Home » » LÝ THÁI TỔ ( 1010 - 1028 )

LÝ THÁI TỔ ( 1010 - 1028 )

Written By kinhtehoc on Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011 | 00:46

QUYỂN 4

LÝ THÁI TỔ ( 1010 - 1028 )
Lý Công Uẩn vốn dân Cổ Pháp
Sinh ra đời đúng bậc minh vương

Lên ngôi hoàng đế Việt Thường

Là n gười khoan thứ tinh tường việc dân


Cha không có, mẹ người họ Phạm

Chùa Tiêu Sơn giao hợp thần nhân

Sinh vua tuấn tú bội phần (974)

Năm lên ba tuổi cho làm con nuôi


Khánh Văn nhận nuôi đứa bé

Trẻ thông minh đủ vẻ lương tường

Sư chùa Lục Tố rất thương

Nói rằng : Không phải người thường thế đâu


Mãi về sau lời sư Vạn Hạnh

Đã trở thành định mệnh quốc gia

Nhiều năm ròng rã trôi qua

Tiên tri lúc trước quả là đúng ngay


Sau hai ngày vua Lê Long Đĩnh

Chết chưa chôn thì chuyện xãy ra

Trong triều nỗi cuộc phong ba

Nguyễn Đê , Cam Mộc đứng ra nói rằng :


"... Bọn ta không nhân lúc này cùng nhau

sách lập Thân vệ ( Lý Công Uẩn ) làm thiên tử ,

lở bối rối có xãy ra tai biến gì ,

liệu chúng ta có còn giữ đựơc cái đầu hay không ? "


Cuộc chính biến tôn vương chớp nhoáng

Kế hoặch xong chỉ đúng hai ngày

Cho dù ai muốn trở tay

Cũng không xoay được đổi thay cuộc cờ


Lý Công Uẩn , cơ đồ có sẳn

Kẻ khôn ngoan dưới trướng khá nhiều

Thiền sư Vạn Hạnh phò theo

Thái sư Khuôn Việt đem điều nghĩa nhân


Gốc là dân mối giềng trị nước

Việc khởi đầu làm trước lên ngôi

Bỏ giềng lưới, bỏ giam người

Đại xá thiên hạ đổi đời từ đây


Vua xuống chiếu từ rày có việc

Không thuận lòng giải quyết với nhau

Được quyền diện kiến trình tâu

Vua thân phán quyết ngỏ hầu minh oan


Lại hạ lệnh : người đang trốn tránh

Cho phép về lại cảnh quê hương

Áo cơm giúp kẻ cùng đường

Tha người Nam Chiếu cấp lương đưa về


Vua lại phê, ba năm tha thuế

Sửa đình chùa đổ nát hư hao

Công, hầu, khanh tướng ban trao

Chọn người xứng đáng để giao trọng quyền


Viết chiếu truyền, dời đô đến chỗ (1010)

Thành Đại La đất cổ Cao Vương

Vùng này đất phẳng mười phương

Long chầu, hổ phục dị thường địa linh


Nhìn địa hình, đông, tây, nam, bắc

Thế đất này nét sắc mà oai

Vì dân lập kế lâu dài

Tính theo vận nước nhân tài hội đây


Lạ lùng thay, thuyền vua vừa đến

Có rồng vàng xuất hiện trên sông

Đổi tên thành gọi Thăng Long

Mùa thu tháng bảy khởi công dựng nền (1010)


Điện Càn Nguyên nơi coi triều chính

Điện Tập Hiền hướng định chánh Nam

Nằm sau là Điện Long An

Phía đông Giảng Võ Thư Tàng kế bên


Bốn cửa thành : Tương Phù, Quản Phúc

Cửa phía Bắc Diệu Đức mở ra

Đại Hùng theo hướng Tây qua

Tường cao hào chắn phía xa ngoại thành


Cửa Đan Phượng thông liền Uy Viễn

Bậc thềm rồng trước Điện Cao Minh

Thăng Long quang cảnh hữu tình

Nghênh Xuân cung cấm, ngoại thành chùa Nghiêm


Đổi niên hiệu Thuận thiên để tính (1010)

Chức đặt ra phân định rõ ràng

Sắc phong cho sáu bà hoàng

Các con đều được tước vương , tước hầu


Lấy kinh tế làm đầu trị quốc (1013)

Định lệ ra luật nước rõ ràng

Sáu tên sưu thuế đàng hoàng

Năm lần giảm thuế nước càng phồn vinh (1017)


Nơi Phiên trấn (1020), tình hình không ổn

Giặc xâm lăng khốn đốn dân binh

Cất quân chinh phạt tự mình

Đánh cho mấy trận tan tành Cử Long


Vua một lòng tôn sùng đạo Phật

Xuống chiếu truyền khuyên tập chép kinh

Để lầu bát giác tôn vinh (1021)

Đúc chuông, xây tháp, linh đình làm chay


Với Bắc triều vua sai thông hiếu

Nhà Tống phong Giao Chỉ quận vương

Năm lăm tuổi thọ hưởng dương (1028)

Hiệu là Thái Tổ, Thọ Lăng táng ngài


Lý Công Uẩn , nhân thời mỡ vận

Vốn là người khí tượng đế vương

Song ưa nghe việc dị thường

Nên chi bị lụy đoạn trường mà thôi



LÝ THÁI TÔNG ( 1028 -1054 )
Lý Phật Mã vâng lời di chiếu
Đến cấm thành mới hiểu ra rằng
Ba em mai phục thân quân
Giết mình để đoạt ngai vàng về tay
Xác vua cha còn đây chưa liệm
Sao ba em toan chiếm ngai vàng
Đông Chinh, Thánh Dực, Võ Vương
Rõ là cốt nhục tương tàn buồn thay
Cuộc chính biến, ba tay vương tử
Khiến triều đình phải xử cho nghiêm
Có quan Phụng Hiểu điện tiền
Rút gươm thẳng đến chém liền Võ Vương
Lý Phật Mã trong cơn bối rối
Lên ngôi vua hiệu đổi Thiên Thành
Tôn cha, Thái Tổ thần danh
Quốc tang bố cáo trong thành, ngoài biên
Vua tha cho bọn em dấy loạn
Lấy tình người đổi oán bằng ân
Đem tiền, gạo phát cho dân
Gọi là bố thí ngay lần lên ngôi
Vua lại sai đặt ra thứ bậc
Để trao quyền cho thật phân minh
Lựa người tài giỏi nghề binh
Phong làm Thượng Tướng giữ gìn quốc gia
Vua lập ra bảy bà hoàng hậu
Là một điều nhiên hậu không ai
Sách phong thái tử truyền ngai
Nhật Tôn hoàng tử được ngài ban cho
Là một người nhân từ sáng suốt
Lại hiểu thông thao lược kinh luân
Sáu nghề lễ nhạc luật âm
Ngự văn, thư số cũng trang anh tài
Suốt một đời trên ngai hoàng đế
Bước trường chinh tế thế đông, tây
Ở ngôi hăm bảy năm đầy
Tám lần chinh phạt dạn dày phong sương
Đánh Trệ Nguyên chặn đường Tồn Phúc (1033)
Phạt Chiêm Thành qui phục nhân tâm (1039)
Dải dầu chín tháng hành quân
Chém đầu Sạ Đẩu, giết gần vạn binh (1044)
Vua xuống chiếu soạn thành bộ Luật
Ghi rõ ràng cho thật phân minh
Chia ra môn loại rành rành
Đâu là dân luật, luật hình, luật quân
Bộ Hình Thư được dân mong muốn (1042)
Bởi vì là thích ứng mọi nơi
Luật nghiêm lại hợp tình người
Công bằng đúng lẽ thuận trời, an dân
Tội gian dâm, tội đồ, hối lộ
Soạn thành văn lý số rõ ràng
Những ai làm việc lâu năm
Mà không có lỗi được thăng chức liền
Vua lại sai đóng thuyền cỡ lớn
Hạ thủy đầu chiến hạm Vạn An (1034)
Vinh Xuân, rồi chiếc Nhật Quang (1037)
Thủy quân cũng đóng vài trăm tiểu thuyền (1043)
Vua hạ lệnh đào kênh Đãn Nãi (1029)
Rồi lại sai vét đãi Lẫm Kênh (1050)
Đặt mốc, cắm biển đề tên
Chỉ đường, hướng lối kế bên vệ đường
Trạm Hoài Viễn để giường khách nghỉ
Xây trên bờ bên mé Gia Lâm (1035)
Tây Nhai mở chợ cho dân
Trên sông Tộ Lịch bắt ngang chiếc cầu
Lệ từ lâu, năm nào cũng thế
Vua thân hành tế lễ Thần Nông
Tịch điền ruộng đã cày xong
Nêu gương thiên hạ dốc lòng làm ăn
Vua lại dạy cung nhân dệt gấm (1040)
Phát trống kho gấm Tống làm quà
Từ đây sử dụng lụa nhà
Trong dân sản xuất ; của ta, ta dùng
Dạy Hoàn Vương chấp cung xét hỏi
Việc kiện thưa xử tội rồi tâu
Lại cho Thái tử coi chầu
Để nghe chính sự ngõ hầu ngày sau (1054)
Thuật dạy con bắt đầu như thế
Cho muôn đời lấy để làm gương
Tính vua đôi lúc bất thường
Thích nghe sấm ký khoa trương việc mình
Trong Cấm Thành buồn tình giải trí
Lập đoàn ca nhạc kỷ trăm người
Vào rừng Kha Lãm tìm voi
Dựng chùa Diên Hựu, xây đài chứa Kinh (1049)
Khắp đất nước thanh bình an lạc
Vua là người trầm mặc tinh thông
Tháng mười Giáp Ngọ, tiết đông (1054)
Trường Xuân vua mất đau lòng con dân
Là một người bội phần cơ trí
Việc quốc gia chăm chỉ sớm hôm
Tiếc rằng hay nói khoe khoang
Là người khai sáng mối nguồn về sau


LÝ THÁNH TÔNG (1054 - 1072)
ĐẠI VIỆT
Được ngôi cao : Thái Tông Hoàng Đế
Là Đông Cung thừa kế Nhật Tôn
Một người tâm tính ôn tồn
Thương dân, trọng việc lại còn lo xa
Đổi quốc hiệu thành ra Đại Việt (1054)
Lập lịch triều, kỷ yếu định danh
Gọi tên : Long Thụy Thái Bình
Sửa sang chính sự, dân tình an sinh
Lập Văn Miếu , nặn hình Tứ Phối
Những người hiền : Khổng Tử, Chu Công
Bẩy hai trò giỏi thờ chung
Là đất văn vật, tấn phong nhân tài
Ngoài cấm thành xây đài cao nhất
Đặt tên là Bảo tháp Báo Thiên (1054)
Mươi hai tầng đứng dính liền
Vươn cao chục trượng oai nghiêm vô cùng
Gặp tiết đông lúc trời lạnh giá
Thương người tù thiếu cả chiếu chăn
Gian, ngay chưa biết tỏ tường
Truyền cho ngục lại phát chăn để nằm (1055)
Xót dân tình phải chăng không biết (1064)
Nên nhiều khi làm việc lỡ lầm
Xử người như với người thân
Lấy điều khoan giảm gia ân cho người
Dân thiếu ăn, đức trời thừa thiếu (1075)
Tha thuế tô, một kiểu khuyến nông
Vua, Quan, Dân, lính một lòng
Giữ yên bờ cõi chẳng mòng riêng tây
Năm Kỷ Hợi lựa ngày Bắc phạt (1059)
Đánh Khâm Châu cả nước kinh hoàng
Biểu dương lực lượng vài hôm
Rồi cho triệt thoái truyền gom quân về
Đánh nước Tàu thị uy cho biết
Cũng bởi vì vua ghét Tống vương
Phản phúc dối trá dị thường
Nuốt lời binh viện đánh Nùng Trí Cao
Đánh Chiêm Thành răn vua Phiên trấn
Chúa Chămpa thất trận đầu hàng
Thế cùng Chế Củ xin dâng
Ba châu cắt đất xin nhường Thánh Tông
Vua bằng lòng tha cho Chế Củ
Cõi biên thùy uy vũ vang danh
Thu về Địa Lý, Ma Linh (1069)
Cùng châu Bố Chính trở thành đất ta
Tuổi bốn mươi, sinh ra con nhỏ (1066)
Vua rất mừng, trăm họ hân hoan
Có người nối dõi ngai vàng
Phong ngay thái tử , đăng quang sau này
Lý Thánh Tông có tài văn học (1056)
Làm minh văn cho đục trên bia
Cung thương sáng tác nghề kia
Phỏng theo nhạc khúc chẳng lìa âm Chiêm
Tiếng trống Chiêm vô cùng hấp dẫn
Điệu Pì dền khi bổng, lúc khoan
Tám mươi điệu trống Kỳ Nằng
Ri Nai khúc hát nhẹ nhàng vui thay
Nhân một hôm gặp ngày xuân nhựt (1063)
Dân hiếu kỳ nô nức tranh đua
Nhân ngài đi vãn cảnh chùa
Cố nhìn được mặt đức vua một lần
Chỉ riêng một, giai nhân tuyệt sắc
Không nhìn vua, nép mặt bên lan
Khiến vua làm lạ vô vàn
Vua cho võng kiệu để mang nàng về
Tên Ỷ Lan cũng vì tích đó
Là một người sắc sảo thông minh
Thay vua việc nước điều hành
Khi chồng sang đánh Chiêm Thành năm sau
Lý Thánh Tông tài cao nhân hậu
Coi việc dân , đạt thấu lẽ trời
Cơ đồ gánh vác trên vai
Bình Chiêm, phạt Tống trong ngoài vỗ yên
Share this article :
 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved