Home » » LÊ THÁI TỔ HOÀNG ĐẾ (1428- 1433)

LÊ THÁI TỔ HOÀNG ĐẾ (1428- 1433)

Written By kinhtehoc on Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011 | 23:54

QUYỂN 11
Năm Giáp Ngọ đặt nguời cai trị (1414)

Một vùng đất Giao Chỉ bấy giờ

Ngọc ngà vơ vét đầy kho

Bắt dân xuống biển để mò ngọc trai


Giặc Minh lại ra tay tàn ác

Chiếm lấy ngay mỏ bạc mỏ vàng(1415)

Dân ta cơ cực cùng đường

Lâm vào thảm cảnh tang thương não nề


LÊ THÁI TỔ HOÀNG ĐẾ (1428- 1433)

Năm Mậu Tuất truyền đi các lộ(1418)

Rằng Lam Sơn Lê Lợi dấy binh

Muôn người nhất loạt tôn vinh

Đưa làm chủ tướng "Diệt Minh" báo thù

Ơ dưới cờ, anh hùng hào kiệt


Cùng một lòng thề quyết đánh tan

Lũ quân xâm lược hung tàn

Giành nền độc lập giang sơn của mình

Kể từ đó dồn binh tích thảo


Gởi truền dơn bá cáo khắp nơi

Anh hùng hội tại Lũng Nhai (1419)

Chung lòng giết lũ giặc trời cứu dân

Trận đầu tiên dàn quân Lạc Thủy


Đánh Mã Kỳ như thể chẻ tre

Quân lương khí giới thu về

Ba ngàn xác giặc đầu lìa khỏi thân

TênBân đem quân lùng sục(1418)


Bị Vương cho mai phục dọc đường

Bắn tên, giặc chết, vô vàn

Hoảng hồn vội rút binh lương chạy về

Giặc kiệt quệ khó bề chống đỡ


Dân thừa cơ từ đó nổi lên

Cùng nhau tiến đánh ngày đêm

Thượng thư Hoàng Phúc phải xin hồi triều(1420)

Giặc đóng đâu, dân theo ở đấy


Như tàng hình, lúc thấy lúc không

Hở ra, giặc bị tấn công

Tham mưu Trần Trí buộc lòng rút lui(1421)

Người Ai Lao, quân vài ba vạn(1421)


Cùng trăm voi giả dạng theo ta

Vào trong doanh trại chung nhà

Nửa đêm bất ý nổ ra phá thành

Vua đích thân chỉ huy cự chiến


Giữa trận tiền vung kiếm dẹp tan

Ai Lao sợ quá chạy luôn

Quân ta đuổi đến Lưu Sơn mới về

Năm Nhâm Dần(1422) nhằm khi tháng Chạp


Người Ai Lao hẹn gặp quân Minh

Hợp tung làm thế liên minh

Đông Tây giáp lại quyết tình diệt ta

Vua xuống lệnh xông ra đánh mạnh


Cho tiến quân một cánh mở đường

Hậu quân rút khỏi chiến trường

Rồi quay bọc hậu tìm phương đánh vào

Quân Ai Lao không ngờ phản kích


Viện binh giặc nằm tít ngoài xa

Mã Kỳ, Trần Trí xin ta

Tạm thời đình chiến vờ qua lúc này

Núi Chí Linh đồn xây lán dựng


Hai tháng trời gần cạn quân lương

Giết voi và ngựa đỡ lòng(1422)

Mà quân kháng chiến vẫn không nản lòng

Rồi dùng voi tấn công đột ngột


Đánh Đa Căng, Nhữ Hốt thoát thân(1424)

Nhà Minh sai trả Lê Trăn

Xin ta ngừng chiến rút quân , trá hàng

Tướng Lam Sơn : Lê Hào , Lê Lĩnh


Với đội hình quân lính ngàn tên

Nhằm khi Lê Thạch xông lên

Chẳng may lọt hố chông ghim vào người

Bảo Lê Ngân, vua sai Lê Liệt


Đường tắt đi vây xiết Đỗ Gia

Phục binh Bồ Ải quân ta(1424)

Dưới quyền Lê Sát đánh ba hôm liền

Lấy thêm quân vua truyền vây hãm(1425)


Thành Nghệ An cùng quẫn lâu nay

Tướng giặc Trần Trí khoanh tay

Bèn cho đóng kín đợi ngày viện binh

Vây Tân Bình giao cho Lê Nỗ(1425)


Cùng Trần Nảo đánh tới Hóa Châu

Vùng đất Thuận Hóa đã lâu

Dưới ách thống trị , nay vào tay ta

Cho chia quân làm ba mũi nhọn(1426)


Hai đạo dùng giữ chốn biên cương

Chặn binh Lưỡng Quãng tiến sang

Khởi đầu bắc tiến quyết dành lại dân

Giặc ở thành Đông Quan nao núng


TướngAn, Phương Chính chạy về

Bàn cùng Trần Trí rút đi

Tây Đô khốn đốn coi bề nguy nan

Để giải vây mấy làng phụ cận


Quanh Đông Quan giặc vẫn cầm chân

Nghĩa quân vây xiết lại dần

Giết Sâm và Đại ở gần cầu Nhân

Quân viện binh của Vương An Lão


Bị Lê Khả áp đảo tơi bời

Giết đi hơn một nghìn người

Tàn quân còn lại chạy dài qua sông

Vào mùa đông trong năm Bính Ngọ(1426)


Vua nhà Minh cho cử Vương Thông

Ngã Vân Nam , thẳng đến sông

Thêm quân ba vạn đi cùng Mã Anh

Sông Yên Nguyệt vây quanh quân giặc


Giết Trần Hiệp đón bắt Vương Thông

Giặc Minh chết đuối đầy giòng

Chém tênLượng bắt chừng vạn tên

Cho tiến lên đuổi theo Phương Chính


Bọn Mã Kỳ cố tránh thoát đi

Ta thu quân khí bộn bề

Vương Thông thoát dược chạy về Đông Quan

Bình Dịnh Vương chọn nơi Phù Liệt


Đặt bản doanh trực tiếp chỉ huy

Đông Đô bốn đạo phân đi

Đặt quan văn võ dễ bề điều quân

Vương tìm được họ Trần tên Cảo


Lập làm vua bố cáo trong dân

Triện ghi danh tính rõ ràng

Hiệu là Thiên Khánh ngang hàng đế vương

Giặc bị vây lâm đường khốn quẩn


Ơ nhiều nơi chúng dẫn ra hàng

Vương Thông mong được bảo toàn

Sai đưa thư đến tính toan nghị hòa

Vua bằng lòng ban ra quân lệnh


Cho từng đoàn binh lính người Minh

Mau mau tập hợp về dinh

Giải trừ vũ khí Yên Kinh cho về

Vương Thông nghe lời tên phản quốc(1426)


Nên đem lòng ngờ vực quân ta

Đắp thêm thành lũy để mà

Đợi binh tiếp viện sẽ qua cứu mình

Giận giặc Minh đã không thành thật


Lại sai người bí mật mang thư

Xin binh cứu viện bây giờ

Nên vua quyết định đánh cho tan hàng

Bản doanh nơi Đông Quan đối mặt


Địch và ta chỉ cách sông Lô

Truyền cho Nguyễn Trãi đại phu

Dự bàn việc thảo một tờ chiêu an

Giặc nhiều nơi ra hàng đồng loạt


Tướng nhà Minh hoảng hốt vô cùng

Lấy Thị Cầu chiếm Tam Giang

Diễn Châu cùng với Nghệ An quy hàng

An viễn hầu Liễu Thăng xuất trận(1427)


Đem theo cùng mười vạn quân binh

Tham tướng Bảo Định, Lương Minh

Đô đốc Thôi Tụ cùng mình kéo sang

Tướng Chinh Nam quốc công Mộc Thạnh


Năm vạn quân một cánh tiến qua

Đánh vào cửa ải Lê Hoa

Dừng chân nghe ngóng lấy đà tấn công

Còn Liễu Thăng vượt vòng Pha Lũy


Quân Lê Lựu lùi giữ Ải Lưu

Kế sách ta đã lập mưu

Chỉ vài ba trận giả đò thua to

Liễu Thăng cho đại quân đánh thốc


Lọt vào vòng mai phục của ta

Bốn bên pháo lệnh nổ ra

Quân Minh tháo chạy kêu la rần trời

Chém Liễu Thăng ở đồi Yên Ngựa(1427)


Đem bêu đầu trước giữa ba quân

Lương Minh,Khánh lùi dần

Cuối cùng tử trận ở gần Chí Linh

Ngày mười lăm, quân Minh đại bại(1427)


Trói Hoàng Phúc, Thôi Tụ dẫn đi

Ta thu ấn bạc, châu phê

Hổ phù chiến khí đem về Đông Quan

Ở Vân Nam , tướng già Mộc Thạnh


Thấy rùng mình trước cảnh Liễu Thăng

Vội vàng bỏ cả ba quân

Một mình một ngựa chạy băng trốn về

Ở Đông Quan giặc nghe đại bại


Vội vàng đem dâng sớ xin hòa

Tức tốc sai sứ mang qua

Xin vua mở lượng hải hà tha cho

Vua xuống lệnh trả tù về trước


Cấp bạc tiền, gạo nước, quân lương

Cho thuyền, cấp ngựa sẵn sàng

Lấy điều nhân nghĩa dạy quân giặc tàu

Cho Phương Chính bắt đầu về trước(1427)


Còn Mã Kỳ thì được theo sau

Hoàng Phúc, Sơn Thọ lao xao

Xốc xếch quần áo dắt nhau trở về

Trước khi đi, đến nơi lạy tạ


Bình Định Vương trước cửa hành dinh

Vua ta khuyên nhủ giặc Minh

Từ đây, đừng dại chiến tranh với nguời

Bậc quân tử ở đời hiếm có


Vua và Thông luận cổ suy kim

Trước thù, nay lại hàn huyên

Cùng nhau giải mối thù hiềm từ lâu

Uống cạn bầu, chuyện trò tới sáng


Nghĩa hiếu hòa chuyện vãn với nhau

Vua sai đem rượu, đưa trâu

Khôn ngoan đáng bậc ngoại giao tuyệt vời

Năm Mậu Thân, lên ngôi hoàng đế(1428)


Dời đô về ở phía Đông Kinh

Thuận Thiên niên hiệu chính danh

Đặc tên : Đại Việt , sử xanh muôn đời

Vua cùng người nghị bàn việc nước


Luận tội công cho được phân minh(1429)
Lại sai Nguyễn Trãi dâng lên
Bình Ngô đại cáo để truyền trong dân(1428)
Bản tuyên ngôn được rao khắp nước
Cho thần dân biết được ý vua
Nước nhà độc lập bấy giờ
Thái bình thịnh trị cơ đồ phục hưng
Trong tận cùng trái tim vua nói :
1. Từng nghe :

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu


Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lê, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương


Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có.


Vì vậy :


Lưu Cung tham công nên thất bại,

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong


Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Việc xưa xem xét

Chứng cớ còn ghi


2. Vừa rồi :


Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước lòng dân oán hận

Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa

Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh


Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế

Gây binh, kết oán, trải hai mươi năm


Bại nhân nghĩa nát cả đất trời

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi

Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng

Kẻ bị đem vào núi, đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc


Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng

Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ

Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng


Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán.

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa ?

Nặng nề những nỗi phu phen

Tan tác cả nghề canh cửi


Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Nam Hải không rửa sạch mùi !

Lẽ nào trời đất dung tha

Ai bảo thần dân chịu được

3. Ta đây :

Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống


Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ


Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi,

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên

Chính lúc quân thù đang mạnh.


Lại ngặt vì :


Tuấn kiệt như sao buổi sớm

Nhân tài như lá mùa thu

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc


Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.


Thế mà :


Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nghìn chốn bể khơi

Tự ta, ta phải dốc lòng vội vã hơn cứu người chết đuối.


Phần vì giận quân thù ngang dọc

Phần vì lo vận nước khó khăn,

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Khi Khôi Huyện, quân không một đội


Trời thử lòng trao cho mệnh lớn

Ta gắng chí khắc phục gian nan

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào


Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.


Trọn hay :


Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo


Trận Bồ Đằng, sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân, trúc chẻ tro bay

Sĩ khí đã hăng

Quân thanh càng mạnh


Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,

An, Phương Chính nín thở cầu thoát thân

Thừa thắng ruỗi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại

Tuyển binh, tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về,


Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm

Tốt Động, thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Phúc tâm 1uân giặc : Trần Hiệp đã phải bêu đầu.

Mọt gian kẻ thù :Lượng cũng đành bỏ mạng


Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy

Mã Anh cứu trận đánh, mà quân ta hăng lại càng hăng.

Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt

Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công


Tưởng chúng biết lẽ ăn năn, nên đã thay lòng đổi dạ.

Ngờ đâu vẫn đương mưu tính, lại còn chuốc tội gây oan,

Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,

Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.


Bởi thế :


Thằng nhãi con Tuyên Đức, động binh không ngừng

Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy,

Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại.

Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.


Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong,

Ta sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.

Ngày mười tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế,

Ngày hai mươi, trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu.


Ngày hăm nhăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong

Ngày hăm tám, thượng thưKhánh cùng kế tự vẫn

Thuận đà ta đưa mũi dao tung phá

Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau


Lại thên quân bốn mặt vây thành

Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc,

Sĩ tốt kén người hùng hổ,

Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh,


Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,

Voi uống nước, nước sông phải cạn,

Đánh một trận, sạch không kình ngạc

Đánh hai trận, tan tác chiêm muông.


Cơn gió to trút sạch lá khô,

Tổ kiến hổng, sụt toang đê vỡ.

Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội.

Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.


Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,

Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.

Ghê gớm thay ! Sắc phong vân phải đổi,

Ảm đạm thay ! Ánh nhật nguyệt phải mờ.


Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật !

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân,

Suối Lãnh Câu, máu đào trôi chảy, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc.

Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.


Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng,

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng.

Thần vũ chẳng giết hại, thề lòng trời, ta mở đường hiếu sinh


Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho năm trăm chiến thuyền

ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc.

Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cổ ngựa,

về đến nước mà vẫn tim đập chân run !


Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng.

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức,

Chẳng những mưu kế kỳ diệu

Cũng là chưa thấy xưa nay .


4. Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Kiền khôn bĩ mà lại thái

Nhật nguyệt hối mà lại minh


Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu

Muôn thuở nền thái bình vững chắc.

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng, ngầm giúp đỡ mới được như vậy.

Than ôi !


Một cổ nhung chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm,

Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo

Ai nấy đều hay."


Xuống chiếu sai biểu dương sĩ tử
Khuyến khích dân tiến cử nhân tài(1429)
Lắng nghe can gián của người
Lúc bàn việc nước dẫn lời thánh nhân
Với thuộc cấp định công phong tước
Chia ba bậc, phẩm trật rõ ràng
Kê khai tài sản cá nhân
Sổ điền, sổ bộ, chia ban mà làm(1430)
Vua xuống chiếu truyền quan văn võ
Họp bàn về quy cũ bạc tiền(1431)
Không vì ưa thích ý riêng
Mà đem áp đặt lấy quyền bắt dân
Sai giết hết những quân phản nghịch
Giúp giặc làm những việc ác ôn
Đã không sửa lại lỗi lầm
Tụ bè kết đảng ngấm ngầm âm mưu
Sai tịch thu gia tư những kẻ
Làm lắm điều quốc tệ gia vong
Như là Nhữ Hốt, Văn Phong
Như tên Sùng, Lễ, tên Trung, tên Tồn
Vua giết oan quan Phạm Văn Xảo (1430)
Cũng như là Trần Cảo trước đây (1428)
Cũng như Nguyên Hãn sau này
Vì nghi bội phản giết ngay mấy người
Giết Tư Mã Lê Lai vì cậy (1427)
Có chiến công nói bậy khinh nhờn
Tịch thu tiền của gia trang
Chém ngay những kẻ bán buôn trữ hàng
Vua làm sách Lam Sơn thực lục
Chép lịch triều từ lúc khởi binh
Viết lên sự nghiệp kháng Minh
Ghi công chiến sĩ vô danh muôn đời
Vua lại sai xây cung Vạn Thọ (1428)
Chế tạo thêm chiến cụ, thuyền bè
Đúc tiền, biểu chế phục nghi
Định ra ấn tín, quốc huy rõ ràng
Năm Quý Sửu thượng tuần tháng tám (1433)
Vua băng hà chính tẩm Đông Kinh
Là người áo vải xuất chinh
Mười năm ròng rã kháng Minh phục thù
Khi cõi bờ không còn bóng giặc
Ngài chăm lo việc nước việc dân
Chỉnh tu luật pháp dần dần
Mở mang trường học gương chân thánh hiền (1428)
Ngoài chống giặc, trong yên vận nước
Chuyện áo cơm lo trước cho dân
Lam Sơn thực lục tự thân
Viết lên quan điểm trị dân rõ ràng
Share this article :
 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved