LÝ THÁI TỔ ( 1010 - 1028 )
QUYỂN 4
LÝ THÁI TỔ ( 1010 - 1028 )
Lý Công Uẩn vốn dân Cổ Pháp
Sinh ra đời đúng bậc minh vương
Lên ngôi hoàng đế Việt Thường
Là n gười khoan thứ tinh tường việc dân
Cha không có, mẹ người họ Phạm
Chùa Tiêu Sơn giao hợp thần nhân
Sinh vua tuấn tú bội phần (974)
Năm lên ba tuổi cho làm con nuôi
Lý Khánh Văn nhận nuôi đứa bé
Trẻ thông minh đủ vẻ lương tường
Sư chùa Lục Tố rất thương
Nói rằng : Không phải người thường thế đâu
Mãi về sau lời sư Vạn Hạnh
Đã trở thành định mệnh quốc gia
Nhiều năm ròng rã trôi qua
Tiên tri lúc trước quả là đúng ngay
Sau hai ngày vua Lê Long Đĩnh
Chết chưa chôn thì chuyện xãy ra
Trong triều nỗi cuộc phong ba
Nguyễn Đê , Cam Mộc đứng ra nói rằng :
"... Bọn ta không nhân lúc này cùng nhau
sách lập Thân vệ ( Lý Công Uẩn ) làm thiên tử ,
lở bối rối có xãy ra tai biến gì ,
liệu chúng ta có còn giữ đựơc cái đầu hay không ? "
Cuộc chính biến tôn vương chớp nhoáng
Kế hoặch xong chỉ đúng hai ngày
Cho dù ai muốn trở tay
Cũng không xoay được đổi thay cuộc cờ
Lý Công Uẩn , cơ đồ có sẳn
Kẻ khôn ngoan dưới trướng khá nhiều
Thiền sư Vạn Hạnh phò theo
Thái sư Khuôn Việt đem điều nghĩa nhân
Gốc là dân mối giềng trị nước
Việc khởi đầu làm trước lên ngôi
Bỏ giềng lưới, bỏ giam người
Đại xá thiên hạ đổi đời từ đây
Vua xuống chiếu từ rày có việc
Không thuận lòng giải quyết với nhau
Được quyền diện kiến trình tâu
Vua thân phán quyết ngỏ hầu minh oan
Lại hạ lệnh : người đang trốn tránh
Cho phép về lại cảnh quê hương
Áo cơm giúp kẻ cùng đường
Tha người Nam Chiếu cấp lương đưa về
Vua lại phê, ba năm tha thuế
Sửa đình chùa đổ nát hư hao
Công, hầu, khanh tướng ban trao
Chọn người xứng đáng để giao trọng quyền
Viết chiếu truyền, dời đô đến chỗ (1010)
Thành Đại La đất cổ Cao Vương
Vùng này đất phẳng mười phương
Long chầu, hổ phục dị thường địa linh
Nhìn địa hình, đông, tây, nam, bắc
Thế đất này nét sắc mà oai
Vì dân lập kế lâu dài
Tính theo vận nước nhân tài hội đây
Lạ lùng thay, thuyền vua vừa đến
Có rồng vàng xuất hiện trên sông
Đổi tên thành gọi Thăng Long
Mùa thu tháng bảy khởi công dựng nền (1010)
Điện Càn Nguyên nơi coi triều chính
Điện Tập Hiền hướng định chánh Nam
Nằm sau là Điện Long An
Phía đông Giảng Võ Thư Tàng kế bên
Bốn cửa thành : Tương Phù, Quản Phúc
Cửa phía Bắc Diệu Đức mở ra
Đại Hùng theo hướng Tây qua
Tường cao hào chắn phía xa ngoại thành
Cửa Đan Phượng thông liền Uy Viễn
Bậc thềm rồng trước Điện Cao Minh
Thăng Long quang cảnh hữu tình
Nghênh Xuân cung cấm, ngoại thành chùa Nghiêm
Đổi niên hiệu Thuận thiên để tính (1010)
Chức đặt ra phân định rõ ràng
Sắc phong cho sáu bà hoàng
Các con đều được tước vương , tước hầu
Lấy kinh tế làm đầu trị quốc (1013)
Định lệ ra luật nước rõ ràng
Sáu tên sưu thuế đàng hoàng
Năm lần giảm thuế nước càng phồn vinh (1017)
Nơi Phiên trấn (1020), tình hình không ổn
Giặc xâm lăng khốn đốn dân binh
Cất quân chinh phạt tự mình
Đánh cho mấy trận tan tành Cử Long
Vua một lòng tôn sùng đạo Phật
Xuống chiếu truyền khuyên tập chép kinh
Để lầu bát giác tôn vinh (1021)
Đúc chuông, xây tháp, linh đình làm chay
Với Bắc triều vua sai thông hiếu
Nhà Tống phong Giao Chỉ quận vương
Năm lăm tuổi thọ hưởng dương (1028)
Hiệu là Thái Tổ, Thọ Lăng táng ngài
Lý Công Uẩn , nhân thời mỡ vận
Vốn là người khí tượng đế vương
Song ưa nghe việc dị thường
Nên chi bị lụy đoạn trường mà thôi
- LÝ THÁI TÔNG ( 1028 -1054 )
-
- Lý Phật Mã vâng lời di chiếu
- Đến cấm thành mới hiểu ra rằng
- Ba em mai phục thân quân
- Giết mình để đoạt ngai vàng về tay
-
- Xác vua cha còn đây chưa liệm
- Sao ba em toan chiếm ngai vàng
- Đông Chinh, Thánh Dực, Võ Vương
- Rõ là cốt nhục tương tàn buồn thay
-
- Cuộc chính biến, ba tay vương tử
- Khiến triều đình phải xử cho nghiêm
- Có quan Phụng Hiểu điện tiền
- Rút gươm thẳng đến chém liền Võ Vương
-
- Lý Phật Mã trong cơn bối rối
- Lên ngôi vua hiệu đổi Thiên Thành
- Tôn cha, Thái Tổ thần danh
- Quốc tang bố cáo trong thành, ngoài biên
-
- Vua tha cho bọn em dấy loạn
- Lấy tình người đổi oán bằng ân
- Đem tiền, gạo phát cho dân
- Gọi là bố thí ngay lần lên ngôi
-
- Vua lại sai đặt ra thứ bậc
- Để trao quyền cho thật phân minh
- Lựa người tài giỏi nghề binh
- Phong làm Thượng Tướng giữ gìn quốc gia
-
- Vua lập ra bảy bà hoàng hậu
- Là một điều nhiên hậu không ai
- Sách phong thái tử truyền ngai
- Nhật Tôn hoàng tử được ngài ban cho
-
- Là một người nhân từ sáng suốt
- Lại hiểu thông thao lược kinh luân
- Sáu nghề lễ nhạc luật âm
- Ngự văn, thư số cũng trang anh tài
-
- Suốt một đời trên ngai hoàng đế
- Bước trường chinh tế thế đông, tây
- Ở ngôi hăm bảy năm đầy
- Tám lần chinh phạt dạn dày phong sương
-
- Đánh Trệ Nguyên chặn đường Tồn Phúc (1033)
- Phạt Chiêm Thành qui phục nhân tâm (1039)
- Dải dầu chín tháng hành quân
- Chém đầu Sạ Đẩu, giết gần vạn binh (1044)
-
- Vua xuống chiếu soạn thành bộ Luật
- Ghi rõ ràng cho thật phân minh
- Chia ra môn loại rành rành
- Đâu là dân luật, luật hình, luật quân
-
- Bộ Hình Thư được dân mong muốn (1042)
- Bởi vì là thích ứng mọi nơi
- Luật nghiêm lại hợp tình người
- Công bằng đúng lẽ thuận trời, an dân
-
- Tội gian dâm, tội đồ, hối lộ
- Soạn thành văn lý số rõ ràng
- Những ai làm việc lâu năm
- Mà không có lỗi được thăng chức liền
-
- Vua lại sai đóng thuyền cỡ lớn
- Hạ thủy đầu chiến hạm Vạn An (1034)
- Vinh Xuân, rồi chiếc Nhật Quang (1037)
- Thủy quân cũng đóng vài trăm tiểu thuyền (1043)
-
- Vua hạ lệnh đào kênh Đãn Nãi (1029)
- Rồi lại sai vét đãi Lẫm Kênh (1050)
- Đặt mốc, cắm biển đề tên
- Chỉ đường, hướng lối kế bên vệ đường
-
- Trạm Hoài Viễn để giường khách nghỉ
- Xây trên bờ bên mé Gia Lâm (1035)
- Tây Nhai mở chợ cho dân
- Trên sông Tộ Lịch bắt ngang chiếc cầu
-
- Lệ từ lâu, năm nào cũng thế
- Vua thân hành tế lễ Thần Nông
- Tịch điền ruộng đã cày xong
- Nêu gương thiên hạ dốc lòng làm ăn
-
- Vua lại dạy cung nhân dệt gấm (1040)
- Phát trống kho gấm Tống làm quà
- Từ đây sử dụng lụa nhà
- Trong dân sản xuất ; của ta, ta dùng
-
- Dạy Hoàn Vương chấp cung xét hỏi
- Việc kiện thưa xử tội rồi tâu
- Lại cho Thái tử coi chầu
- Để nghe chính sự ngõ hầu ngày sau (1054)
-
- Thuật dạy con bắt đầu như thế
- Cho muôn đời lấy để làm gương
- Tính vua đôi lúc bất thường
- Thích nghe sấm ký khoa trương việc mình
-
- Trong Cấm Thành buồn tình giải trí
- Lập đoàn ca nhạc kỷ trăm người
- Vào rừng Kha Lãm tìm voi
- Dựng chùa Diên Hựu, xây đài chứa Kinh (1049)
-
- Khắp đất nước thanh bình an lạc
- Vua là người trầm mặc tinh thông
- Tháng mười Giáp Ngọ, tiết đông (1054)
- Trường Xuân vua mất đau lòng con dân
-
- Là một người bội phần cơ trí
- Việc quốc gia chăm chỉ sớm hôm
- Tiếc rằng hay nói khoe khoang
- Là người khai sáng mối nguồn về sau
|
- LÝ THÁNH TÔNG (1054 - 1072)
- ĐẠI VIỆT
-
- Được ngôi cao : Thái Tông Hoàng Đế
- Là Đông Cung thừa kế Nhật Tôn
- Một người tâm tính ôn tồn
- Thương dân, trọng việc lại còn lo xa
-
- Đổi quốc hiệu thành ra Đại Việt (1054)
- Lập lịch triều, kỷ yếu định danh
- Gọi tên : Long Thụy Thái Bình
- Sửa sang chính sự, dân tình an sinh
-
- Lập Văn Miếu , nặn hình Tứ Phối
- Những người hiền : Khổng Tử, Chu Công
- Bẩy hai trò giỏi thờ chung
- Là đất văn vật, tấn phong nhân tài
-
- Ngoài cấm thành xây đài cao nhất
- Đặt tên là Bảo tháp Báo Thiên (1054)
- Mươi hai tầng đứng dính liền
- Vươn cao chục trượng oai nghiêm vô cùng
-
- Gặp tiết đông lúc trời lạnh giá
- Thương người tù thiếu cả chiếu chăn
- Gian, ngay chưa biết tỏ tường
- Truyền cho ngục lại phát chăn để nằm (1055)
-
- Xót dân tình phải chăng không biết (1064)
- Nên nhiều khi làm việc lỡ lầm
- Xử người như với người thân
- Lấy điều khoan giảm gia ân cho người
-
- Dân thiếu ăn, đức trời thừa thiếu (1075)
- Tha thuế tô, một kiểu khuyến nông
- Vua, Quan, Dân, lính một lòng
- Giữ yên bờ cõi chẳng mòng riêng tây
-
- Năm Kỷ Hợi lựa ngày Bắc phạt (1059)
- Đánh Khâm Châu cả nước kinh hoàng
- Biểu dương lực lượng vài hôm
- Rồi cho triệt thoái truyền gom quân về
-
- Đánh nước Tàu thị uy cho biết
- Cũng bởi vì vua ghét Tống vương
- Phản phúc dối trá dị thường
- Nuốt lời binh viện đánh Nùng Trí Cao
-
- Đánh Chiêm Thành răn vua Phiên trấn
- Chúa Chămpa thất trận đầu hàng
- Thế cùng Chế Củ xin dâng
- Ba châu cắt đất xin nhường Thánh Tông
-
- Vua bằng lòng tha cho Chế Củ
- Cõi biên thùy uy vũ vang danh
- Thu về Địa Lý, Ma Linh (1069)
- Cùng châu Bố Chính trở thành đất ta
-
- Tuổi bốn mươi, sinh ra con nhỏ (1066)
- Vua rất mừng, trăm họ hân hoan
- Có người nối dõi ngai vàng
- Phong ngay thái tử , đăng quang sau này
-
- Lý Thánh Tông có tài văn học (1056)
- Làm minh văn cho đục trên bia
- Cung thương sáng tác nghề kia
- Phỏng theo nhạc khúc chẳng lìa âm Chiêm
-
- Tiếng trống Chiêm vô cùng hấp dẫn
- Điệu Pì dền khi bổng, lúc khoan
- Tám mươi điệu trống Kỳ Nằng
- Ri Nai khúc hát nhẹ nhàng vui thay
-
- Nhân một hôm gặp ngày xuân nhựt (1063)
- Dân hiếu kỳ nô nức tranh đua
- Nhân ngài đi vãn cảnh chùa
- Cố nhìn được mặt đức vua một lần
-
- Chỉ riêng một, giai nhân tuyệt sắc
- Không nhìn vua, nép mặt bên lan
- Khiến vua làm lạ vô vàn
- Vua cho võng kiệu để mang nàng về
-
- Tên Ỷ Lan cũng vì tích đó
- Là một người sắc sảo thông minh
- Thay vua việc nước điều hành
- Khi chồng sang đánh Chiêm Thành năm sau
-
- Lý Thánh Tông tài cao nhân hậu
- Coi việc dân , đạt thấu lẽ trời
- Cơ đồ gánh vác trên vai
- Bình Chiêm, phạt Tống trong ngoài vỗ yên
|