắp nước. Mùi có thể
xem là dân nhạc mới. Nhạc mới của dân tỉ tê kể lể chuyện buồn này nỗi niềm kia,
mùi rệu, chứ vui gì.
Nhạc Việt khi vui khi buồn,
chuyện ấy đâu có gì lạ.
Vì nhạc ta là nhạc "của
người", mà hễ đã làm người thì có ai được... cười mãi đâu!
Chuyện đáng thắc mắc là tại
sao khi buồn thì nhạc Việt chỉ buồn ít hoặc vừa.
Thời chiến
tranh,
"Khi sơn hà nhiều nỗi điêu
linh
Đôi bờ đôi ngả phân
tranh..."(24)
Yêu nhau ra rít mà "anh" ra
đi không hẹn được ngày về, không biết có ngày về, tình cảnh lứa đôi cực kỳ bi
đát, nếu nhạc có khóc sướt mướt, cũng đáng quá đi chứ. Nhưng không, nhạc mùi
không chịu sướt mướt, chuyện đời buồn vậy mà nó lại ca nghe rất du dương! Cái
giọng du dương, dìu dặt của nó khiến nhiều người nghe cơ hồ quên mất nội dung
buồn!
Nhạc Việt không buồn "tới
bến" dĩ nhiên không phải là chuyện tình cờ.
Đã nói ta luôn "lo
sống", hết sức tha thiết với đời sống. Mà muốn sống cho tốt cho khỏe, đâu có thể
hễ có chuyện buồn là ngồi khóc cho tới gần... héo! Khóc thảm quá làm giảm trầm
trọng khả năng cạnh tranh, khiến con người ta khó tiếp tục
"còn".
Ngay trong tình huống
tệ hại nhất, ngay giữa lúc không thể buồn hơn, người Việt vẫn cứ tươi.
Thường tình, có vui mới tươi, nhưng riêng chúng ta lại có
thể "buồn
tươi"!
Dĩ nhiên ta đâu
phải chỉ
tươi trong nhạc
Hướng rất mạnh về "ở đây,
bây giờ", cái khuynh hướng ấy của người Việt Nam dĩ nhiên không chỉ biểu hiện rõ
ràng trong âm nhạc. Mà biết nó rồi, nhìn đâu ta cũng thấy nó, như chúng tôi sẽ
lần lượt trình bày trong những bài viết khác về văn hóa dân tộc.
5 - 2003
(In vào sách
Tìm tòi và suy nghĩ năm 2005)
________________________
(1) Phỏng theo "Lên voi
xuống chó".
(2) Trần Ngọc Thêm, Tìm
về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. TPHCM, VN, 2001, in lần 3, tr.
428.
(3) Đào Duy Anh, Đất nước
Việt Nam qua các đời, nxb. Thuận Hóa, Huế, 1994, tr. 62 -
69.
(4) TNT, sđd., tr.
428.
(5) Trần Trọng Kim, Việt
Nam sử lược, nxb. Tân Việt, Sài Gòn, 1964, tr. 172 - 176.
(6) Đào Duy Anh, Việt Nam
văn hóa sử cương, nxb. TPHCM, VN, 1992, tr. 324.
(7) Trần Văn Khê, Tiểu
phẩm, nxb. Trẻ, Sài Gòn, 1997, tr. 180.
(8) Phạm Duy, Đặc khảo về
dân nhạc ở Việt Nam, nxb. Xuân Thu tái
bản ở Mỹ, tr. 30. Ở đây tưởng cần nêu nghi vấn về một
mối liên hệ. Phạm Duy còn bảo: "... chắc chắn người Chàm đã lấy căn bản
nhạc
thuật ở nhạc Ấn-độ." Theo Durant, xưa kia ở Ấn về nghi thức
nhạc và vũ vốn đồng nhất, điển hình là một hình thức sùng bái thần linh. Ông cho
biết người Âu xem vũ truyền thống Ấn-độ thì thấy có vẻ "dâm dật" (Wille Durant,
Lịch sử văn minh Ấn Ðộ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê). Vũ "dâm
dật", nhạc "rậm rật"? Lễ nhạc Ấn gây cảm tưởng khác hẳn lễ nhạc Chàm, là
nghĩa lý thế nào? Chẳng lẽ cùng một loại âm thanh, mà người Âu nghe "buồn" một
đằng người Á lại nghe buồn một nẻo? Phải chăng nhạc Chàm tuy bắt nguồn từ nhạc
Ấn nhưng đã sớm mang bản sắc riêng?
(9) PD, sđd., tr.
32.
(10) Phan Huy Lê, Trần Quốc
Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Đại Học và
Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1983, tr. 310-313.
(11) PD, sđd., tr.
32.
(12) PD, sđd., tr.
30.
(13) PD, sđd., tr.
36.
(14) Huy Cận, Hồi ký song
đôi - Tuổi nhỏ Huy Cận, Xuân Diệu, nxb. Hội Nhà Văn, VN, 2002, tr. 135 -
136.
(15) ĐDA, VNVHSC, tr.
9.
(16) ĐDA, VNVHSC, tr.
327.
(17) PD, sđd., tr.
100.
(18) ĐDA, VNVHSC, tr.
362.
(19) Phan Ngọc, Bản sắc
văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, VN, 1998, tr. 48.
(20) ĐDA, VNVHSC, tr.
24.
(21) PN, sđd., tr.
50.
(22) PN, sđd., tr.
381.
(23) Ở Miền Nam trước kia
gọi là "nhạc sến".
(24) Bài Gõ Cửa của nhạc sĩ
Anh Bằng.