.
Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn TỰ TÌNH DÂN TỘC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TỰ TÌNH DÂN TỘC. Hiển thị tất cả bài đăng
23:20
Phấn Trắng Bảng Đen Và Lòng Biết Ơn
Written By kinhtehoc on Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012 | 23:20
|
|
"Nhất tự vi sư bán tự vi sư
Phi sư phụ bất thành nhân
Dù chỉ học thầy một chữ
Hay nửa chữ cũng ghi ơn"
Chuyện cổ tích ngày xưa kể rằng khi
nước Nam chưa có chữ quốc ngữ theo hệ thống mẫu tự ABC mà còn dùng Hán tự viết
nét bằng cọ: Có một anh học trò thấy một đàn kiến khi kéo nhau bắc cầu qua sông,
cả lũ kiến đó sắp bị dòng nước lũ cuốn đi, anh động lòng từ tâm liền bẻ một cành
cây bắc cầu cho kiến di chuyển. Kỳ thi Hương năm đó anh làm bài thi, rủi ro một
chữ anh viết thiếu một nét nên nếu đọc thì khác nghĩa nên giám khảo có thể đánh
rớt, nhưng chữ thiếu nét đó có những con kiến bám chặt vào nét chữ thiếu đó nên
trở thành đủ, giám khảo đã cho anh đậu khoa thi năm đó. Người đời cho rằng kiến
đã trả ơn cưu mang của anh học trò từ tâm ấy nên công danh anh được hanh thông.
Mặc dù câu chuyện trên đây chỉ là dụ ngôn, mà đã là dụ ngôn thì không có thật,
nhưng điểm tối hậu nó cũng đem đến cho ta một ý nghĩ "biết ơn" nào đó trong
đời.
Trên sân khấu của nhà hàng
Hoàng Sa, tôi nhìn người nam ca sĩ có gương mặt quen thuộc, có cái nhân dáng
quen thuộc và lời ca tiếng hát đó cũng quen thuộc nốt. Xin thưa đó chính là
giáo sư trước đây cách hơn phần tư thế kỷ đã là thầy tôi. Tôi vui lắm khi nghe
tiếng ca ngọt ngào, du dương mang một ước mơ về tình yêu mà người thi sĩ gửi gấm
trong thơ, người nhạc sĩ ký thác nỗi cảm tác trong từng nốt nhạc, cũng như người
ca sĩ cố gắng lột tả trọn vẹn nỗi bâng khuâng khi là tình nhân, hay nỗi dịu dàng
khi gần người yêu nhớ đến ánh trăng khuya của một thuở hẹn họ tình tự có Sài Gòn
trong ký ức dấu yêu. Trong nỗi cảm nhận miên man của cử tọa đang lắng nghe, tôi
cho là cả bộ ba Du Tử Lê, Phạm Đình Chương và thầy cũ của tôi đang đứng hát thật
là một sự kết hợp tuyệt diệu. Bài "Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn",
hình như nó là một trong những nhạc phẩm mà ông thích thú khi hát, nên ông
thường ca bài này. Ca sĩ tài tử này bắt nhịp ca trong nỗi say đắm, ông ngân dài
như đưa chúng tôi về với Sài Gòn trong quyến luyến, y như cái tâm trạng mà lúc
chúng tôi rời nơi này:
"Đêm về trên bánh xe lăn
Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng
Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây
Ngỡ hồn tu xứ mưa bay
Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xaĐời tan, tan nát chiêm bao
Tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào ..."
Thầy tôi, người
mang bản tính năng động, ông luôn luôn vui vẻ và thích dí dỏm khi làm MC, ông
trẻ trung trong giọng nói, và ông cũng trẻ trung trong tâm hồn. Ban nãy ông
ông đã tâm tình về những kỷ niệm quê hương như:
"Các anh chị em thân mến,
ngày xưa tôi đứng trước các anh chị em và đằng sau là bảng đen và phấn trắng,
ngày hôm nay phía trước tôi đây cũng là các anh chị em, nhưng đằng sau tôi không
còn phấn và bảng nữa, thay vào đó là ban nhạc đệm cho chúng ta những giây phút
ân tình của tình đồng hương, của tình hoài hương, của dĩ vãng còn rong ruổi
trong vùng ký ức cũ của chúng ta. Chỉ tiếc rằng những ngày cũ đó không dược kéo
dài lâu hơn mà phải đợi hơn một phần tư thế kỷ sau mới được nối tiếp. Thú thực
rằng ngày nào tôi còn gặp lại các anh chị là ngày đó sẽ là hạnh phúc cho tôi.
Cái hạnh phúc kế tiếp là tôi được ca những ca khúc mà anh chị em thích. Như thế
thì chúng ta có những hạnh phúc chung vì sở thích chung hay văn hóa chung phải
không các bạn?"
Có bao giờ quý vị nhớ đến
cái bảng đen đầy phấn trắng có lần đã rơi trên tóc thầy cô giáo của chúng ta?
Tôi không được may mắn như vậy vì học ở trường đời nhiều hơn trường lớp, và tôi
cũng học được lòng biết ơn các nhà mô phạm từ những câu chuyện nhỏ, như câu
chuyện của Fred Bauer kể sau đây:
"Một hôm, tôi nhận thức rằng
dường như tôi ít khi bày tỏ lòng biết ơn đối với những người thân sống quanh
tôi, dành cho tôi nhiều điều ưu ái. Tất nhiên là chúng ta không nên đợi đến
những ngày lễ lộc, kỷ niệm… để nói lời cảm ơn đối với những người thân mà mình
đã từng mang ơn. Giá như tôi học được điều gì đó về nghệ thuật cám ơn thì đó
chính là: Hãy cám ơn ngay tức thì. Nói lên lời cám ơn không chỉ làm rạng rỡ, làm
mát lòng ân nhân mà còn thể hiện tính văn minh lịch sự của người thọ ơn. Nếu bạn
cảm thấy bị hắt hủi, xua đuổi, bạn đừng vội bi quan, yếm thế mà hãy ra tay cứu
vớt người khác. Rất có thể đó là phương thuốc giúp bạn tìm lại niềm lạc quan,
yêu đời.
Trước khi trở thành nhà văn
nổi tiếng, A.J. Cronin từng là một bác sĩ. Hồi ấy, có nhiều bệnh nhân đến yêu
cầu Cronin điều trị cho họ chứng bệnh lo âu, hồi hộp, sợ sệt, mất niềm tin và
luôn nghi ngờ. Cronin ghi cho họ toa thuốc thật lạ thường: "Toa thuốc cám ơn"
rồi căn dặn bệnh nhân: ‘Trong vòng sáu tuần, quí vị phải nói lời cám ơn mỗi khi
nhận được sự giúp đỡ của bất cứ ai dù đó chỉ là việc mọn. Và để tỏ ra rằng lời
cám ơn kia xuất phát từ tấm lòng thành, quí vị hãy mỉm cười với ân nhân khi thốt
lên hai tiếng "cám ơn". Sau 6 tuần điều trị, hầu hết bệnh nhân của Cronin đều
cảm thấy thuyên giảm rõ rệt. Trong nhiều trường hợp, chúng ta không thể bày tỏ
ngay lòng biết ơn của mình. Nếu rơi vào tình cảnh ấy, bạn không nên thụ động và
giữ im lặng mãi mà hãy mạnh dạn nói lời cám ơn ân nhân ngay khi gặp lại họ sau
đó.
Vừa mới đây, tôi có dịp về thăm lại quê nhà trong một thời gian ngắn. Trong khi tôi đếm bước dọc theo đường làng quen thuộc, kỷ niệm thời thơ ấu bỗng ùn kéo đến lấp đầy dòng suy nghĩ của tôi. Trên đường, tôi gặp lại cô giáo Violet Bible. Cô đã gợi trong tôi thời tôi còn mài đũng quần trên ghế trường trung học. Năm ấy, tôi ngồi lớp chín. Tôi mê chơi thể thao hơn là chú tâm vào việc học. Hậu quả là tôi bị tụt hậu môn tiếng La Tinh. Khi phát giác ra môn yếu kém của tôi, cô giáo Bible nói: "Ồ, học tiếng La Tinh có khó khăn gì đâu, rất thú vị nữa là đằng khác. Sau bữa cơm chiều nay, em sang nhà cô, cô sẽ chứng minh cho em điều đó".
Vừa mới đây, tôi có dịp về thăm lại quê nhà trong một thời gian ngắn. Trong khi tôi đếm bước dọc theo đường làng quen thuộc, kỷ niệm thời thơ ấu bỗng ùn kéo đến lấp đầy dòng suy nghĩ của tôi. Trên đường, tôi gặp lại cô giáo Violet Bible. Cô đã gợi trong tôi thời tôi còn mài đũng quần trên ghế trường trung học. Năm ấy, tôi ngồi lớp chín. Tôi mê chơi thể thao hơn là chú tâm vào việc học. Hậu quả là tôi bị tụt hậu môn tiếng La Tinh. Khi phát giác ra môn yếu kém của tôi, cô giáo Bible nói: "Ồ, học tiếng La Tinh có khó khăn gì đâu, rất thú vị nữa là đằng khác. Sau bữa cơm chiều nay, em sang nhà cô, cô sẽ chứng minh cho em điều đó".
Trong nhiều tuần lễ kế tiếp,
cô dạy kèm tôi học tiếng La Tinh cho đến khi tôi theo kịp chúng bạn. Năm ấy tôi
tròn 14 tuổi. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhận ra rằng cô giáo Violet Bible khả
kính, vừa tích cực giảng dạy ở trường vừa làm tròn nhiệm vụ trong gia đình, lại
còn dành riêng mỗi ngày một giờ để dạy kèm tôi học tiếng La Tinh. Sự cố gắng
giúp đỡ tôi của cô Bible lúc ấy, tôi xem như là chuyện hoàn toàn bình thường.
Nhưng giờ đây, khi gặp lại cô, tôi bỗng nhận thức một cách sâu sắc rằng cố gắng
của cô dành riêng để dạy tôi học tiếng La Tinh trước đây quả là sự hy sinh vô bờ
bến mà hàng năm dài tôi hầu như quên lãng. Tôi chạy đến ôm choàng lấy cô, giọng
thổn thức: "Những điều mà cô dành cho em trước đây đã vượt xa nhiệm vụ bình
thường của một cô giáo. Xin cô nhận lòng biết ơn chân thành của người học trò
cũ, dù cho lời cám ơn được thốt lên muộn màng." Cô đáp lời tôi bằng nụ cười ấm
áp, mãn nguyện và đôi mắt rạng rỡ niềm tin.
Nếu nhà văn lớn A. J. Cronin
viết ra những cám ơn ân nhân đã dạy dỗ mình nên người thì tôi lại sực nhớ câu
chuyện của người bạn Ba Tư mà tôi quen. Anh ta kể sau khi Shah hoàng bị lật đổ,
chính quyền mới hồi giáo lên thay thế, người lôi thầy giáo ra tra tấn, mà trong
đó anh là nạn nhân. Người thầy cố dạy những đứa trẻ tinh nghịch, ông xử phạt
chúng của kỷ luật nghiêm túc của nhà trường. Khi đất nước thay đổi thì người bạn
tôi, người thầy giáo của đám học trò tinh nghịch đã là nạn nhân của sự trả thù
thất nhân tâm, họ gây cho người thầy cũ cái cảm giác chán chường, khi thoát ra
xứ ngoài ông về sống ẩn dật ở vùng băng tuyết phía bắc Gia Nã Đại. Người Việt
chúng ta có những câu nói mà người học trò nhỏ đều được giáo huấn như "Không
thầy đố mày làm nên", lên cao hơn người học sinh lại tìm hiểu ý nghĩa của câu
nói tôi cho là chí lý: "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư".
Thật ra mọi việc trong cuộc
sống con người cũng tùy thuộc khung cảnh của đứa trẻ vốn tinh nghịch khi lớn lên
như tình trạng gia cảnh, xóm giềng. Có đứa thay đổi tâm trạng hiểu thầy cũ, thì
cũng có đứa ương ngạnh, vẫn cố chấp những chuyện cũ trong vùng ký ức. Làm con
người đã khó rồi, mà làm đám học trò tinh nghịch, lêu lổng lại càng khó hơn, chỉ
vì sự hẹp hòi, ích kỷ đã in hằn sâu trong tâm thức.
Cùng với cái tâm tình dành
cho những ai đã thất bại vì nạn đổi đời để họ chịu đựng nỗi cay đắng lắm truân
chuyên, thầy tôi ca bài hát mang nhiều tính chất triết lý của cuộc sống. Đó là
bài "Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa", nhạc của Lê Uyên Phương sáng tác, lời thơ
Nguyễn Hoàng Đoan. Tôi nghe trong nỗi chua xót và đắng cay, tôi cảm thấy cay
đắng vì lũ học trò xưa phản thầy, họ vong ơn với vị thầy cũ, hình như tôi đã cay
mắt khi nhớ về vị thầy trong khung cảnh băng giá kia vẫn chập chờn trong ý nghĩ
của tôi. Giọng ca của thầy tôi bây giờ lại chuyên chở cả một kiếp nhân sinh mà
hai người thi sĩ và nhạc sĩ đã đưa vào bài hát này:
"... Không phải là bông hồng
Dành cho người hạnh phúc
Những người không biết khóc
Nhũng người không biết cười
Những người tim bằng đấtKhông phải là bông hồng
Dành cho những búp bê
Những búp bê biết khóc
Những búp bê biết cười
Búp bê tim bằng nhựaĐây là một bông hồng
Gửi về người ngã ngựa."
Sống tại Hoa Kỳ hằng năm người ta có
ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), mục đích của nó như tên gọi chúng ta tạ ơn đối với
những ai giúp đỡ, cưu mang cho cuộc sống này được khá hơn. Nó có thể bao gồm cho
tình thầy trò. Bởi vì: "Không thầy đố mày làm nên". Người bạn láng giềng nhà tôi
lúc trước, nay cư ngụ trong vùng Little Saigon, nam Cali thuật cho tôi nghe
chuyện cũ tại Sài Gòn là một sinh viên sư phạm kể rằng những "buồn nhiều hơn
vui" trong đời dạy học của mẹ mình:
"Tôi còn nhớ rất rõ lúc tôi
ngồi trầm ngâm trước lá đơn xin thi vào trường đại học, cách đây ba năm. Mẹ tôi
(một nhà giáo tóc đã bạc, gần ba mươi năm trong nghề) đứng cạnh tôi, nói nhỏ
nhẹ: "Con ạ, dẫu sao nghề giáo vẫn là một nghề cao quí". Mẹ tôi nói hai chữ "cao
quí" thật nhỏ và mắt mẹ rưng rưng. Tôi thấu hiểu ước muốn của mẹ tôi. Không cần
đắn đo, tôi ghi vào lá đơn: Trường Đại Học Sư Phạm. Tất nhiên trong chọn lựa
cũng có phần của tôi.
Sau ngày 75, nhà tôi dọn về ở trong một con hẻm sâu. Có đêm, gần chín giờ, một người đàn ông tóc muối tiêu dắt chiếc xe đạp vào hẻm và hỏi tìm nhà cô giáo Hạnh. Khi mẹ tôi mở cửa, người đàn ông cúi hẳn người xuống, rụt rè: "Thưa cô, cô còn nhớ em không, em là Huân đây mà...". Mẹ tôi ngờ ngợ, có lẽ không nhớ ra. Khi vào nhà nói chuyện, chú Huân kể lại: "Hồi em học đệ tứ (tức lớp 9 sau này), ngồi đầu bàn, thường tinh nghịch để chân ra ngoài. Cô đi lên đi xuống giảng bài say sưa, đụng phải chân em, cô vấp té, đầu va vào bàn... Cô nhớ không? Hồi đó, sợ quá em không nói được một lời xin lỗi với cô. Vậy mà em ân hận mãi. Hơn 25 năm rồi, cô ạ...". Ở ngoài Trung chú Huân chạy xe ôm, có dịp vào thành phố chú quyết tìm cho được người thầy cũ là mẹ tôi. Để thăm và nói một lời... và chỉ một lời để xin lỗi. Khi trao những chiếc bánh nổ của quê hương miền Trung cho mẹ tôi, chú Huân bùi ngùi nói: "Có chút quà của miền Trung... để cô nhớ đến tụi em". Đêm đó là một trong những đêm vui của mẹ tôi.
Có một lần mẹ tôi bị bệnh nằm ở bệnh viện Gia Định, một bác sĩ khoảng 40 tuổi cứ ở bên mẹ tôi. Khi mẹ xuất viện, mỗi đêm người bác sĩ ấy lại lội vào con hẻm đến nhà theo dõi sức khỏe cho mẹ tôi. Đó là một học trò cũ của mẹ. Anh ấy cứ nhắc đi nhắc lại: "Không có cô, đời em chưa biết ra sao...". Anh ấy kể: hồi học cấp III, gia đình quá khó khăn, đã nhiều lần anh quyết định nghỉ học, nhưng mẹ tôi đã đến, giúp đỡ, động viên và anh lại tiếp tục đi học... Thỉnh thoảng mẹ tôi nhận được những lá thư, những thiệp chúc tết, thiệp báo hỉ... từ phương xa gửi đến. Tất cả đều ghi những lời trân trọng, ân tình. Mẹ tôi dành riêng một ngăn tủ gìn giữ tất cả và thỉnh thoảng mẹ tôi lại giở ra xem, và tôi thấy bà mỉm cười hạnh phúc.
Sau ngày 75, nhà tôi dọn về ở trong một con hẻm sâu. Có đêm, gần chín giờ, một người đàn ông tóc muối tiêu dắt chiếc xe đạp vào hẻm và hỏi tìm nhà cô giáo Hạnh. Khi mẹ tôi mở cửa, người đàn ông cúi hẳn người xuống, rụt rè: "Thưa cô, cô còn nhớ em không, em là Huân đây mà...". Mẹ tôi ngờ ngợ, có lẽ không nhớ ra. Khi vào nhà nói chuyện, chú Huân kể lại: "Hồi em học đệ tứ (tức lớp 9 sau này), ngồi đầu bàn, thường tinh nghịch để chân ra ngoài. Cô đi lên đi xuống giảng bài say sưa, đụng phải chân em, cô vấp té, đầu va vào bàn... Cô nhớ không? Hồi đó, sợ quá em không nói được một lời xin lỗi với cô. Vậy mà em ân hận mãi. Hơn 25 năm rồi, cô ạ...". Ở ngoài Trung chú Huân chạy xe ôm, có dịp vào thành phố chú quyết tìm cho được người thầy cũ là mẹ tôi. Để thăm và nói một lời... và chỉ một lời để xin lỗi. Khi trao những chiếc bánh nổ của quê hương miền Trung cho mẹ tôi, chú Huân bùi ngùi nói: "Có chút quà của miền Trung... để cô nhớ đến tụi em". Đêm đó là một trong những đêm vui của mẹ tôi.
Có một lần mẹ tôi bị bệnh nằm ở bệnh viện Gia Định, một bác sĩ khoảng 40 tuổi cứ ở bên mẹ tôi. Khi mẹ xuất viện, mỗi đêm người bác sĩ ấy lại lội vào con hẻm đến nhà theo dõi sức khỏe cho mẹ tôi. Đó là một học trò cũ của mẹ. Anh ấy cứ nhắc đi nhắc lại: "Không có cô, đời em chưa biết ra sao...". Anh ấy kể: hồi học cấp III, gia đình quá khó khăn, đã nhiều lần anh quyết định nghỉ học, nhưng mẹ tôi đã đến, giúp đỡ, động viên và anh lại tiếp tục đi học... Thỉnh thoảng mẹ tôi nhận được những lá thư, những thiệp chúc tết, thiệp báo hỉ... từ phương xa gửi đến. Tất cả đều ghi những lời trân trọng, ân tình. Mẹ tôi dành riêng một ngăn tủ gìn giữ tất cả và thỉnh thoảng mẹ tôi lại giở ra xem, và tôi thấy bà mỉm cười hạnh phúc.
Nhưng đời dạy học của mẹ tôi
cũng có quá nhiều những đắng cay, ngậm ngùi thậm chí đến tủi nhục. Có một lần đi
dạy về, vừa bước vào cửa mẹ ôm mặt òa khóc. Tôi hỏi mãi, mẹ mới chịu kể: "Mẹ
đang dạy trong lớp thì một người sang trọng đến hành lang, gật đầu ra hiệu muốn
gặp mẹ. Mẹ bước ra, người ấy trao cho mẹ một xấp vải và chiếc phong bì, nói:
"Xin cô cho cháu nó vào học lại". Mẹ từ tốn trả lời: "Trường hợp cháu đã quá
nhiều lần vi phạm kỷ luật, ban giám hiệu đã quyết định cho nghỉ học. Có gì xin
ông gặp ban giám hiệu". Người ấy cứ dúi quà vào tay: "Cô nhận đi, không sao đâu,
miễn là lo được cho cháu". Mẹ nghiêm giọng: "Xin lỗi, tôi không lo được, ông cứ
mang lên ban giám hiệu". Người ấy bỏ đi và thòng theo câu nói: "Rách mà làm
phách!". Mà đúng vậy, mẹ càng đeo đuổi nghề, càng ngày càng rách thật. Rách đến
mức hồi tôi còn nhỏ, mẹ đã từng phải cắt chiếc áo dài cưới của mẹ để may cho tôi
một chiếc áo mới, để tôi đến trường ngày khai giảng... Lần ấy mẹ tôi xót nhưng
không đau. Lần này đau vì có người xúc phạm đến danh dự của bà.
Tôi băn khoăn tự hỏi sao ngành giáo chức của mẹ tôi thê lương và bẽ bàng đến thế. Sách vở thì lại cho là nghề giáo cao quí lắm mà. Tôi tự hỏi và rồi tự hỏi.
Tôi băn khoăn tự hỏi sao ngành giáo chức của mẹ tôi thê lương và bẽ bàng đến thế. Sách vở thì lại cho là nghề giáo cao quí lắm mà. Tôi tự hỏi và rồi tự hỏi.
Một lần khác, một phụ huynh
tổ chức đám cưới cho con ở một nhà hàng sang trọng đã mời mẹ tôi. Xung quanh
những khách khứa hào nhoáng, mẹ tôi trao chiếc phong bì mừng đám. Vị phụ huynh
ấy đẩy tay mẹ tôi từ chối và nói một câu tự nhiên: "Tiền bạc đâu mà cô mừng cho
cháu. Mời cô cốt là để cô bồi dưỡng cho sức khoẻ". Mẹ tôi tái mặt, xấu hổ đến
chín người và mẹ đã tìm cách ra về. Đến nhà, vào buồng, mẹ kéo chiếc chăn đắp
lên ngực, mắt mở lớn nhìn lên trần nhà, và nước mắt cứ trào ra...
Tôi không nhớ hết được bao
nhiêu lần mẹ tôi đã khóc như vậy. Cứ sau mỗi lần ấy, mẹ lại kéo chiếc hộc tủ có
nhiều kỷ niệm đẹp của đời dạy học của mình ra và mẹ im lặng đọc từng lá thư,
ngắm từng chiếc thiệp. Hình như lòng mẹ thanh thản trở lại. Nhưng cuộc sống cứ
không để yên cho lòng mẹ thanh thản. Lại muôn vàn đắng cay, muôn vàn nhức nhối.
Vậy mà mẹ vẫn muốn tôi trở thành cô giáo. Một năm nữa tôi sẽ ra trường, sẽ đứng
lớp. "Dẫu sao mẹ nói rằng đó vẫn là một nghề có ích nhất cho đời. Người thầy
luôn mở rộng tấm lòng bao la, quảng đại để chấp nhận những thử thách khó khăn
nhất xảy ra cho đời mình, và với tấm lòng vị tha, người thầy luôn để lại những
dấu ấn đẹp cho mỗi cuộc đời..."
Trong những ý tưởng bâng
quơ, buồn vơi, tôi ngẫm nghĩ sống mà không biết yêu thương, ơn nghĩa thì "Sanh
Bất Nhược Tử" (Sống mà như chết), chết mà còn để lại cho đời những tấm gương
sáng thì "Tử Bất Nhược Sanh" (Chết mà như sống). Vậy thì người ta tri ân những
nhà triệu phú hay tri ân những nhà giáo nghèo? Hỏi tức là đã trả lời, nhà triệu
phú cũng sẽ được tri ân như vậy nếu như họ biết làm việc từ thiện mà không khoe
khoang cho mọi người biết. Riêng tôi, cảm thấy vô cùng hạnh phúc vì còn được nói
hai tiếng "cám ơn" chứ không phải là "rất tiếc".
Đó là đôi dòng về người thầy
cũ của tôi, về vị thầy giáo oan khiên bôn ba sau thời vận Shah hoàng, về cô giáo
Violet Bible và về cô giáo Hạnh, mẹ của người bạn tôi. Nếu ở đời có những đứa
trẻ tinh nghịch, lớn lên bằng ý tưởng hẹp hòi và cố chấp thì xã hội cũng có
người học trò cũ tinh nghịch của cô giáo Hạnh lớn lên trong ý thức biết ơn và
bao dung.
Tôi nhìn về hướng vị thầy cũ
mang dáng trí thức với đôi kính cận như dạo nào, ông bước xuống sân khấu sau khi
trình bày hai nhạc phẩm nhắc nhớ những kỷ niệm quê hương. Thông thường ai cũng
có những vị ân sư để mình nhờ về dĩ vãng và để tạ ơn. Nhân đọc sách của nhà văn
A.J. Cronin viết, tôi có ngẫu hứng viết bài này kính tặng các nhà giáo Doãn Quốc
Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Văn Sâm và các anh chị trong văn đàn Tạ Xuân Thạc, Trần
Anh Dũng, Trần Việt Hải, Tôn Thất Phú Sĩ, Vũ Đình Trường, Vũ Tiến Thăng, Hoàng
Định Nam và Hoàng Huy Giang và còn nhiều... mà tôi không kể hết tên trong nhóm
Đồng Tâm tại Houston.
Lời sau cùng tôi muốn cám ơn
ba mẹ sinh thành dưỡng nuôi, cám ơn các cô thầy dạy dỗ bảo ban, cám ơn quê cha
đất mẹ cho tôi những tình tự văn hóa Việt Nam và cũng như cám ơn phấn trắng bảng
đen cho tôi những dòng cảm nghĩ trong bài viết này.
Dương Hà,
Houston
Houston
Chuyên mục
TỰ TÌNH DÂN TỘC
01:01
Nón lá không xa lạ với chúng ta, ngày nay ở
hải ngoại chỉ thấy nón lá xuất hiện trên sân khấu, trình diễn nghệ thuật múa
nón
và áo dài duyên
dáng mền mại kín đáo của thiếu nữ Việt Nam nổi bật bản
sắc văn hoá dân tộc, áo dài
và nón lá là nét đặc thù của đàn bà
Việt Nam, chắc chắn không ai chối cãi. Nếu mặc áo đầm,
hay quần tây mà đội nón không tạo được nét đẹp riêng.
Nón dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khỏang 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:
Nón dấu : nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa
Nón gò găng hay nón ngựa: sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa
Nón rơm : Nón làm bằng cộng rơm ép cứng
Nón quai thao : người miền Bắc thường dùng trong lễ hội
Nón cời : nón rách
Nón Gõ : Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa
Nón lá Sen: cũng gọi là nón liên diệp
Nón thúng: thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.
Nón khua :Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa
Nón chảo : thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng
Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang
Nón bài thơ : ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ v.v
Người Việt từ
nông thôn cho tới thành thị đều dùng nón lá, nhưng ít người để ý nón lá có bao
nhiêu
vành, đường kính rộng bao nhiêu cm. ? Nón lá tuy giản dị rẻ tiền
nhưng nghệ thuật làm nón cần phải khéo tay. Nghề chằm nón không chỉ dành riêng
cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình
cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón. Với cây mác
sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu ; sau đó uốn
thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì chằm
nức
vành . Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màu xanh
nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Khi xây và lợp lá,
người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để
nón có thể thanh và mỏng. Nghề làm nón lá thường sản
xuất từ miền Bắc và miền Trung trong các làng quê
sau các vụ mùa, ở các tỉnh miền Nam không thấy người ta chằm nón
?
Vật liệu làm nón tuy đơn sơ nhưng khó tìm loại lá làm nón, lá mọc ở những vùng núi, sau nầy người ta đem giống về trồng ở vườn, có tên Du Qui Diệp là lá làm tơi thời gian văn minh chưa phát triển, người ta dùng loại lá nầy làm cái tơi để mùa đông chống mưa gió. Một loại khác là Bồ Qui Diệp là loại mỏng và mền hơn để làm nón lá.
Ngày nay dù đã phát triển nhưng trên những cánh đồng lúa xanh tươi ngoài Bắc, trong những trưa hè nắng gắt, người ta còn dùng lá tơi để che nắng, giống như con công đang xòe cánh .
Người ta chặt lá nón non còn búp, cành lá nón có hình nan quạt nhiều lá đơn chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê có người chằm nón. Ở Quảng Nam ngày xưa vùng Bà Rén chuyên buôn bán nón lá, từ đó phân phối đến các chợ như chợ Hội An, có khu bán nón lá nhiều loại
Lá
non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương
đêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng,
dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải
nhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ
giấy dài màu trắng, có nổi
lên những
đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phần ngoài của
nón. Người ta dùng cái khung hình giống như Kim Tự Tháp Ai Cập, có 6 cây sườn
chính, khoảng cách giống nhau để gài 16 cái vành nón tròn lớn nhỏ khác nhau lên
khung. Cái khung nầy phải do thợ chuyên môn làm kích thước đúng cỡ khi lợp
lá và
chằm nón xong, tháo nón ra dễ dàng. Nón thường
chỉ 16
vành tròn làm bằng tre cật vót nhỏ đều nhau nối lại, Nón bài thơ nhẹ mỏng
chỉ 2 lớp lá trong chen hình cảnh và các câu thơ, nón thường độ bền
lâu hơn dày có 3 lớp phần trong lót thêm loại lá đót, (loại cây nầy giống cây
sậy, khi trổ bông người ta lấy bông làm chổi) Chằm xong nón tháo
khỏi khung, cắt lá thừa nức miệng nón và làm quai, nón rộng đường kính
thường 41 cm, người ta phết phiá ngoài lớp mỏng sơn dầu trong suốt nước mưa
không thấm qua các lỗ kim vào bên trong. Để có được một chiếc
nón, phải trải qua 15 khâu, từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây
độn
vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt
chỉ...
Thời gian chưa có chỉ cước người ta dùng bẹ lá cây thuộc loại thơm (hùm) tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải, chải lấy phần tơ dùng làm chỉ để chằm nón, hay dùng chỉ đoác. Nhưng sau nầy phát triển người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã hơn. Nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt nam
Nón em chẳng đáng mấy đồng,
Chàng mà giật lấy ra lòng chàng tham
Nón em nón bạc quai vàng
Thì em mới dám trao chàng cầm tay
Tiếc rằng vì nón quai mây
Nên em chẳng dám trao tay chàng cầm
Nón quai thao, hay nón thúng các cô gái Bắc thời xưa chưa chồng thường dùng, ngày nay đến Hà Nội không còn thấy ai đội nón quai thao, trên đường phố cổ trầm mặc dưới bóng cây cổ thụ, thiếu nữ Hà Nội che dù màu, đội mũ lát, đội mũ tân thời, nhưng vào thăm Văn Miếu sẽ thấy trình diễn văn hoá, hát quan họ, các cô đều trang sức giống như thời xưa với chiếc nón quai thao ( hình trên trong Văn Miếu)
Thưở xưa con gái sau khi lập gia đình, bổn phận làm vợ, làm mẹ, họ chỉ chú trọng đến niềm vui tận tụy làm tròn bổn phận trong gia đình, xao lãng những vẻ đẹp bề ngoài..
Chưa chồng nón thúng, quai thao
Chồng rồi, nón rách, quai nào thì quai
Chửa chồng, yếm thắm, đeo hoa
Chồng rồi, hai vú bỏ ra tầy giành.
Túa ống tơ ngà tha thướt gió
Vàng vàng lá lụa nắng tươi xinh
Khuôn hoa e lệ trong khuôn nón
Say mắt chàng trai tiếc gửi tình
Nhung dép cong nghiêm bước thẳng đường
Đâu ngờ tơ nón gió vương vương
Chàng về, mắt dắm sầu xa vắng
Cả một trời xuân nhạt nắng hường
Chiếc nón quai Thao Anh Thơ
Thân phận của những bóng hồng khi về chiều nhan sắc tàn phai
Còn duyên nón cụ quai tơ
Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong
Dáng dấp con gái Việt Nam mềm mại, dịu dàng, nếu trên đầu nghiêng nghiêng vành nón trắng. Nụ cười, ánh mắt giấu sau vành nón ấy mới cơ hồ e ấp, rạo rực vì những bâng khuâng .. .
Mỗi thiếu nữ đều có một cái duyên để làm say đắm người khác phái. Nhưng tựu trung, nhan sắc của các nàng cũng không ngoài những điều đã được ca dao truyền tụng, Có nàng đẹp nhờ mái tóc thề hay cắt ngắn, đôi chân mày cong vòng như vầng trăng non dưới vành nón lá :
Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu
Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh màu
Sẽ làm khô làn môi en dịu ướt
Còn ta mắt anh..
Có sao đâu mà em phải cúi đầu từ khước
Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước
Thì mười ngón tay em sao bỗng quấn quít đan nhau
Nửa vầng má em bỗng thắm sắc hồng đào
Đôi chân bước ..anh nghe chừng sai nhịp.
Thu Nhất Phương
Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nổi tiếng từ xa xưa cho đến bây giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn, bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế làm nón bài thơ dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn người ta còn cắt những bức tranh với chùa Linh Mụ, cầu Trường Tiền, con đò trên sông Hương... và đặc biệt nhất là vài câu thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế
Sông Hương lắm chuyến đò ngang
Chờ anh em nhé, đừng sang một mình
Ca dao
Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên
Nguyễn Khoa Điền
Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay
Bích Lan
Những chiếc nón bài thơ thường trở thành vật "trang sức" của biết bao thiếu nữ. lựa nón, lựa quai, cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề.
Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ
Ngàn thông núi Ngụ đứng như mơ
Gió cầu vương áo nàng tôn nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ
Nón bài thơ hiện hữu trên khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của phụ nữ Huế, dùng nón lá nâng hay đựng xoài, cũng tạo nên nét đẹp mỹ miều
Anh về Bình Định ba ngày
Dặn mua chiếc nón lá dày không mua
Nón bài thơ đặc sản Huế nón Gò Găng ở Bình Định còn gọi là nón ngựa làm bằng vành tre cật, chuốt nhỏ như tăm, đan thành ba lớp mê sườn; bên ngoài phủ lớp lá kè non, chằm bằng những đường chỉ tàu trắng muốt và đều đặn. Trên đỉnh chóp được gắn chụp bạc hoặc đồi mồi có chạm trổ long-lân-qui-phụng. Quai nón được làm bằng lụa xanh hoặc đỏ, bản rộng và đều người ta chằm một chiếc nón ngựa phải mất cả tháng trời dày công nhọc sức. Vì vậy giá thành rất đắt, nó chỉ dành cho những người cao sang quyền quí, những chức sắc quan lại của triều đình. Dần dần theo nhu cầu của giới bình dân, nón ngựa được cải biên thành ngựa đơn rồi nón buôn, nón chũm, rẻ hơn nhiều. Các loại này đều không có chụp bạc, nó được thay bằng những tua ngũ sắc ở chóp nón cho đẹp. Ở các vùng làm nón, ngày cưới, nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể thì đội nón đi ngựa; còn những nhà nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày cưới. Vậy nên có câu ca dao:
Cưới nàng đôi nón Gò Găng
Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn
Ngày nay các cô gái làm nón hầu như không còn giữ được phương pháp làm nón ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh, giản tiện và dễ tiêu thụ của chiếc nón trắng mảnh mai - một sản phẩm của quá trình cải cách lâu dài. Để làm loại nón này phải qua nhiều công đoạn. Vấn sườn, lợp lá, chèn lá, chằm và nức. Việc làm lá đòi hỏi nhiều tính tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm
Nghề nón là thuộc thị trấn Gò Găng, Nhơn Thành - An Nhơn. Nơi đây có một chợ nón lớn họp thường ngày từ 3-4 giờ sáng. Cứ hết một đợt làm được 25-30 chiếc thì bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán và mua sắm vật liệu cho đợt sau. Mỗi tháng Gò Găng có thể cung cấp cho cả nước 50.000 chiếc nón. Gần đây nón Gò Găng còn được xuất khẩu sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp với xứ người. Như vậy, từ vùng núi cao nguyên mưa nguồn gió dữ cho đến các miệt vườn miền Nam
Nhớ nón Gò Găng
Vầng trăng đập đá
Sông dài sóng cả
Người quân tử,
Khăn điều vắt vai..
Đời sống văn minh, phát triển nhưng nón lá Việt nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay.

CHIẾC NÓN QUÊ HƯƠNG
Written By kinhtehoc on Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011 | 01:01
|
Nón nầy
che nắng che mưa
Nón nầy để đội cho vừa đôi ta Ca dao |
Nón dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khỏang 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:
Nón dấu : nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa
Nón gò găng hay nón ngựa: sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa
Nón rơm : Nón làm bằng cộng rơm ép cứng
Nón quai thao : người miền Bắc thường dùng trong lễ hội
Nón cời : nón rách
Nón Gõ : Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa
Nón lá Sen: cũng gọi là nón liên diệp
Nón thúng: thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.
Nón khua :Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa
Nón chảo : thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng
Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang
Nón bài thơ : ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ v.v
Vật liệu làm nón tuy đơn sơ nhưng khó tìm loại lá làm nón, lá mọc ở những vùng núi, sau nầy người ta đem giống về trồng ở vườn, có tên Du Qui Diệp là lá làm tơi thời gian văn minh chưa phát triển, người ta dùng loại lá nầy làm cái tơi để mùa đông chống mưa gió. Một loại khác là Bồ Qui Diệp là loại mỏng và mền hơn để làm nón lá.
Ngày nay dù đã phát triển nhưng trên những cánh đồng lúa xanh tươi ngoài Bắc, trong những trưa hè nắng gắt, người ta còn dùng lá tơi để che nắng, giống như con công đang xòe cánh .
Người ta chặt lá nón non còn búp, cành lá nón có hình nan quạt nhiều lá đơn chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê có người chằm nón. Ở Quảng Nam ngày xưa vùng Bà Rén chuyên buôn bán nón lá, từ đó phân phối đến các chợ như chợ Hội An, có khu bán nón lá nhiều loại
Thời gian chưa có chỉ cước người ta dùng bẹ lá cây thuộc loại thơm (hùm) tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải, chải lấy phần tơ dùng làm chỉ để chằm nón, hay dùng chỉ đoác. Nhưng sau nầy phát triển người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã hơn. Nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt nam
Nón em chẳng đáng mấy đồng,
Chàng mà giật lấy ra lòng chàng tham
Nón em nón bạc quai vàng
Thì em mới dám trao chàng cầm tay
Tiếc rằng vì nón quai mây
Nên em chẳng dám trao tay chàng cầm
Nón quai thao, hay nón thúng các cô gái Bắc thời xưa chưa chồng thường dùng, ngày nay đến Hà Nội không còn thấy ai đội nón quai thao, trên đường phố cổ trầm mặc dưới bóng cây cổ thụ, thiếu nữ Hà Nội che dù màu, đội mũ lát, đội mũ tân thời, nhưng vào thăm Văn Miếu sẽ thấy trình diễn văn hoá, hát quan họ, các cô đều trang sức giống như thời xưa với chiếc nón quai thao ( hình trên trong Văn Miếu)
Thưở xưa con gái sau khi lập gia đình, bổn phận làm vợ, làm mẹ, họ chỉ chú trọng đến niềm vui tận tụy làm tròn bổn phận trong gia đình, xao lãng những vẻ đẹp bề ngoài..
Chưa chồng nón thúng, quai thao
Chồng rồi, nón rách, quai nào thì quai
Chửa chồng, yếm thắm, đeo hoa
Chồng rồi, hai vú bỏ ra tầy giành.
Túa ống tơ ngà tha thướt gió
Vàng vàng lá lụa nắng tươi xinh
Khuôn hoa e lệ trong khuôn nón
Say mắt chàng trai tiếc gửi tình
Nhung dép cong nghiêm bước thẳng đường
Đâu ngờ tơ nón gió vương vương
Chàng về, mắt dắm sầu xa vắng
Cả một trời xuân nhạt nắng hường
Chiếc nón quai Thao Anh Thơ
Thân phận của những bóng hồng khi về chiều nhan sắc tàn phai
Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong
Dáng dấp con gái Việt Nam mềm mại, dịu dàng, nếu trên đầu nghiêng nghiêng vành nón trắng. Nụ cười, ánh mắt giấu sau vành nón ấy mới cơ hồ e ấp, rạo rực vì những bâng khuâng .. .
Mỗi thiếu nữ đều có một cái duyên để làm say đắm người khác phái. Nhưng tựu trung, nhan sắc của các nàng cũng không ngoài những điều đã được ca dao truyền tụng, Có nàng đẹp nhờ mái tóc thề hay cắt ngắn, đôi chân mày cong vòng như vầng trăng non dưới vành nón lá :
Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu
Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh màu
Sẽ làm khô làn môi en dịu ướt
Còn ta mắt anh..
Có sao đâu mà em phải cúi đầu từ khước
Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước
Thì mười ngón tay em sao bỗng quấn quít đan nhau
Nửa vầng má em bỗng thắm sắc hồng đào
Đôi chân bước ..anh nghe chừng sai nhịp.
Thu Nhất Phương
Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nổi tiếng từ xa xưa cho đến bây giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn, bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế làm nón bài thơ dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn người ta còn cắt những bức tranh với chùa Linh Mụ, cầu Trường Tiền, con đò trên sông Hương... và đặc biệt nhất là vài câu thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế
Sông Hương lắm chuyến đò ngang
Chờ anh em nhé, đừng sang một mình
Ca dao
Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên
Nguyễn Khoa Điền
Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay
Bích Lan
Những chiếc nón bài thơ thường trở thành vật "trang sức" của biết bao thiếu nữ. lựa nón, lựa quai, cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề.
Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ
Ngàn thông núi Ngụ đứng như mơ
Gió cầu vương áo nàng tôn nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ
Nón bài thơ hiện hữu trên khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của phụ nữ Huế, dùng nón lá nâng hay đựng xoài, cũng tạo nên nét đẹp mỹ miều
Anh về Bình Định ba ngày
Dặn mua chiếc nón lá dày không mua
Nón bài thơ đặc sản Huế nón Gò Găng ở Bình Định còn gọi là nón ngựa làm bằng vành tre cật, chuốt nhỏ như tăm, đan thành ba lớp mê sườn; bên ngoài phủ lớp lá kè non, chằm bằng những đường chỉ tàu trắng muốt và đều đặn. Trên đỉnh chóp được gắn chụp bạc hoặc đồi mồi có chạm trổ long-lân-qui-phụng. Quai nón được làm bằng lụa xanh hoặc đỏ, bản rộng và đều người ta chằm một chiếc nón ngựa phải mất cả tháng trời dày công nhọc sức. Vì vậy giá thành rất đắt, nó chỉ dành cho những người cao sang quyền quí, những chức sắc quan lại của triều đình. Dần dần theo nhu cầu của giới bình dân, nón ngựa được cải biên thành ngựa đơn rồi nón buôn, nón chũm, rẻ hơn nhiều. Các loại này đều không có chụp bạc, nó được thay bằng những tua ngũ sắc ở chóp nón cho đẹp. Ở các vùng làm nón, ngày cưới, nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể thì đội nón đi ngựa; còn những nhà nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày cưới. Vậy nên có câu ca dao:
Cưới nàng đôi nón Gò Găng
Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn
Ngày nay các cô gái làm nón hầu như không còn giữ được phương pháp làm nón ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh, giản tiện và dễ tiêu thụ của chiếc nón trắng mảnh mai - một sản phẩm của quá trình cải cách lâu dài. Để làm loại nón này phải qua nhiều công đoạn. Vấn sườn, lợp lá, chèn lá, chằm và nức. Việc làm lá đòi hỏi nhiều tính tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm
Nghề nón là thuộc thị trấn Gò Găng, Nhơn Thành - An Nhơn. Nơi đây có một chợ nón lớn họp thường ngày từ 3-4 giờ sáng. Cứ hết một đợt làm được 25-30 chiếc thì bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán và mua sắm vật liệu cho đợt sau. Mỗi tháng Gò Găng có thể cung cấp cho cả nước 50.000 chiếc nón. Gần đây nón Gò Găng còn được xuất khẩu sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp với xứ người. Như vậy, từ vùng núi cao nguyên mưa nguồn gió dữ cho đến các miệt vườn miền Nam
Nhớ nón Gò Găng
Vầng trăng đập đá
Sông dài sóng cả
Người quân tử,
Khăn điều vắt vai..
Đời sống văn minh, phát triển nhưng nón lá Việt nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay.
Chuyên mục
TỰ TÌNH DÂN TỘC
00:52
NGƯỜI VIỆT TRUNG DUNG
|
|
Trung Quốc: tưởng vậy mà...
Về cái ăn, ta đứng giữa Hoa, Nhật
Về cái uống, ta đứng giữa Hoa, Nhật
Về cái ở, cái... tắm, cũng thế
Về cái mặc, cũng vậy
Về cái chơi: vẫn Hoa-Việt-Nhật
Trung dung không phải trung bình
Trung Quốc: tưởng vậy mà...
Xã hội Trung Quốc tổ chức theo Nho giáo hơn hai nghìn năm. Ðạo Khổng bền, hẳn có hợp với người Tàu. Khổng Tử đề cao thái độ trung dung. "Trung là không thái quá, không bất cập".(1) "Dung là bất dịch, là không thay đổi".(2) Trung dung nghĩa luôn luôn chừng mực. Vậy người Tàu ít cực đoan.
Chuyện hợp lý, gần đây bỗng sinh ngờ vực. Vài quan sát ngẫu nhiên một hôm gây thắc mắc. Bèn thử đặt lại vấn đề.
Về cái ăn, ta đứng giữa Hoa, Nhật
Vạn sự khởi đầu vào một cuối tuần ăn uống khá lăng nhăng, sáng phở bò Tiểu Sài Gòn, trưa mì vịt tiềm phố Tàu. Dùng xong bát mì béo ngậy, loanh quanh giây lát giữa đám đông người Hoa trong khu mua sắm, chợt nhận thức có khác nhau đáng kể giữa hai món ăn cơ bản của hai láng giềng Á Ðông. Có phải cùng sợi, nước, thịt, mà phở "nhẹ", "thanh", "tươi" hơn mì?
Phở chỉ là một trong nhiều món ngon của dân tộc. Tập hợp tất cả món ăn phổ thông cả nước, nêu đặc tính chung, đem so với cái ăn bên Trung Quốc, thấy gì?
Rõ ràng thực đơn Việt gồm khá nhiều món thịt cá dùng tái, thậm chí sống, với gia vị tươi; trong khi người Tàu luôn nấu thật chín và thường ướp gia vị khô như bột ngũ vị hương.
Trong danh phẩm My country and my people, Lâm Ngữ Ðường tiết lộ: "Bí quyết của nghệ thuật nấu nướng Trung Quốc là ở cách pha trộn hương vị".(3) Ông ví dụ món thịt heo hầm măng và món thịt gà xào cải. Nấu thành công thì hương vị thịt heo / gà ngấm vào măng / cải, hương vị măng / cải lại ngấm vào thịt heo / gà, làm cho cả thịt lẫn rau cùng trở nên "hợp khẩu" hơn. Họ Lâm viết giọng tự tin, nhiệt tình. Ngon hơn hay không, nấu như thế hẳn mọi thứ nguyên liệu đều chín kỹ.
Người Việt cũng không thích ăn đơn hương, độc vị. Nhưng ta có cách pha trộn riêng của ta. Hãy nghe Ðinh Hùng, thuở ấy là một thiếu niên ngưỡng mộ Tản Ðà, tả thi sĩ tửu đồ dùng bữa: "...nhà thơ bày la liệt những đĩa, những chén nho nhỏ xinh xinh, đựng linh tinh các món gia vị: chút tương vàng óng, chút nước mắm ô long nâu thẫm, những trái ớt đỏ tươi, những quả chanh cốm xanh ngắt, và đĩa rau riếp thái nhỏ điểm lên những cánh rau thơm, rau mùi, rau ngổ hái ngay ở vườn nhà, và đĩa rau muống chẻ non bẽo - thứ rau muống Sơn Tây trắng nõn như ngó cần - không thiếu từ chút hạt tiêu sọ, thêm cả một con cà cuống băm, mấy củ hành hoa, đĩa lạc rang, vài chiếc bánh đa vừng..."(4) La liệt xung quanh Tản Ðà, tóm tắt, là ngồn ngộn hương vị rau cỏ tươi sống. Trong tùy bút Ăn... Mùi, Võ Phiến so sánh gia vị tươi với thành phần của một ban nhạc: "Trong một dĩa rau thơm, mùi nọ lẫn với mùi kia, tôn nhau lên, chế hóa nhau: đó là một cuộc hòa tấu, một bản nhạc mùi".(5) Chỗ lý thú là người Tàu hòa nhạc trong chảo, trong nồi, còn ta tấu trong miệng, khi nhai!
Chẳng cần đông đảo linh đình, miếng thịt bò nhúng giấm chấm mắm nêm kèm khế, chuối chát, hay miếng bê thui tương gừng thêm vài lá ngổ, càng nhai thịt và gia vị càng "tôn nhau", "chế hóa nhau" cách kỳ diệu, ăn ngon... mệt nghỉ.
Người Việt ăn sống hơn người Tàu, vậy họ trung dung ta cực đoan chăng?
Thử xem qua món sushicủa người Nhật, một dân tộc Á Ðông khác. Dân xứ Phù Tang có thể ăn "tươi" gần như tất cả các loài dưới nước, kể cả tôm! Và họ ăn gần như không gia vị: miếng hải sản sống trăm phần trăm, mảnh rong nướng, chút tương cải xanh, chút xì dầu, là toàn thể "ban nhạc". So với món gỏi cá sống của ta, vốn dùng với rất nhiều rau thơm để át vị tanh, thì sushi"sống sít" hơn thấy rõ.
Về cái ăn, dường như người Tàu "thái quá", người Nhật "bất cập", chính người Việt mới đích thị "trung dung"!
Về cái uống, ta đứng giữa Hoa, Nhật
Ai cũng biết các dân tộc Á Ðông thích uống trà. Có lẽ ít người để ý chỗ khác nhau giữa trà Tàu, trà Nhật, trà Việt Nam. Người Trung Quốc uống trà lâu đời, viết thành sách nổi tiếng: Trà kinh. Người Nhật cũng lừng danh thế giới với trà đạo. Người Việt, ở đất gốc phía bắc, tuy chẳng sách vở đạo điếc gì, cũng uống trà nhiều như ai. Trà ta - tức chè Thái - có bản sắc mạnh mẽ.
Trà Tàu chia ba loại chính, chủ yếu phân biệt ở mức độ chế biến, gồm hai giai đoạn ủ và sao. Chế biến kỹ nhất là "trà đen", nước pha màu nâu đậm; chế biến vừa là loại trà Ô Long như Thiết Quan Âm, nước màu vàng sẫm; chỉ sao, không ủ, là "trà xanh", như Long Tỉnh, nước pha vàng nhạt.(6) Dù có thuộc loại chế biến nhẹ nhàng nhất, chén trà Tàu vẫn không còn giữ bao nhiêu hương vị của lá trà tươi. Nhất là vị, tuyệt đối không còn chát.
Trà Nhật, ngược lại, hương vị tươi sống gần như... sushi! Nhớ đôi lần dự trà đạo, nâng chén trà, ngắm nghía mà... ngần ngại. Vì loại trà quý của Nhật có màu xanh lè, xanh như ten đồng, như nước Hồ Gươm! Nhớ trong Trà đạo, Okakura Kakuzo có tả "cái chén đựng chất nước xanh lục"(7) mà đệ nhất trà nhân Rikyu dâng lên cho chúa Taiko Hideyoshi. Ôi, màu xanh... rùng rợn! Các loại trà phổ thông màu sắc bình thường hơn, xanh vàng. Trà Nhật gần như không hương, vị chát đậm, hơi tanh (?).
Trà Thái Nguyên của ta, nếu giống tốt, hái đúng lứa, chọn toàn búp và hai lá non sát búp (gọi là hái "một tôm hai lá"), xong đem "xao suốt", tức sao liên tục, một hơi, trên lửa than củi đượm, thì kết quả sẽ... vô cùng rực rỡ. Màu "xanh anh ánh", vị vừa "chát khiêu khích" vừa "ngọt sâu thẳm", hương "hết sức dịu dàng".(8) Cái hương quái lạ, "lúc chén trà đang bốc khói, nâng lên ngang tầm mũi, cứ tưởng như nhà ai vừa mới mở cái nắp vung của một chõ xôi gạo nếp cái hoa vàng".(9) Cái hương ấy có thể thưởng thức cách hoàn toàn không tốn kém là mở nắp lọ chè đưa lên mũi ngửi. A, hương chè, hay chính mộc mạc hương quê!
Xét về độ tươi sống, hiển nhiên trà Việt Nam đứng giữa hai thứ "trà đạo" và "trà kinh".
Về cái ở, cái... tắm, cũng thế
Ăn, uống, tuy chuyện "phàm tục", thường tình, vẫn thỉnh thoảng được nhắc đến cách đặc biệt trong văn học. Cái "ở" kém thế hơn một chút, hiếm khi chiếm địa vị chủ đề. Mặt khác, nhà cửa lại là khung cảnh sinh hoạt chính của đa số, nên viết gì thì viết, lắm lúc văn gia không khỏi mất đôi dòng về... cái nhà.
Trần Trọng Kim, nhân bôn ba hải ngoại, có dịp quan sát kỹ kiến trúc và lối trang trí nhà cửa bên Trung Quốc. Ông phát biểu minh bạch: "Nhà cửa ở các làng (...) tối tăm (...) Người Tàu thường ưa ở những cái buồng nhỏ hẹp, khi thấy cái buồng nào rộng, thì họ lấy gỗ ngăn làm mấy phòng nhỏ để mấy người hay mấy gia đình ở chứ không thích những buồng rộng rãi và thoáng đãng. Tôi gặp những người đã sang ở bên ta, (cho) ta làm nhà để buồng là phí đất. (...) Nhà cửa hay (...) có những kiểu trang sức rậm rạp".(10)
Okakura Kakuzo, trong lúc say sưa thuyết giảng về lý tưởng của trà đạo, cũng "lạc đề" qua chuyện... khác: "những cảnh bên trong nhà của người Nhật ngày nay vì quá đơn giản và thuần khiết về lối trang trí, nên có vẻ gần như trống trải đối với người ngoại quốc".(11)
Thế là rõ ràng. Nhà Tàu chật chội, tối tăm, trang trí rườm rà hơn nhà ta. Nhà Nhật lại "trống trải", "thuần khiết" hơn tất cả (có ta). Thế là về cái ở, lạ thay, cũng vẫn người Tàu thái quá, người Nhật bất cập, mà người Việt trung dung.
Bàn nơi ăn chốn ở, tự nhiên nghĩ chuyện vệ sinh. Trần Trọng Kim nhận xét: "Người Tàu gọi tắm là lấy khăn dúng vào nước rồi lau mình chứ không phải là dúng mình vào nước hay là lấy nước dội lên mình".(12) Nước Nhật nổi tiếng có những nhà tắm công cộng sạch sẽ, nam thanh nữ tú tha hồ "dúng mình vào nước" kỳ cọ kỹ càng. Người Việt xưa kia sở trường tắm giếng, kéo gàu, "dội lên mình". Tắm dúng, tắm dội, tắm lau, ô hay, sao trong cái tắm dường vẫn đó đây phân biệt, mà người Việt ta lại cứ tiếp tục chen vào giữa người Nhật, người Hoa!
Về cái mặc, cũng vậy
Tiếng Việt có nhiều từ kép bắt đầu bằng chữ "ăn". Ðã nói chuyện ăn uống, ăn ở, hãy thử xem qua chuyện ăn mặc.
Chiếc kimonocủa Nhật, ai cũng biết, chẳng những dài sát đất mà còn gồm mấy lớp, quấn kín, che phủ hoàn toàn thân thể. Áo dài của ta tuy mỏng manh, làm rõ lồ lộ bán thân trên, nhưng gần như không phơi bày da thịt. Xường xám của Trung Quốc may rất bó, nửa trên hoặc cộc tay hoặc sát nách, nửa dưới xẻ cao một bên, phô gần trọn đùi: mặc xường xám như thể mặc áo dài không tay không quần!
Tùy bút Võ Phiến có đôi bài về áo dài.(13) Theo lối viết miên man quen thuộc, ông bình phẩm cả về trang phục các nước khác; và như vô tình, giới thiệu một định nghĩa của văn hóa. "Trang phục là văn hóa, văn hóa là một cố gắng cải biến thiên nhiên". Từ góc nhìn này, chiếc kimonotượng trưng cho cố gắng cực đoan, vì "thiên nhiên" đã hoàn toàn bị che đậy, vì "Thân người chỉ còn như là cái cớ cho sự xây dựng một công trình mỹ thuật". Về cố gắng cực đoan đối nghịch, Võ Phiến chú ý chiếc váy ngắn thời trang nóng bỏng của Tây phương gần bốn mươi năm trước. Ông gọi hiện tượng mini-jupelà "cuộc phi nước đại trở về tự nhiên". Thiết tưởng xường xám dù chưa hẳn ngon trớn "lồng" lên như thế, cũng vẫn đã bỏ xa lắm cái phong thái "rùa bò" của "công trình mỹ thuật". Ðặt giữa hai thứ trang phục Á Ðông chống đối nhau kịch liệt, chiếc áo dài Việt Nam, không tránh được, trở thành tiêu biểu cho "sự dung hòa giữa tự nhiên và văn hóa". Mặc ai nhanh ai chậm, trên đường về nguyên thủy, chiếc áo đơn sơ kỳ diệu của ta cứ ung dung, thủng thỉnh vó câu.
Trường hợp cái mặc, người Nhật chủ trương nhiều, người Tàu thiên vị ít, người Việt lại cố ý lửng lơ.
Về cái chơi, vẫn Hoa-Việt-Nhật
Ăn, uống, ở, mặc đều ít nhiều thiết thực, liên hệ với nhu cầu thể xác. Ăn chơi nhằm đáp ứng đòi hỏi tinh thần.
Chơi, biết bao nhiêu lối. Nhạc là chơi. Có ai để ý tiếng sáo Nhật nó não nùng, thê lương, ma quái, kỳ dị không sao tả nổi? Tiếng sáo Tàu dường như tương phản, dường như điển hình nghe rộn ràng, ríu rít, tưng bừng, đầy sinh khí (chẳng biết xưa Trương Lương thổi cho quân Hạng Vũ tan hàng là thổi thế nào?). Người Việt Nam thổi sáo khác cả người Nhật lẫn người Hoa: giọng sáo ta khoan thai, bình thản, không buồn... phi lý, không vui bồng bột.
Thơ cũng là chơi. Luật thơ Ðường rắc rối, cầu kỳ, luật thơ tanka của Nhật đặc biệt đơn giản (14), luật thơ lục bát của ta không dễ không khó.
Có thơ, thường có rượu. Cùng làm bằng ngũ cốc, rượu trắng Việt Nam nặng hơn sake của Nhật, nhẹ hơn Mao Ðài của Trung Quốc.(15)
Về cái nhạc, cái thơ, cái... rượu, dường như ta lại vẫn duy trì thế đứng trung dung?
Trung dung không phải trung bình
Vừa rồi, ngon trớn ví dụ liên miên. Tạm nghỉ bút, xem lại, không khỏi giật mình. Băn khoăn e có chỗ lý lẽ chưa đủ thuyết phục. Ðắn đo còn những so sánh khác có thể giá trị hơn, liệu nên tiếp tục đưa ra? Ngẫm nghĩ, tự nhắc nên tránh cầu toàn, nên vui nếu may ra chỗ nhận xét của mình cơ bản không đi chệch hướng.
Bấy nhiêu "bằng chứng", dù chưa hoàn hảo, có lẽ đủ cho thấy khuynh hướng đứng giữa của phong cách sinh hoạt Việt Nam. Ðứng cách ý nghĩa, không phải vu vơ, ngẫu nhiên. Ðứng bền, không thay đổi qua bao nhiêu dâu bể thăng trầm. Lạ chứ.
Kẻ đa nghi mỉa mai: Trung Quốc và Nhật Bản là hai đỉnh cao của thế giới Á Ðông. Họ tượng trưng cho hai thái cực. Ta thấp hơn họ, chẳng đứng giữa thì còn đứng đâu? Chẳng riêng ta, các dân tộc khác ở Ðông Nam Á đều thế. Lạ gì.
Ða nghi như thế dễ dãi. Từ đầu đến đây, mới nêu cái khác, là cái tuy vậy tương đối dễ nêu. Giờ, chẳng đừng được, phải nói qua chuyện thấp cao, hơn kém. Giàu mạnh hơn không có nghĩa văn hóa cao hơn. Ðứng giữa vẫn có năm bảy đường. Có cái đứng ngơ ngẩn, tình cờ; có cái đứng đầy biểu lộ, phản ánh nội dung riêng biệt, sâu sắc. Nên đặt vấn đề cách cụ thể, chú trọng đánh giá sản phẩm cuối cùng: Phở, bún bò, chè Thái, rượu Vân, áo dài, tiếng sáo trúc, tiếng đàn bầu, lục bát Kiều v.v. có thấp hơn món ăn thức uống, y phục, âm nhạc, thi ca của Hoa, Nhật chăng? Có cao hơn văn hóa của các anh em Ðông Nam Á chăng?
Câu trả lời nằm trong lời tựa My country and my people. Vào sách, tác giả cho biết ngay sẽ không bận tâm chứng minh những nhận định rất thuận lợi của mình về nước Tàu, dân Tàu. Ông nhắc nhở: "... sự thực không chứng minh được, mà chỉ có thể cảm thấy".(16) Ông vung bút liệt kê, giảng giải những điều ông cảm thấy về Ngô thổ dữ ngô dân, rồi dõng dạc... chấm hết.
Lâm Ngữ Ðường luận chí lý về bản chất của sự thực, và ông hành xử đích đáng. Có điều, ông được hưởng lợi thế. Trung Quốc, dù đôi khi sa cơ nhục nhã, vẫn đường đường nền văn minh cổ duy nhất còn tồn tại trên thế giới. Làm người Tàu, ông thừa tư cách để hùng hổ. Lạ, văn hóa Việt Nam chưa mấy ai biết đến, vậy mà kẻ làm người Việt sao cũng nhất định hùng hổ như ông!
1 – 2003_________________________
(Trong Tìm tòi và suy nghĩ, nxb. Của Tin, Mỹ, 2005)
(1) Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Ðại cương triết học Trung Quốc, quyển hạ, nxb. Xuân Thu, Mỹ, tr. 383.
(2) GC & NHL, sđd, tr. 394.
(3) Lâm Ngữ Ðường, My country and my people, nxb. John Day, Mỹ, in lần thứ bảy, 1935, tr. 340.
(4) Ðinh Hùng, Ðốt lò hương cũ, nxb. Lửa Thiêng, SG, 1971, tr. 27.
(5) Võ Phiến, Ăn... Mùi, Tùy bút I, nxb. Văn Nghệ, Mỹ, 1986, tr. 82.
(6) Theo tài liệu của công ty trà Thiên Nhân, Ðài Loan.
(7) Okakura Kakuzo, Trà đạo(Bảo Sơn dịch), nxb. Xuân Thu, Mỹ, tr. 136.
(8) Lê Minh Hà, Thương thế, ngày xưa..., nxb. Văn Mới, Mỹ, 2001, tr. 90.
(9) Nguyễn Hà, Hà thành hương và vị, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, Việt Nam, 1999, tr. 145.
(10) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, nxb. Vĩnh Sơn, SG, 1969, tr. 153.
(11) OK, sđd., tr. 73.
(12) TTK, sđd., tr. 154.
(13) VP, sđd., tr. 24, 30.
(14) Basil Hall Chamberlain, Japanese things, nxb. Tuttle, Mỹ và Nhật, in lần thứ 20, 1994, tr. 374.
(15) Rượu sake hiệu Hakutsuru: khoảng 30 độ. Rượu Nếp Mới: khoảng 60 độ. Rượu Mao Ðài: 106 độ.
(16) LNÐ, sđd., tr. xiii.
Chuyên mục
TỰ TÌNH DÂN TỘC
00:52
MỀM NHƯ NƯỚC
|
|
" Dẻo dai vốn sẵn tính trời"
Hoàng Hạc lâu Thôi Hiệu: cứng ngắc.
Hoàng Hạc lâu Vũ Hoàng Chương: mềm mại
Hoàng Hạc lâuTản Ðà: mềm mại, lưu loát
Vẽ, nặn, chạm, tạc: như nói, như thơ
Múa, kịch: cũng như nói, như thơ
Ăn mặc: thứ áo cho trông thấy... gió
Nhạc: nuôi, nắn... âm thanh
Từ đồ đồng đời Thương tới lời Khổng Tử
Thứ nước làm mềm đá
"Dẻo dai vốn sẵn tính trời"(1)
Dân tộc Việt Nam ứng xử linh động, mềm dẻo, cái ấy đã nhiều người biết.
Trong Việt Nam văn hóa sử cương, Ðào Duy Anh nhận xét người Việt "bắt chước, thích ứng và dung hóa (...) rất tài."(2)
Trong Tư tưởng phương Ðông..., Cao Xuân Huy cho rằng người Việt "có cái đặc tính mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt, lưu động, như nước", "Nước (...) dễ tính (...) không phải là vì nó không có cá tính. Trái lại, đó là cái khả năng thích ứng vô hạn của nó (...) chính cái khả năng thích ứng (...) là cái tính ưu việt, cái bí quyết sinh tồn của dân tộc ta."(3)
Hai học giả, hai cách nói, nhưng không có gì để nghi ngờ: Ðào Duy Anh và Cao Xuân Huy chính đang phát biểu về cùng một nét nền tảng quan trọng trong bản tính dân tộc. Cả hai hẳn đã dựa vào diễn biến lịch sử, quá trình phát triển xã hội, và nề nếp sinh hoạt mà rút ra kết luận ấy.
Gần đây, Phan Ngọc, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Huệ Chi, Trần Ðình Hượu, Trần Ngọc Thêm v.v., mỗi khi có dịp trình bày nhận định về bản sắc văn hóa Việt Nam đều không quên nhấn mạnh đặc điểm linh hoạt.
"Trăm miệng" một lời: Dân tộc ta tính mềm như nước.
"Nghệ thuật là người."(4) Cái mềm độc đáo trong tính nết có để lại vết tích rõ ràng nơi các nghệ phẩm của người Việt chăng?
Hoàng Hạc lâu Thôi Hiệu : cứng ngắc
Ðây có lẽ bài thơ Ðường được nhiều người dịch qua tiếng Việt nhất xưa nay.
Nguyên tác, theo âm Hán-Việt:
"Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu".(5)
Thành khẩn đọc đi đọc lại, bài thơ tám câu, sáu câu đầu nghe chẳng những không êm tai, lại còn thấy... tưng tức! May được hai câu chót, "đỡ" hơn.
Thơ Tàu mà được hai câu "êm" tai Việt, là đã ngoại lệ.
Trong Ðường thi, khi nhận xét về một bài thơ của Trương Kế, Trần Trọng Kim đã vô tình nói ra sự thực ấy: "Bài thơ này hay ở âm điệu, ít khi làm được như thế."(6)
Bài Phong kiều dạ bạc:
"Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền".
Ðúng là êm cả bài. Nhưng bài có vỏn vẹn bốn câu!
Thơ Tàu, ngay cả thơ đời Ðường, điển hình không hay về âm điệu. Nói nôm na, là thứ thơ cứng đơ, cứng ngắc.
Hoàng Hạc lâu Vũ Hoàng Chương: mềm mại
Bài thơ nào cũng làm một bằng một thứ ngôn ngữ nào đó, làm theo một thứ luật nào đó.
Thơ Tàu cứng do luật hay cứng do tiếng?
Vũ Hoàng Chương có lần dịch Hoàng Hạc lâu thành một bài thơ tiếng Việt luật Tàu:
"Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi
Trắng một màu mây, vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống, đâu quê quán?
Ðừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!".(7)
Thơ Vũ Hoàng Chương mềm mại, nhẹ nhàng hơn thơ Thôi Hiệu.
Làm theo cùng luật mà thơ "đổi giọng", thì chỉ có thể do đổi tiếng.
Tiếng Việt có gì lạ?
Theo Cao Xuân Hạo, câu trong tiếng Việt được cấu tạo theo công thức Ðề (tài) - Thuyết (minh). Ðấy là lối cấu trúc cực kỳ linh động.
Theo Trần Ngọc Thêm, nghệ thuật ngôn từ dân tộc "có đặc điểm ÐỘNG và LINH HOẠT (...) trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ pháp."(8)
Tiếng mềm, cho nên thơ mềm, ngay cả khi vẫn còn làm theo luật "cứng".
Hoàng Hạc lâuTản Ðà: mềm mại, lưu loát
Nếu dịch mà đổi cả thể thơ nữa thì sao?
Hoàng Hạc lâu, tiếng Việt, lục bát:
"Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai".(9)
Bài thơ dịch nổi tiếng của Tản Ðà vừa mềm mại, nhẹ nhàng, vừa trôi chảy như... mây trôi nước chảy.
Vũ Hoàng Chương dùng tiếng Việt, Tản Ðà cũng dùng tiếng Việt. Chỗ khác nhau về phong cách giữa hai bản dịch hiển nhiên là ở thể thơ.
Nguyễn Hưng Quốc nhận xét về thể lục bát: "câu lục thường đóng vai trò (...) gợi mở (...) câu bát (...) có chức năng chuyên chở nội dung thông báo."(10) Thế là cấu trúc Ðề-Thuyết chứ gì! Ðề-Thuyết đặc biệt linh động, do đó lục bát đặc biệt "hoạt bát"!
Thơ làm bằng tiếng Việt thì từng câu mềm. Nếu lại làm theo thể lục bát nữa thì chính cái cách tổ chức bài thơ nó cũng mềm.
Kết hợp hai cái mềm làm
"Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu"
hóa
"Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ".
Một đằng cứng cỏi, cô đọng. Một đằng mềm mại, lưu loát.
Tiếng Việt mà đem làm thơ lục bát, tưởng kết quả có thể xem là chính nhạc rồi. Thảo nào Xuân Diệu bảo: "Truyện Kiều còn là một bản nhạc dài"!(11)
Cùng một ý "Lầu Hạc", giờ có đến ba bài thơ.
Thơ hẳn là người. Ðọc thơ, hãy thử vẽ người.
Vẽ Thôi Hiệu thành một người Hoa Bắc mặt mũi lầm lì, khô khan (12), trong phẩm phục thiên triều đầy đủ cân đai hia mũ.
Vẽ Vũ Hoàng Chương thành một người Việt Nam với nét mặt linh hoạt, tình cảm, nhưng vẫn trong triều phục cầu kỳ, trịnh trọng.
Vẽ tác giả Thề non nước thành một người Việt khác, cũng mặt mũi linh hoạt, tình cảm, nhưng "diện" áo dài khăn đóng đơn giản, tự nhiên!
Vẽ, nặn, chạm, tạc: như nói, như thơ
Nghiên cứu mỹ thuật đời Lý, Thái Bá Vân nhận ra "sự nổi dậy kín đáo của một ý chí nghệ thuật cương quyết nhưng mềm mại (...) một nét thuộc bản sắc dân tộc".(13)
Ngắm nghía các tượng Phật đời Lý, Chu Quang Trứ cũng thấy chúng "biểu hiện sức sống (...) mãnh liệt" với những "đường nét hết sức mềm mại và uyển chuyển, bố cục cân xứng nhưng không đơn điệu (...) Nét dân tộc bật ra rất rõ, quán xuyến (...) toàn bộ (...) khác hẳn các hình tượng cùng đề tài của những dân tộc láng giềng."(14)
Lạ lùng, cái phong cách nghệ thuật độc đáo ấy ta đã có từ hàng ba nghìn năm trước đời Lý!
Khảo cổ học đã chứng minh người Việt Nam là con cháu của những cư dân văn hóa Ðông Sơn. Văn hóa Ðông Sơn có gốc ở văn hóa Phùng Nguyên, bắt đầu sớm trong thiên kỷ hai trước Tây lịch.(15) Ngắm nghía đồ gốm Phùng Nguyên, Hà Văn Tấn thấy người vẽ trang trí "ưa thích họa tiết tạo nên bằng những đường cong. Tất cả đều uyển chuyển, thanh thoát, dứt khoát mà vẫn mềm mại, nhịp nhàng mà không đơn điệu."(16) Trong Nguồn gốc Mã Lai..., Bình Nguyên Lộc cũng bảo: "Ðồ gốm (...) ở Cổ Việt Nam (...) khéo không kém đồ gốm cổ của Tàu, nhưng (...) khác hẳn."(17)
Nhận định về mỹ thuật Việt Nam nói chung, từ xưa tới nay, Thái Bá Vân bảo "nhịp nhàng, cân xứng (...) là hai chỉ tiêu nền tảng".
Tưởng hai chỉ tiêu ấy đem làm nền tảng cho tiếng Việt, thơ Việt cũng tốt. Tức ta vẽ, nặn, chạm, tạc cũng cùng y một cách ta nói, ta thơ!
Múa, kịch: cũng như nói, như thơ
Chèo cực thịnh cách nay khoảng vài trăm năm (18), bây giờ xem lại chèo cổ thấy người Việt Nam múa may tài tình kém chi ai!
Lưu Bình - Dương Lễ, cái đoạn lúc Châu Long và Lưu Bình "đụng độ" ở quán "đề thơ": trai tài gái sắc, trước kẻ xôn xao người e ấp như bướm vờn hoa, sau cả đôi quấn quít dập dìu như chim liền cánh (tuy thực ra tay vẫn chưa chạm bàn tay)!
Múa mà dẻo dang, mềm mại, bay bướm, nhẹ nhàng như thế, tưởng có ngại gì nếu phải đem ra so với cách uốn éo của những dân tộc khác. Trong lối múa chèo độc đáo của ta, diễn viên thậm chí chẳng cần chuyển đến thân mình, chỉ nội một cổ tay xoay tròn cũng đủ gợi bao nhiêu tình, ý.
Tất nhiên chèo không chỉ là múa. Trên sân khấu truyền thống, Trần Ngọc Thêm thấy rõ "tính linh hoạt"(19) qua sự việc diễn viên không nhất thiết theo sát bài bản của tích diễn và qua đặc điểm có thể có sự tham gia của người xem!
Nghệ thuật sân khấu của ta, như thế, giống nghệ thuật ngôn từ ở chủ trương cố tình lỏng lẻo trong cấu trúc.
Ăn mặc: thứ áo cho trông thấy... gió
Cách đây chưa lâu chiếc áo dài Việt Nam đã đăng quang trong một cuộc thi trang phục thế giới tổ chức ở Nhật. Dân xứ Phù Tang đối với nghệ thuật ta quả là tri kỷ! Ðặc biệt quý ở chỗ giữa bao ứng phẩm họ chọn áo của ta, vốn hoàn toàn đối nghịch với áo của họ.
Thực vậy, trông một phụ nữ Nhật đi như chạy lúp xúp trong chiếc kimono mấy lớp, tai ta như nghe được tiếng sột soạt của vải của hồ, của gò bó, cứng nhắc. Trái lại, ngắm một cô gái Việt Nam đi đứng khoan thai trong chiếc áo dài, nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Ðàm trông thấy ngay được... gió! (20)
Ông Nguyễn chú ý đến cái phấp phới thơ mộng của tà áo và ông tả nó cách độc đáo. Một nghệ sĩ tạo hình khác, họa sĩ Thái Tuấn, thưởng thức vẻ đẹp của chiếc áo dài ở trạng thái "tĩnh". Sống bên Pháp, xa quê, nhưng gần như suốt đời Thái Tuấn chỉ vẽ người phụ nữ mặc áo dài. Mới đây, ông tâm sự: "Tôi nhận ra chiếc áo dài Việt Nam đã tạo ra được những đường cong nét thẳng mà không có y phục nào có được." Hẳn họa sĩ muốn nhấn mạnh đặc tính đa dạng của kiểu áo ta vì ngay sau đấy ông bình phẩm như sau về trang phục Pháp: "Tôi vẫn gọi áo đầm là cái hộp. Chui vào đó dù đứng hay ngồi cũng không tạo được đường nét nào khác."(21)
Một kiểu trang phục mà ngay cả khi người mặc chỉ đứng, ngồi cũng tạo được đường nét độc đáo thay đổi, mà khiến sự xê dịch bình thường trở nên "linh động phơi phới", trở nên "thanh thoát"(22), khiến một cô gái nhan sắc trung bình có thể tự tin nũng nịu đòi "để em làm gió"(23) cho cánh chim may mắn anh, kiểu trang phục như thế e độc nhất vô nhị trên mặt địa cầu.
Cái mặc của ta cũng mềm mại, biến hóa, y hệt cái nói, cái thơ, cái vẽ-nặn-chạm-tạc, cái múa-kịch...
Nhạc: nuôi, nắn... âm thanh
Ai đó bảo mỗi "tiếng" đàn bầu là một "giọt". Giọt thì rưng rưng, thì... mềm.
Bầu là nhạc cụ độc đáo của ta, tất nhiên mang cái hồn riêng của nghệ thuật ta.
Còn tranh thì sao?
Trần Văn Khê cho biết đàn koto của Nhật và đàn tranh của ta đều phỏng theo mẫu Trung Quốc, nhưng phát triển theo hai hướng khác nhau. Thủ pháp koto chú trọng bàn tay phải, bàn tay sinh ra âm thanh; thủ pháp tranh đặc biệt phong phú và tinh vi nơi bàn tay trái, bàn tay "nuôi dưỡng và làm đẹp âm thanh". Khi đàn tranh, "tay mặt sanh ra cái xác, tay trái tạo ra cái hồn (...) về bàn tay trái, chúng tôi có rung, nhấn, mổ (...) có rung lơi, rung nhặt (...) nhấn nửa bậc, một bậc, một bậc rưỡi, hai bậc, hai bậc rưỡi, lại có nhấn vuốt, nhấn rung, nhấn mổ, nhấn khảy, nhấn mượn hơi (...) mổ đơn, mổ kép, mổ kềm dây."(24)
Âm thanh được "nuôi dưỡng", "làm đẹp" kỹ càng như vậy, trách nào nghe "mùi rệu"!
Tranh hẳn vốn không mềm, nhưng tranh về với Việt rồi tranh cũng hóa mềm.
Việt hóa, tức là làm mềm đi.
Từ đồ đồng đời Thương tới lời Khổng Tử
Ðã thấy cái tính nết con người nó lồ lộ trong đủ thứ nghệ phẩm.
Ðã biết nó thành hình lâu lắm rồi, ít ra là bốn nghìn năm trước.
Thời ấy, chắc nó không phải chỉ quanh quẩn ở vùng đất là nước ta bây giờ đâu, mà tung hoành khắp Hoa Nam. "Mềm như nước" hẳn là cái tính chung của toàn thể Bách Việt, chứ không của riêng gì Lạc với Âu.
Dường như nó đã làm được chuyện gì đó rất oanh liệt.
Lại thử ngắm chơi thứ "đồ đẹp".
Bàn về mỹ thuật Tàu, Thái Bá Vân ưa nhắc thứ "hình học phi lý, khúc mắc như thách đố (...) của đồ đồng Thương, Chu", "thái độ triết lý tuyệt đối và kỳ dị của người Tàu xưa" và "tính tuyệt đối của tinh thần Trung Hoa".
Nhưng Nguyễn Hiến Lê bảo: "về mỹ thuật (...) Trung Hoa có đặc điểm này: tiết chế, điều hòa".(25)
Lạ, mỹ thuật điều hòa lẽ nào lại xuất phát từ tinh thần tuyệt đối?!
Xem kỹ, "tuyệt đối" là người Tàu xưa, xưa hơn Khổng Tử hàng chục thế kỷ, còn "tiết chế, điều hòa", tức "trung dung", là người Tàu từ Khổng Tử trở đi. Mà trung dung là thày Khổng dạy vậy thôi, chứ xét những việc người Tàu làm, xét những thứ họ làm ra, thấy họ cũng chưa chịu bỏ hẳn cái nết "tuyệt đối" của tổ tiên Hoa Hạ xưa kia đâu.
Vì cớ gì mà văn hóa Tàu tới Khổng Tử thì bớt "cứng"?
Ôn lịch sử, thử đoán lý do.
Từ một vùng tương đối nhỏ ở Hoa Bắc (26), người Hoa liên tục mở mang bờ cõi về phía nam. Ðất phương nam không phải đất trống, mà là đất của một đại chủng có thứ văn hóa đặc biệt mềm mại. Tuy thua trận, mất quyền cai trị, đại chủng ấy đã "pha" được văn hóa mình vào văn hóa của kẻ thắng trận, khiến ở Hoa Nam dần dần xuất hiện một thứ văn hóa lai nửa Bách Việt nửa Hoa, nửa mềm nửa cứng. Sau đó, tuy chính người Bách Việt không di cư lên phía bắc, nhưng người Hoa xuống nam hẳn có một số trở về, thêm giống lai ở Hoa Nam hẳn cũng có một số bắc thiên, thông qua họ, văn hóa Hoa ở đất gốc Hoa Bắc dần thay đổi, để đến khi Khổng Tử ra đời thì đã trở nên không còn cực đoan như trước...
Chuyện quá cũ tích quá xưa, làm sao biết chắc. Tuy vậy, cứ ngắm nghía những món đồ đồng rất kỳ dị đời Thương rồi lắng nghe những lời ôn tồn của thày Khổng, rất dễ dàng mường tượng có ai đó đã bằng cách nào đó ảnh hưởng đáng kể đến tính nết của tổ tiên thày. Hỏi còn ai nữa!
Nước chảy, đá... mềm
Việt mềm như nước, Hoa cứng như đá.
Gặp nhau thì nước ngoan ngoãn vào khuôn của đá hay chảy quanh đá.
Nhưng "nước" này không phải nước thường.
Chứa nó lâu lâu, hay tiếp xúc với nó lâu lâu, trông lại thì đá đã... mềm!
5 – 2003
(Trong Tìm tòi và suy nghĩ, nxb. Của Tin, Mỹ, 2005)
__________________________
(1) Truyện Kiều, câu 29: "Thông minh vốn sẵn tính trời".
(2) Ðào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, nxb. TPHCM, Việt Nam, 1992, tr. 24.
(3) Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Ðông - gợi những điểm nhìn tham chiếu, nxb. Văn Học, Việt Nam, 1995, tr. 363 - 364.
(4) Phỏng theo câu "Văn là người".
(5) Tản Ðà, Thơ Ðường, Nguyễn Quảng Tuân biên soạn, nxb. Trẻ, Việt Nam, 1989, tr. 42.
(6) Trần Trọng Kim, Ðường thi in lần hai, Ðại Nam, Mỹ, tr. 380.
(7) Hải Ðà sưu tập, Saigon Times, Úc, số Xuân Quý Mùi, 2003.
(8) Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, in lần ba, nxb. TPHCM, Việt Nam, 2001, tr. 295.
(9) TÐ, sđd., tr. 43.
(10) Nguyễn Hưng Quốc, Nghĩ về thơ, nxb. Văn Nghệ, Mỹ, 1989, trang 165-168.
(11) Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập I, nxb. Văn Học, Việt Nam, 1987, tr. 147.
(12) Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Sài Gòn, 1971, sđd., tr. 121.
(13) Thái Bá Vân, Tiếp xúc với nghệ thuật, Viện Mỹ thuật Việt Nam, Việt Nam, 1997, tr. 22, 295, 297.
(14) Chu Quang Trứ, Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, nxb. Mỹ Thuật, Việt Nam, 2002, tr. 272.
(15) Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Ðại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Việt Nam, 1983, tr. 64-65.
(16) PHL, TQV, HVT, LN, sđd., tr. 63.
(17) BNL, sđd., tr. 366.
(18) Vũ Khắc Khoan, Tìm hiểu sân khấu chèo, nxb. Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1974, tr. 127.
(19) TNT, sđd., tr. 310.
(20) Võ Phiến thuật lại trong Tùy bút I, nxb. Văn Nghệ, Mỹ, 1986, tr. 23-24.
(21) Thái Tuấn, “Thư và tranh mới”, nhật báo Người Việt, Mỹ, số ra ngày 11 tháng 5 - 2003.
(22) Chữ của VP trong Tùy bút I, Văn Nghệ, Mỹ, 1986, tr. 23-24.
(23) Tên một tập thơ của Trần Mộng Tú, nxb. Thế Kỷ, Mỹ, 1996.
(24) Trần Văn Khê, Tiểu phẩm, nxb. Trẻ, VN, 1997, tr. 172-174.
(25) Nguyễn Hiến Lê, Lịch sử thế giới, Văn Nghệ, Mỹ, 1994, tr. 171.
(26) Vào đời Thương, nước Tàu đại khái chỉ là đất ở nam tỉnh Hà Bắc, bắc tỉnh Hà Nam, đông tỉnh Sơn Tây, tây tỉnh Sơn Ðông, tổng cộng bằng khoảng hai tỉnh ngày nay. (Xem Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc, nxb. Văn Nghệ, Mỹ, tr. 60.)
Chuyên mục
TỰ TÌNH DÂN TỘC