Về
vấn đề láy từ trong tiếng Việt
Nguyễn Phú
Phong
I .
Mở đầu
Ví dụ ta lấy từ héo.
Muốn làm giảm nghĩa của héo, ta có hai
cách :
- hoặc dùng cú pháp từ hơi, ta có hơi héo
- hoặc dùng từ pháp bằng cách lặp lại từ héo nhưng lại thay đổi thanh điệu, ta sẽ có heo héo.
- hoặc dùng cú pháp từ hơi, ta có hơi héo
- hoặc dùng từ pháp bằng cách lặp lại từ héo nhưng lại thay đổi thanh điệu, ta sẽ có heo héo.
Phương pháp thứ hai gọi là láy rất thông dụng trong tiếng Việt. Rất nhiều tác giả,
Việt Nam cũng như ngoại quốc, khi nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đều có đề cập
đến vấn đề láy từ. Nhưng các tác giả này, người thì không phân biệt những từ láy
sống với những từ láy chết, người thì sau khi đã phân biệt hai diện sống/chết
của sự láy vẫn xếp những từ thuộc loại sống vào các từ thuộc loại láy
chết.
Thế nào là láy sống và láy chết
?
Láy sống là một sự láy sinh động mà mỗi
người Việt hoặc thông hiểu tiếng Việt có thể từ một từ gốc tạo thành một từ láy
theo qui luật hoặc đã thâu nhận được qua kinh nghiệm hoặc đã được minh định rõ
ràng sau một cuộc tìm tòi nghiên cứu. Ví dụ từ heo héo
ở trên đã được tạo ra do một sự láy sống mà sau đây chúng tôi sẽ nêu
rõ những đặc điểm của nó.
Trái lại sự láy chết là một hiện tượng đã
hết khả năng sản xuất. Những từ láy chết đến với ta như một hiện tượng đã hình
thành, ta không biết hoặc chưa biết vì đâu mà chúng có. Những từ láy chết không
thể là những mô hình từ đó chúng ta có thể tạo ra những từ mới trong hiện tại.
Từ nhỏ nhẻ ( từ gốc : nhỏ ) là một ví dụ.
Trong bài này chúng tôi chỉ xét đến hai
loại láy sống : láy giảm như đã nói ở trên và láy tăng mà sau đây là một ví dụ :
héo > héo hẹo ( rất héo ). Hơn nữa chúng tôi chỉ đề cập đến hai loại láy này
trên một từ loại chính : động từ trạng thái ( hoặc là hình dung từ theo một số
đông tác giả ).
II.
Sự khác biệt giữa láy tăng và láy giảm
Về nhiệm vụ ngữ nghĩa (fonction
sémantique), sự khác biệt giữa hai loại láy trên đã quá rõ. Nhưng sự khác biệt
này đi đôi với những sự khác biệt về hình thức (différences formelles) nào, đó
là câu hỏi cần được giải đáp.
Trong luận án trình tại Đại học Paris VII
tháng 3, 1973, và được xuất bản thành sách (Nguyễn phú Phong, 1976, tr. 47-51),
chúng tôi đã nêu ra ba điểm khác biệt như sau :
1. Về hướng láy
(lấy từ gốc làm chuẩn)
Láy giảm luôn luôn được thực hiện từ mặt
qua trái. Như vậy thứ tự của các thành tố sẽ là : từ đệm-từ gốc : héo > heo
héo.
Hướng láy tăng có thể là :
- từ mặt qua trái ; thứ tự các thành tố là : từ đệm-từ gốc. Ví dụ : con > cỏn con.
- từ trái qua mặt; thứ tự các thành tố là : từ gốc-từ đệm. Ví dụ : héo > héo héo.
- từ mặt qua trái ; thứ tự các thành tố là : từ đệm-từ gốc. Ví dụ : con > cỏn con.
- từ trái qua mặt; thứ tự các thành tố là : từ gốc-từ đệm. Ví dụ : héo > héo héo.
2. Về số lần
láy
Nếu n là số lần láy, thì
- với láy giảm, n = 1
héo > heo héo
héo > heo héo
- với láy tăng, n >= 1
héo > héo hẹo ( n = 1 )
héo > héo hèo heo ( n = 2 )
héo > héo hẻo hèo heo ( n = 3 )
héo > héo hẹo ( n = 1 )
héo > héo hèo heo ( n = 2 )
héo > héo hẻo hèo heo ( n = 3 )
Lẽ dĩ nhiên, n có giới hạn trên là n =<
5 , vì trong tiếng Việt, phương ngữ giàu thanh điệu nhất cũng chỉ có 6 thanh
(ton), và trong khi láy ta không kể thanh của từ gốc.
Tóm lại :
n = 1 : láy giảm và láy tăng
2 =< n =< 5 : láy tăng
Láy nhiều lần chỉ có thể làm tăng nghĩa mà thôi.
n = 1 : láy giảm và láy tăng
2 =< n =< 5 : láy tăng
Láy nhiều lần chỉ có thể làm tăng nghĩa mà thôi.
Chú ý : Vì láy tăng là một hiện tượng hai
hướng và có thể làm nhiều lần nên các thành tố trong một từ láy tăng có thể theo
thứ tự : từ đệm ... từ gốc ... từ đệm ...
Ví dụ : sạch > sách sạch sành sanh.
Ví dụ : sạch > sách sạch sành sanh.
3. Về cách xếp đặt
thanh điệu
6 thanh điệu trong tiếng Việt được xếp đặt
theo bảng sau đây :

Căn cứ theo bảng này, ta nhận thấy dầu từ
gốc có thanh điệu nào đi nữa, thanh điệu của một từ đệm trong một từ láy giảm
vẫn chỉ là thanh bằng cùng âm tầng với thanh điệu từ gốc.
Ví dụ :

Tóm lại, trong sự láy giảm thì 2 thanh
bằng là 2 điểm hội tụ ( point focal ) của các thanh điệu cùng âm tầng. Trong sự
láy này 6 thanh điệu được chia theo chiều ngang thành 2 nhóm cao thấp và theo
chiều dọc thành 2 nhóm bằng trắc, còn yếu tố ngắn dài không có ảnh hưởng gì
cả.
Cũng có trường hợp ngoại lệ như khẽ >
khe khẽ ( thay vì khè khẽ ).
Một nhận xét nữa là nếu ta lấy từ gốc làm
chuẩn thì trong sự láy giảm, hướng láy và hướng xê dịch của thanh điệu ( căn cứ
theo bảng xếp đặt ở trên ) là một, nghĩa là từ mặt qua trái.
Trái lại hướng xê dịch của thanh điệu
trong sự láy tăng không đồng nhất :
- khi thì từ trái qua mặt : héo
> héo hẻo
- khi thì từ mặt qua trái : héo > héo heo
- khi thì thay đổi âm tầng : héo > héo hẹo
hoài > hoải hoài
- khi thì từ mặt qua trái : héo > héo heo
- khi thì thay đổi âm tầng : héo > héo hẹo
hoài > hoải hoài
- cũng có thể vừa thay đổi âm tầng vừa xê
dịch trong một âm tầng : héo > héo hẹo hèo heo
Có lẽ chính vì sự không đồng nhất về hướng
láy và hướng xê dịch của thanh điệu trong sự láy tăng nên L. Thompson đã không
xếp loại láy tăng vào loại láy có khả năng sản xuất ( L. Thompson, 1965, tr.
155-178). Dù sao đi nữa thì ai cũng phải công nhận rằng láy tăng là một loại láy
sống có qui luật.
Nhưng chính vì láy tăng có rất nhiều khả
năng kết hợp giữa các thành tố trong một từ láy nên gây ra ấn tượng là không có
quy luật, không thể định rõ những đặc điểm của nó.
Với chỉ một từ gốc, số lượng từ láy tăng
tương ứng rất nhiều, không tiện nêu rõ tất cả các mô hình của những từ láy này.
Tuy vậy nếu ta không thể kể rõ tất cả các trường hợp cá thể của sự láy tăng,
bằng phương pháp loại trừ chúng ta cũng có thể nắm được qui luật của loại láy
tăng. Đó là việc mà chúng tôi sẽ làm ở phần sau đây.
III -
Khả năng trên mặt lý thuyết của tiếng Việt trong sự
láy
Năm 1973, những kết luận về vấn đề láy từ
của chúng tôi được rút ra từ sự quan sát thực tế của tiếng Việt qua kinh nghiệm
và sự hiểu biết của chính bản thân chúng tôi là người Việt nói tiếng Việt, qua
sự tham khảo với một số bạn đồng hướng và nhất là qua các tài liệu viết. Nhìn
lại vấn đề chúng tôi thấy mình tuy đã có dựa vào "lời ăn tiếng nói" trong dân
gian nhưng cũng đã để cho tài liệu viết giới hạn quá nhiều. Chúng ta thường tin
vào những gì đã được ghi chép trong sách vở. Nói có sách, mách có chứng mà !
Những gì không được viết với mực đen trên giấy trắng thường gieo rắc sự hồ nghi
trong óc phán đoán của người ta. Nhưng khả năng của ngôn ngữ ít khi được khai
thác đến mức cuối và những gì trong sách vở chỉ là một phần của khả năng ấy mà
thôi. Bởi vậy, chúng tôi thấy người làm công tác nghiên cứu nếu trước hết phải
dựa vào những sự kiện, tài liệu đã được ghi chép để bắt đầu công cuộc nghiên
cứu, khảo sát thì sau đấy không để bị giới hạn vì những cái ấy. Vì vậy, chúng
tôi xin đưa ra những suy nghĩ và nhận xét sau đây.
Như chúng ta ai nấy đều biết, trong tiếng
Việt, một từ (mot) thường chỉ có một âm tiết (syllabe). Một âm tiết có hai phần
: phần siêu âm đoạn tính (supra segmental) và phần âm đoạn tính (segmental).
Phần siêu âm đoạn tính tức là thanh điệu. Vậy bây giờ ta lấy một âm tiết trong
tiếng Việt gồm có phần siêu âm đoạn tính là y và phần âm đoạn tính là X. Âm tiết
ấy sẽ được ghi là
.
Nếu X có những âm cuối vần là những phụ âm
tắc p, t, c, ch thì y chỉ có hai khả năng, hoặc thanh /sắc/
thoặc thanh / nặng/
Nếu những âm cuối vần của X không phải là
những phụ âm tắc thì y chỉ có 6 khả năng theo phương ngữ miền Bắc nước
ta.
Láy giảm và láy tăng đều là một loại láy
chỉ thay đổi thanh điệu mà thôi. Vậy với một từ gốc không có âm cuối vần là p,
t, c, ch, chúng ta có thể láy 5 lần và từ láy sẽ có nhiều nhất là 6 thành tố:
một từ gốc và 5 từ đệm; các thành tố chỉ khác nhau về thanh điệu mà
thôi.
Chúng ta cho rằng hai từ láy là khác nhau
nếu chúng có số thành tố bằng nhau và những thành tố của chúng giống hệt nhau
nhưng cách sắp đặt giữa các thành tố trong từ này khác với cách xếp đặt trong từ
kia. Ví dụ : từ gốc héo; từ láy : héo hẻo hẽo hẹo hèo heo <> héo hẻo hẹo hẽo hèo
heo. Nói một cách tổng quát hơn, nếu ta có n yếu tố, trong đó có k
yếu tố (0 =< k =< n-1 ) không sử dụng thì công thức sau đây sẽ cho chúng
ta tổng số A cách xếp đặt của n - k yếu tố còn lại. Hai cách xếp đặt khác nhau
của n - k yếu tố tương đương với 2 từ láy khác nhau.
A = ( n - k ) [ ( k + 1 ) ( k + 2 ) ( k + 3 ) ... ( n - 2 ) ( n - 1 ) ]
Với
một từ gốc không có âm cuối là p, t, c, ch thì n : 6
- nếu láy 5 thì k = 0 ( tất cả 6 thanh điệu đều được sử dụng )
A = 6. 1.2.3.4.5 = 720 từ láy
- nếu láy 4 lần thì k = 1
A = 5. 2.3.4.5 = 600 từ láy
- nếu láy 3 lần thì k = 2
A = 4. 3.4.5 = 240 từ láy
- nếu láy 2 lần thì k = 3
A = 3. 4.5 = 60 từ láy
- nếu láy 1 lần thì k = 4
A = 2. 5 = 10 từ láy
Vậy trên lý thuyết, với một từ gốc, chúng ta sẽ có
tối đa là 1630 từ láy với điều kiện là từ gốc không có âm cuối vần là những phụ
âm tắc p, t, c, ch, hoặc nếu có thì những phụ âm tắc này phải chuyển qua những
phụ âm mũi (consonnes nasales) tương ứng khi gặp những thanh / 0 / , / huyền / , / hỏi / , / ngã /
p - m hẹp > hèm hẹp
t - n sát > san sát, sát sàn sạt
c - ng rực > rừng rực
ch - nh sạch > sành sạch, sách sạch sành sanh
Trong 1630 từ láy này, ta trừ ra một từ láy thuộc
loại láy giảm, số còn lại 1629 từ thuộc loại láy tăng.
Vì chúng ta biết đặc điểm chung của hai
loại láy giảm và tăng - chúng đều là loại láy thay đổi thanh điệu - , vì chúng
ta biết các đặc điểm riêng của loại láy giảm ( như đã nêu ở mục II ), bằng
phương pháp loại trừ chúng ta có thể kết luận về đặc điểm của loại láy tăng như
sau : bất kỳ từ láy nào thoát thai từ một phép láy chỉ thay đổi thanh điệu mà
thôi, mà không có đặc điểm của một từ láy giảm, thì chỉ có thể là một từ láy
tăng.
IV.
Những mô hình của sự láy tăng và mức độ chấp nhận của những mô hình
ấy.
Với một từ gốc, chúng ta có 1629 từ láy
tức là 1629 mô hình. Vì láy tăng chỉ là một loại láy thay đổi thanh điệu thì
1629 mô hình trên chung qui chỉ là 1629 cách xếp đặt khác nhau của vừa là tổng
số 6 thanh điệu kia, với điều kiện dĩ nhiên là trong từng phần này phải luôn
luôn có một thanh điệu của từ gốc.
Trong 1629 mô hình này, có bao nhiêu mô
hình được chấp nhận ? và những mô hình nào ? Chúng ta lại phải bàn tới tiêu
chuẩn chấp nhận. Chúng ta có những mô hình chắc chắn được chấp nhận vì đã được
xác nhận, trong lời nói của dân gian, trong các bài viết, và những mô hình khác
mà khả năng được chấp nhận thuộc nhiều yếu tố khác nhau, chúng tôi sẽ lần lượt
nói đến.
1. Các mô hình đã
được xác nhận trong văn viết và lời nói dân gian
Những từ láy trong các mô hình không quá 4
thành tố :

2. Những mô hình
khác
Có những mô hình, chúng tôi chưa từng gặp
bao giờ, trong khi đọc cũng như trong khi nghe và nói, nhưng không vì thế mà có
thể tiên quyết cho chúng là không chấp nhận được.
Ví dụ như từ láy 6 thành tố dưới đây :
Ví dụ như từ láy 6 thành tố dưới đây :
héo > héo hẻo hẽo hẹo hèo heo
Tôi đã đem từ láy này điều tra và ai cũng cho rằng
mình chưa từng gặp một từ láy như vậy nhưng ai cũng nghĩ rằng từ này không có lý
do gì không thể chấp nhận được.
Chúng tôi nghĩ rằng ngôn ngữ là một phương
tiện giao tiếp thường được dùng đến một cách phải chăng, không thừa thãi. Vậy
trong câu chuyện bình thường, một từ láy 4 thành tố cũng đủ rồi, chẳng cần đến 6
thành tố nhưng nếu vì một lý do nào đó người nói chuyện muốn thêu dệt thêm lời
nói của mình thì láy 5 lần là một khả năng chấp nhận được.
Một yếu tố khác có liên quan đến phương
ngữ : Đối với người Việt từ Huế trở vào, thanh / hỏi
/ và / ngã / không được phân biệt, vậy một từ
láy 5 thành tố là tối đa.
Có thể sự hài thanh là một điểm quan trọng
trong việc chấp nhận một từ láy. Ví dụ với từ gốc con , các từ láy sau đây đã làm nhiều người phân vân,
ngập ngừng, không dứt khoát :

Các người được hỏi, ngay lúc ban đầu, đều
nói rằng sự kết hợp thanh điệu trong các từ trên nghe không thuận tai và vì thế
các từ này khó chấp nhận được, nhưng sau khi lẩm nhẩm một hồi lại tỏ vẻ không
nhất quyết. Muốn hiểu rõ vấn đề, chúng ta cần phải xúc tiến một cuộc nghiên cứu
kỹ càng hơn bằng phương pháp thống kê và điều tra. Nhưng ở trong bất kỳ ngôn ngữ
nào cũng thế, thường thường có sự so le giữa khả năng (compétencd) và sự vận
dụng (performance) và tùy theo mục tiêu của chúng ta, khảo sát ngữ pháp về khả
năng hoặc về vận dụng mà đặt vấn đề. Tiện đây, chúng tôi cũng xin nêu ra một sự
kiện có liên quan đến đề tài này. Hồi nhỏ, lúc chúng tôi khoảng 3 tuổi, mỗi lần
vú chúng tôi muốn dỗ chúng tôi nín khóc thường bảo :
"Ngày mai, ngày mốt, ngày kia, ngày kía,
ngày kỉa, ngày kịa, ngày kìa, vú sẽ mua cho con một con ngựa ".
Vú tôi là một người đàn bà miền Trung,
không biết đọc, không biết viết nhưng đã vận dụng được một cách phong phú khả
năng về thanh điệu của tiếng Việt để làm tăng dần khoảng cách giữa thời điểm này
với thời điểm khác và đã thành công trong việc truyền bá ý nghĩ của mình tới một
đứa bé mới 3 tuổi.
Bây giờ tôi thử tìm trong các từ điển,
nhiều nhất tôi chỉ thấy được 3 từ mà thôi : kia, kìa, kỉa (2). Như vậy đã có sự
so le giữa ngôn ngữ viết và nói, và trong ngôn ngữ nói thì như ta đã thấy, mức
độ chấp nhận của sự vận dụng còn tùy thuộc nhiều yếu tố khác, những yếu tố này
đôi khi lại nằm ở ngoài ngôn ngữ (ví dụ như yếu tố trí nhớ : nói một câu dài
quá, có nhiều câu lồng (phrase enchâssée) quá khó được chấp nhận vì không ai có
thể nhớ hết từ đầu đến cuối của câu này để hiểu chẳng hạn, mặc dầu câu nói vẫn
đúng ngữ pháp hoàn toàn).
V.
Kết Luận
Những nhận xét sơ khởi trình bày ở trên có
mục đích gợi ý và gây ra những suy nghĩ về sự vận dụng cũng như khả năng của
tiếng Việt, đồng thời cũng nêu ra những câu hỏi băn khoăn của người làm công tác
nghiên cứu, đối với chính đối tượng của mình và với chính mình.
Tuy thế, những kết quả của sự nghiên cứu
về láy tăng và láy giảm vẫn có cơ áp dụng, vào việc làm từ điển chẳng hạn. Trong
các từ điển hiện nay, sau một từ đơn âm thuộc loại động từ chỉ trạng thái, khi
thì có ghi từ láy giảm tương ứng, khi thì không. Từ láy tăng tương ứng rất hiếm
khi được ghi và giải nghĩa. Như vậy chúng ta có thể đi đến kết luận rằng những
từ láy không được ghi là những từ không thể có được trong tiếng Việt và như thế
là lầm. Các nhà làm từ điển có thể nghĩ rằng vì lý do tiết kiệm, chỉ cần ghi
những từ láy thường gặp thấy mà thôi, còn những từ láy khác cùng loại khi gặp
trong sách vở, độc giả cũng hiểu được bằng cách suy diễn. Lập luận như thế, nếu
có, thì thật chủ quan và nếu là chủ quan thì không khoa học. Chúng tôi đề nghị
giải pháp sau :
- nếu muốn tiết kiệm hoàn toàn : khỏi cần
phải ghi các từ láy giảm và tăng nữa nhưng ở phần ngữ pháp của cuốn từ điển (vì
từ điển nào cũng cần có phần ngữ pháp) phải có giải thích rõ ràng các đặc điểm
của hai sự láy tăng và giảm với những ví dụ cụ thể.
- vừa muốn tiết kiệm vừa muốn thực dụng :
cứ tiếp tục ghi những từ láy tăng và giảm thường dùng nhưng phải có phần giải
thích chung về đặc điểm của hai loại láy này.
Ngoài ra, trong bài này, chúng tôi chỉ đặt
vấn đề láy tăng và giảm qua sự láy có thay đổi thanh điệu. Hai loại láy này cũng
có thể thực hiện qua loại láy toàn diện (redoublement complet) (3) nhưng vì
khuôn khổ bài này, chúng tôi không tiện đề cập đến.
Sự láy tăng và giảm ở đây cũng chỉ được
bàn đến trên diện đồng đại (aspect synchronique). Chúng tôi sẽ có dịp trở lại
trên diên lịch đại (aspect diachronique).
Chú
thích
(1) Thanh bằng cao ở đây có khi được ghi
bằng dấu 0 cho dễ nhận ra.
(2) Từ kỉa chỉ được tìm thấy trong quyển
Việt Nam Tự Điển của Lê văn Đức và Lê ngọc Trụ - Nhà x.b. Khai Trí, Sài-Gòn,
1970.
(3) Chi tiết đầy đủ về sự láy toàn diện đã
được trình bày trong sách đã dẫn của Nguyễn Phú Phong, tr. 53-54.
Tài
liệu tham khảo
Maspero, H. "Etude sur
la phonétique historique de la langue anamite", Bulletin de l'Ecole
Française d'Extrême-Orient, 12, 1-123, 1912
Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ
pháp tiếng Việt, Hà nội, Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp,
1975
Nguyễn Phú Phong, Le
syntagme verbal en Vietnamien (Đoãn ngữ động từ tiếng Việt), Paris, La
Haye, Mouton, 1976
Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Hà nội, Nhà xuất bản
khoa học, tập I, 1963
Thompson, L.C., A
Vietnamese grammar, Seattle, The University of Washington Press,
1965.
