skip to main |
skip to sidebar
CÓ THẦN VÀ THẦN
Cùng một bắt
đầu...
Linga-yoni: cái ấy là chính
Nõ-nường: ấy mới là cái
chính
Điêu khắc đình làng: ấy dọc ấy ngang!
Bánh chưng: hình dáng e
không gói ghém
Đôi "người", đôi ngả: chẳng qua cái hướng đầu tư
Cùng
một bắt đầu...
Chẳng nhớ nghe câu
"Hạt gạo là hạt ngọc" ở đâu. Có thể chính lời mẹ mình, có thể lời
mẹ người khác. Lời nhắc nhở riêng, cũng có thể là lời chung của tất cả các
bà mẹ Việt Nam, bà mẹ Miên, bà mẹ Thái, bà mẹ Nam Dương, bà mẹ Ấn-độ v.v. Trên
khắp một vùng Nam Á rộng lớn từ bán đảo Ấn phía Tây đến mảnh đất hình chữ S của
chúng ta phía Đông, cây lúa nước chắc chắn là thứ "cây" quan trọng nhất trong
đời sống vật chất của nhân loại.
Qua việc đồng áng, cư
dân những vùng trồng lúa nước dần dần thấm thía ý nghĩa sinh tử của hiện tượng
đơm bông kết quả. Nông nghiệp nước lại rất nặng công lao động, gia đình càng
đông con càng lợi thế. Phồn thực -- "nẩy nở ra nhiều", nhiều con nhiều lúa --
dần dần trở thành ước muốn "không rời". Cái muốn mãnh liệt dẫn đến cái nghĩ
lung, về một hướng nào đấy, chẳng hạn tìm sự phù trợ siêu nhiên để khắc phục khó
khăn và
giảm thiểu may rủi trong nghề. Lặng lẽ, tín ngưỡng phồn thực ra đời. Cây
lúa sau khi giúp chúng ta khỏi chết đói, lại giúp chúng ta phát triển thêm đời
sống tinh thần.
Thực ra, ở Việt Nam,
những hình thức xưa nhất của tín ngưỡng phồn thực có lẽ đã xuất hiện trước thời đại
kinh tế nông nghiệp. Lễ mở cửa rừng ở xã Phú Lộc, huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh
Phú, chẳng hạn, hiển nhiên có liên hệ với nghề săn nguyên
thủy. Tuy nhiên, hoàn thiện nông nghiệp nước dường như là dấu mốc quan trọng
trong quá trình phát triển của loại tín ngưỡng này.
Sau nhiều nghìn năm mạnh ai
nấy trồng nấy tin thoải mái, kẻ tò mò thử so sánh tình hình đây đó, không khỏi
ngạc nhiên.
Linga-yoni : cái ấy là chính
Tiếng Phạn nổi tiếng
cực kỳ phong phú từ trừu tượng. Nhưng có đôi từ Phạn ngữ tuy chẳng trừu
tượng tí nào mà hầu cả thế giới đều biết: lingavà
yoni. Sinh thực khí thì dân tộc nào cũng có tiếng
gọi. Linga - yoni sở dĩ lừng danh quốc tế là nhờ một cách thờ
phụng đặc biệt của người Ấn-độ.
Will Durant [1] cho biết ở
Ấn-độ nhìn đâu cũng thấy cái giống, nhất là của phái nam. Lingađược
dựng sừng sững trong đền, ngất nghễu hai bên đường đi, được rước long trọng vào
ngày lễ. Để dâng lễ vật cho linga, như Phật tử cúng Phật,
người Ấn có
thể đập mạnh một trái dừa đã lột vỏ vào tượng mà tưới. Ở một số đền
ven sông Hằng, người ta lấy nước sông chùi rửa linga rồi
bán nước đó cho tín đồ muốn cầu tự.
Quan sát các nghi lễ
trên, ai cũng đoán được những trụ đá vĩ đại kia hẳn không còn mang ý nghĩa phàm
tục. Will Durant xác nhận: "Shiva là thần, mà dương vật là hình ảnh (...) (người
Ấn) đã từ lâu rồi (...) chỉ thấy đó là một cách (...) để hình dung quyền năng
của thần Shiva". Shiva là thần lớn, có quyền năng sinh hóa, dĩ nhiên
cần thờ. "Trong mọi sự thờ phụng, sự thờ phụng thần Shiva có tính
cách nghiêm trang nhất..." Đã là hình ảnh của thần, được thờ cúng trang nghiêm,
được đeo ở cổ như con chiên đeo Thánh giá, linga từ lâu không còn
liên hệ trực tiếp với sinh thực khí của người, không gợi nhắc cái dâm. Thánh
Gandhi bảo: "Chính các du khách phương Tây tới thăm nước chúng tôi đã phát giác
cho chúng tôi tính cách tục tĩu của nhiều tập quán từ trước chúng tôi vẫn theo
mà chẳng thấy tục chỗ nào cả. Riêng tôi, nhờ đọc một cuốn (sách) của một nhà
truyền giáo mà biết rằng cái lingacủa thần Shiva có ý nghĩa
tục tĩu."
Ai cũng biết người
Chàm chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Ấn-độ. Sinh hoạt tinh thần của dân tộc này
khi xâm nhập vào dân tộc khác luôn luôn bị
địa phương hóa mà biến dạng ít nhiều. Về trường hợp tín ngưỡng phồn thực, dưới
hình thức thờ cúng linga-yoni, độ biến dạng khi từ Ấn qua
Chàm dường như không lớn. Theo Lương Ninh[2], "Chưa ở đâu trong các quốc gia
Đông Nam Á
có ngẫu tượng linganhiều, kích thước lớn và đẹp
như những linga ở Cham Pa (...) Ngẫu tượng (...) tạc bằng đá cứng (...) nét gọn,
chính xác (...) vẻ trang nghiêm 'thánh hóa' (...) không thô kệch." Trang nghiêm,
thánh hóa, rõ ràng là tinh thần của ý niệm thờ cúng dương vật xuất phát từ đất
Ấn.
Lingađông
du từ Ấn qua Chàm, rồi Bắc tiến từ Chàm lên Việt. Trong lịch sử xung đột kéo dài
nhiều thế kỷ giữa Chiêm Thành và Việt Nam, phía chúng ta mỗi
khi thắng trận, ca khúc khải hoàn, ngoài đất đai, châu báu, mỹ nữ, thỉnh thoảng
lại đem về những mảnh văn hóa Chàm độc đáo. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đánh
Chiêm đại thắng, xa giá về Thăng Long dường như có
rước theo một cách diễn dịch Phật giáo mới lạ. Triều Lý nổi tiếng
về kiến trúc chùa đồ sộ, nguy nga. Chùa Một Cột thời Lý không phải bé nhỏ như
bây giờ. Theo Chu Quang Trư ù [3], chùa kiến trúc trên cột đá cao hàng chục mét,
dựng giữa hai lớp hồ, "quanh đỉnh cột chạm bông hoa sen nghìn cánh, trên hoa sen
(xây) tòa điện màu xanh, trong điện có
pho tượng Phật mình vàng". Theo Nguyễn Đăng Thục[4],
cái kiến trúc cột đá khổng lồ ấy không phải ngẫu nhiên: "...
Linga-yoni của Chiêm Thành xưa. Người Việt Nam thời Lý đã
thay bằng 'Đài Sen Một Cột' ở giữa cái hố vuông như ngôi Chùa Một Cột hay Diên
Hựu, dáng chừng ảnh hưởng Nho học trọng hình thức lễ nghi trừu tượng hơn là hình
thức cụ thể cho nên đã hóa trang đi như thế." Chùa thờ Phật xây trên đỉnh tượng
thần Shiva!
Văn hóa Chàm có khi do
ta cố ý rước về như trường hợp kiến trúc kỳ lạ của chùa Một Cột. Nó có khi
lặng lẽ phát huy sau khi được ta vô tình đem theo về Bắc. Theo Tạ Chí Đại Trường
[5], chùa Bà Đanh ở Thăng Long có thể là kiến trúc tôn giáo
Chàm do một số tù binh Chàm dựng lên. Gọi chùa thực ra là ngoài quy ước, vì "Bà
Đanh tự" (tên trên bia) không thờ Phật. Chùa thờ một nữ thần Chàm ngồi trong tư
thế đặc biệt hớ hênh. "Thần ban phúc cho người cầu cúng khi người này cầm gậy
thọc
vào hạ bộ của thần." Vì thế chùa còn có tên bình dân là chùa Bà Banh.
(Vẫn theo Tạ Chí Đại Trường, "Đanh" là nói về cây gậy bằng
đá.)
Chữ nghĩa nôm na
phản ánh thẳng thật cách nhìn. Dù Banh hay Đanh, cũng đều là phong thái mô tả cụ
thể đặc thù của người Việt chúng ta và đều gây cảm
tưởng... không đứng đắn. Tức thị hoàn toàn mâu thuẫn với
tín ngưỡng của kẻ xây chùa. Dù Bà có "phô phang" rộng rãi thế nào đi
nữa, dù gậy
có Đanh, ta có thể tin chắc rằng những cư
dân Chàm ở Thăng Long thời ấy khi vào cúng bà mấy gậy là cúng với
thái độ trang nghiêm, thành khẩn nhất, chẳng mảy may kém lòng thành của người
Phật tử lúc dâng hương lễ Phật. Đặc điểm nổi bật trong tín ngưỡng phồn thực Ấn -
Chàm chính là ở thái độ trang nghiêm khi đối diện
"thần".
Nõ-nường : ấy mới là cái chính
Dĩ nhiên người Việt
Nam không đợi đến lúc có chùa Một Cột, có
chùa Bà Banh mới biết trầm trồ cái khả năng kỳ diệu của sinh thực
khí. Dương vật - âm vật và hành vi giao phối đã hiện
diện trong nhiều nghi lễ dân gian từ rất lâu ở khắp Đông Nam Á. Trường hợp người
Việt cổ, hình ảnh bốn cặp trai gái đang giao hoan trên nắp thạp Đào Thịnh là một
bằng chứng. Có lẽ cũng từ rất sớm, tín ngưỡng
phồn thực ở Bắc bộ đã phát triển theo hướng nhất định.
Linga-yonitiếng
Việt xưa là nõ-nường. Nõ có nơi gọi là dò (hội cướp dò
ở xã Gia Thanh, huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú). Theo Viện Văn hóa Dân gian
[6], ở trung du và đồng bằng sông Hồng
từng
có rất nhiều lễ hội cổ truyền mà nội dung liên hệ chặt chẽ với tục "thờ"
sinh thực khí. Đa số những lễ hội này tập trung tại Phong Châu (nơi có đền
Hùng). Số còn lại rải rác ở các tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Hải Hưng v.v., nghĩa là hầu
khắp xung quanh Hà Nội.
Nõ-nường khác
linga-yoni. Thứ nhất, trong khi linga-yonihiện diện
thường trực, hoặc sừng sững giữa đền hoặc lủng lẳng trên cổ tín đồ, nõ-nường chỉ
lồ lộ giữa thanh thiên bạch nhật vào dịp lễ hội. Thứ hai,
nói chung, tượng sinh thực khí của ta kích thước bé nhỏ, khiêm tốn, lấy dáng
thông tục tượng trưng, làm bằng vật liệu không bền, làm sơ sài, bôi bác. Thử xét
một số trường hợp nổi tiếng như hội Dị Nậu (Vĩnh Phú), trò Trám (Vĩnh Phú), hội
Sơn Đồng (Hà Tây), thì thấy tượng chỉ là dùi gỗ, mo cau, mu rùa -- tức những
thứ hoặc có sẵn ở thôn quê hoặc rất dễ có.
Về kích thước, hội Gia Thanh quy định chiều dài của dò là 13 cm, tức lấy
hẳn số liệu về nhân thể làm cơ sở, thiên hẳn về hiện thực trần gian. Có một
ngoại lệ là hội rước Ông Đùng Bà Đà ở thị xã Hưng Yên: Ông Bà là hai hình nhân
khổng lồ làm bằng tre nứa, bồi giấy, cơ thể hoàn toàn đầy đủ vì trong khi
rước có
làm động tác tính giao. Khổng lồ nhưng là cả thân hình từ đầu đến chân,
lại làm bằng tre giấy tạm bợ, sơ sài, hẳn rước xong là bỏ, sánh sao được với cột
đá chống trời cao hàng chục mét!
Vừa nêu trên là những
dị biệt giữa hai phong cách xuất hiện và giữa bản thân
linga-yonivà nõ-nường. Lại còn có
chỗ khác nhau rất cơ bản giữa hai thái độ tiếp cận Ấn-Chàm và
Việt. Một đằng điển hình là cá nhân đơn độc lặng lẽ sì sụp "lễ" thần, một
đằng chủ yếu là tập thể ì ì à à vui "hội". Tại hội Hy Cương (Phong Châu, Vĩnh
Phú),
có tục múa "tùng dí": cứ sau mỗi tiếng trống điểm tùng, thì từng
đôi lại nhịp nhàng giơ "biểu tượng âm dương" lên mà dí vào
nhau. Rất dễ hình dung ra, nghe thấy được những vẻ mặt, ánh mắt nghịch ngợm, háo
hức trước mỗi tiếng "tùng", những tiếng cười rúc rích, tiếng đấm lưng thùm thụp,
tiếng giỡn la chí chóe sau mỗi lần "dí", ít nhất từ phía người xem. Gần như
không sao tưởng tượng nổi một quang cảnh tùng dí trang
nghiêm.
So với
linga-yoni, nõ-nường kém uy thế rõ ràng. Vậy mà, trong tín ngưỡng
phồn thực ở Việt Nam, nhiều khi "biểu tượng âm dương" khiêm tốn của ta còn bị
loại bỏ hẳn, không hề được góp mặt. Có những hội không rước,
không múa gì cả, đơn giản "cho phép hôm đó trai gái được vào
nương dâu tình tự" như hội đền Gióng. Nổi tiếng nhất trong loại này là hội La
Khê (Hà Tây): đêm rã đám làng có tục tắt đèn để nam thanh nữ tú
tha hồ "tình tự".
"Bơi Đăm, rước Giá,
hội Thầy
Vui
thời vui vậy, chẳng tầy rã La".
Thoải mái thế, còn hội nào vui
hơn!
Kém tiếng một tí, có hội chen Nga Hoàng ở Bắc Ninh.
Hoàng Cầm "gợi" trong Về Kinh Bắc:
"Chen Nga
Hoàng
len chèn nguyệt tận
Phụt nửa đêm đèn nến
lặn
Ba hồi
trống giãi dầm dề
lim dim bao dong
ba nghìn mắt
Phật
Tóc tung
tình bờ xôi ruộng mật
Quanh co tỏa bốn hướng đình
Từng ngôi sao mắt người lung
linh
Ai
gọi... im lìm
Í ới... sao chìm
Đôi đôi ú tim... tìm
Òa ập... cánh chim... e
ấp...
Hỗn mang mê vô
cùng
Địa đàng
say tới tấp" [7]
Mê, say, tới tấp, vô cùng. Kém tiếng
nào phải kém vui.
Hội điển hình là
"việc" của cánh thanh niên. Trước hội có lễ, chủ yếu là phần các cụï, trừ
những lễ mang ý nghĩa phồn thực. Tại lễ mở cửa rừng ở xã Phú Lộc, theo đòi hỏi
của làng, sau khi cụ từ thắp hương khấn khứa sơn thánh, các cặp nam nữ sẽ bắt
đầu múa điệu "gà phủ", vờn nhau như trống vờn mái, rồi kéo nhau "tìm chỗ khuất
để thực hiện yêu cầu giao phối bắt buộc". Tình huống sắp sẵn căng thế, cụ từ
khấn gì hẳn mặc cụ chứ, các cặp trai gái sắp "múa" cứ xôn xao rạo rực, náo nức
đợi chờ đến phần đóng góp của mình. Lễ đấy, nhưng vui kém gì hội
đâu.
Điêu
khắc đình làng: ấy dọc ấy ngang!
Ngoài
linga-yoni, người Ấn-độ còn nổi tiếng về điêu khắc mô tả trai gái
giao hoan trong nhiều tư thế kỳ lạ. Có lẽ ít ai biết người Việt Nam
cũng có
loại điêu khắc phong tình "dữ dội" không kém. Ở đây, một lần nữa, chúng
ta lại phô bày mạnh mẽ bản sắc độc đáo của mình.
Trong Văn hóa Việt
Nam nhìn từ mỹ thuật, Chu Quang
Trứ đưa ra những thông tin lý thú về các bức chạm ở một số đình làng Bắc bộ. Lấy
Thăng Long làm điểm xuất phát mà du hành về các miền quê, hầu như đi về phương
nào cũng gặp loại điêu khắc vừa nói. "Đình Đông Viên xứ Đoài có cảnh
trai gái chòng ghẹo nhau trong đầm sen, các cô đều phơi bày toàn thể tấm thân
ngọc ngà, trong đó đặc biệt làm nổi rõ những phần nữ tính nhất (...) Đình Hương
Lộc xứ Nam
có cảnh trai gái tự tình công khai giữa thanh thiên bạch nhật, ngay
trước mặt mọi người. Nhưng táo tợn (nhất) vẫn là ở các đình thuộc xứ
Bắc (...) đình Phù Lão (...) có hàng loạt cảnh trai gái
tình tự
và say sưa ân ái. Các hoạt cảnh ấy được chạm ngay trên chiếc râu rồng,
diễn ra giữa đám hội làng, cạnh những trò múa hát và đấu vật. Trong các cảnh ân
ái, chính cô gái lại chủ động chèo kéo và cũng luôn được chạm ở tỉ lệ
lớn hơn người bạn tình..." Người ta có thể tưởng những cảnh nóng
bỏng ấy được sắp xếp vào những nơi kín đáo để tránh
gây chấn động, nhưng thực ra "hình chạm ở cao trên đầu (...) ở cả trong đình
(...) và
ngoài hiên (...) cốt sao làm cho mọi người đến đình đều được thấy, thấy
nhiều lần..."
Đình làng không phải
là kiến trúc
thuộc loại xưa nhất của dân tộc. Xưa lắm cũng chỉ mới xây cách đây khoảng
năm thế kỷ. Đình Phù Lão dựng năm 1688, sau khi Nho giáo đã được nhà Lê cho "độc
tôn" hàng mấy trăm năm.
Xứ Bắc, tức Kinh
Bắc, trong lịch sử khoa cử Việt Nam vốn lừng danh là vùng nhiều nho sĩ thành đạt
nhất nước, có huyện đỗ hàng mấy chục ông tiến
sĩ. Cửa Khổng sân Trình nườm nượp học trò giỏi, mà dân gian phong hóa sao để
"suy đồi"?
Nhìn kỹ, sự tình
không đáng ngạc nhiên. Kinh Bắc tuy đông ông cử, ông nghè, nhưng tuyệt đại đa số
nhân dân vẫn không biết chữ. Kinh Bắc lại là nơi dân tộc quần tụ rất lâu đời,
trước cả Thăng Long, nên văn hóa bản địa tích lũy hết sức kiên cố, không dễ bị
Nho giáo lung lay. Trong cái môi trường đậm đặc chất Việt Nam ấy, kẻ nhiều chữ
thánh hiền cứ tha hồ lẩm bẩm "Nam nữ thụ thụ bất thân", giữ vẻ mặt nghiêm trang
xa cách, khinh bỉ cái tục tĩu, còn quảng đại nông dân cứ hồn nhiên khúc khích
thưởng thức nó. Thứ điêu khắc rất cấp tiến kia không chỉ tả "cảnh" mà thôi đâu,
chúng còn cho thấy cái "tình" nữa: cũng ở một bức chạm tại đình Phù Lão, người
ta thấy "người con gái vén váy lên, kéo sát chàng trai về phía mình, và
chàng trai thì hăm hở xông đến. Từ phía sau, nghệ sĩ đã chạm một con rồng
nhô ra, ngộ nghĩnh, hóm hĩnh." Nghệ sĩ quê mùa mà nghịch ngợm, tinh ma kém gì bà
chúa thơ nôm! Có lẽ đúng hơn, thơ Hồ Xuân Hương
bất quá phản ánh cái thái độ vô tư, thoải mái của dân tộc đối với những chuyện
bị Nho giáo lấy làm điều cấm kỵ.
Nghĩ cho cùng, ngay
giữa kinh đô Thăng Long mà "Bà Banh đã có hàng nhiều thế kỷ nấp được sau
một ngôi chùa" thì ở chốn thôn quê, búa rìu Nho giáo có giơ cao
chém khẽ cũng không có gì lạ.
Bánh
chưng: hình dáng e không gói
ghém
Bàn về những hình thức biểu
hiện của tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam, Trần Quốc Vượng đưa ra ý kiến độc đáo.
[8]
Theo ông, xưa kia,
"bánh chưng không được gói vuông như bây giờ mà gói tròn (...) bà con cố đô Cổ
Loa gói bánh chưng như đòn bánh tét và vẫn gọi nó là bánh chưng
(...) Bánh chưng tròn dài tượng Dương vật, như cái chày, cái nõ. Bánh dầy tròn
dẹt tựa Âm vật, như cái cối, cái nường (...) Bánh chưng gói ghém trong nó cả một
nền văn minh nông nghiệp lúa gạo."
Về cách giải thích "bánh
chưng vuông tượng Đất, bánh dầy tròn tượng Trời", ông nhắc nhở "Trời tròn đất
vuông là một triết lý Trung Hoa".
Ta vốn gói bánh chưng hình
trụ, rồi bắt chước Tàu mà gói thành hình vuông?
Khó nghĩ.
Văn hóa Việt Nam nói
chung có
bản sắc đặc biệt mạnh mẽ, mà văn hóa ẩm thực của ta nói riêng lại càng
mạnh. Chỉ rất thường nghe chuyện ta hóa của người thành của mình, chứ chưa từng
nghe chuyện xảy ra ngược lại như thế này.
Chính Trần Quốc Vượng, ở nơi
khác, cũng khẳng định: "khuynh hướng giao tiếp (...) là Việt hóa chứ
không phải là Hoa hóa (...) văn hóa Việt Nam không bao giờ là một bản sao
chép của văn hóa Trung Hoa" [9].
Thiết tưởng chỉ có tầng
lớp lãnh đạo như vua quan mới ít nhiều bị triết lý Trung Hoa ảnh hưởng, mới bị
Hoa hóa phần nào trong tư tưởng, chứ đông đảo nhân dân Việt Nam xưa kia không
biết đến cái thứ triết lý phương bắc ấy đâu. Mà lãnh đạo chuyện to lớn gì thì
dễ, chứ cái bánh dân cúng dân ăn mà bắt dân đổi hẳn cách gói thì chắc chắn là
chuyện không dễ chút nào đâu! E là không làm được!
E người Việt vốn vẫn
gói bánh chưng vuông. Dân ta làm bánh vuông trước, rồi sau đó mới có
nho sĩ học triết lý Tàu, rồi mới xảy ra chuyện nho sĩ nẩy ý buộc
bánh vuông của ta vào với triết
Tàu...
Thế tại
sao người Việt miền Trung (tức người Việt miền Bắc di cư) lại
gói bánh tét? Và tại sao ở miền Bắc
lại
có chỗ gói bánh chưng "tét" như Trần Quốc Vượng cho
biết?
Thiết tưởng chuyện
không dễ giải thích. Chỉ mới nghĩ được rằng cái hình dáng bánh không nhất thiết
phải chứa triết lý. Nói bánh chưng tượng trưng cho cả một nền văn minh nông
nghiệp lâu đời thì chắc chắn đúng. Nhưng liệu có thể cái bản sắc của nền văn minh
ấy nó nằm trong chất bánh, hơn là trong hình dáng bánh
chăng?
Đôi
"người", đôi ngả: chẳng qua cái hướng đầu tư
Để tìm hiểu bản sắc
của một dân tộc, văn hóa dân gian thường được chú ý khai thác. Nhưng lọc được
thông tin rõ ràng chắc chắn từ nguồn quặng to lớn ấy lại ít khi là chuyện đơn
giản. Hoặc sự thực đã bị thời gian chồng chất làm mờ nhòe, mất hẳn hình dáng,
như trường hợp đa số huyền thoại, huyền tích v.v.; hoặc sự việc tuy xảy ra chưa
lâu lắm nhưng quá nhiều yếu tố lai tạp đã ngẫu nhiên trùng hợp làm cho gốc ngọn
rất khó phân biệt. Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam dường như là một ngoại lệ
khá
thuận lợi cho công việc nghiên cứu.
Trước khi tiếp xúc với người
da trắng, văn hóa Việt trên đất gốc ở Bắc bộ chịu ba ảnh hưởng ngoại lai: Một,
từ Trung Quốc phương Bắc; hai, từ Ấn-độ phương Tây; ba, từ Chiêm Thành phương
Nam. Tàu không nổi tiếng về tín ngưỡng phồn thực. Ấn-độ dường như không truyền
qua ta thứ gì khác ngoài Phật giáo. Chỉ Chiêm Thành, qua trung gian xung đột
triền miên với nước Việt, đã để lại chút ít vết tích của tục thờ sinh thực khí
lối Ấn-Chàm trên vùng lưu vực sông Hồng.
Tín ngưỡng phồn
thực riêng của ta, "ghi" lại trong các lễ hội và trên các bức chạm đình làng,
rõ ràng có bản sắc độc đáo, khác hẳn
khuynh hướng Ấn-Chàm ấy. Hơn nữa, các lễ hội và các đình làng liên hệ lại chủ
yếu tập trung hoặc ở Phong Châu hoặc ở Kinh Bắc, đều là vùng dân tộc Việt Nam đã
quần tụ rất lâu đời. Không thấy được cơ sở lịch sử nào để nghĩ rằng
linga-yoniđã thâm nhập vào đến tận những làng quê xưa
nhất của ta mà ảnh hưởng đến nõ-nường.
Cốt lõi của tín ngưỡng phồn
thực là nhận thức rằng đàn bà sinh con, cầm thú đẻ trứng đẻ con, cây cỏ ra quả
là cùng một hiện tượng - sự tái hiện mầu nhiệm của đời sống. Suy nghĩ
miên man về cái chỗ cùngkỳ diệu ấy có lẽ đã dẫn đến sáng kiến cho trai
gái giao hoan để thú cầm, cỏ cây bắt chước mà sinh sôi nẩy nở thật
nhiều.
Nhưng nghĩ đến đấy thì
dường như người Việt đã chủ động dừng ngay lại. Vì nhìn kỹ, trọng tâm trong các
nghi lễ phồn thực của ta là hành vi giao phối, chứ không phải bản thân các sinh
thực khí. [10] Nõ và nường chẳng qua là đồ dùng
cần thiết để diễn màn kịch ăn nằm tượng trưng. Trường hợp những lễ hội mà trai
gái làng "bị" yêu cầu hay được khuyến khích thực hiện luôn hành vi then chốt,
thì thường không ai còn buồn nhặt mo cau, kiếm mu rùa, đẽo dùi gỗ làm chi nữa
cả!
Trái ngược hẳn với
chúng ta, người Ấn-độ tập trung chú ý vào "khí cụ". Tuồng như họ đã
vượt qua chỗ "hành vi" mà tiếp tục trầm tư mặc tưởng đến lúc giác ngộ ý nghĩa
thiêng liêng tối hậu, nhìn ra được thần kia thánh nọ trong sinh thực khí. Cái
phàm tục nhất bỗng hóa thần.
Cùng xuất phát từ ý
thức về tầm quan trọng của một hiện tượng thiên nhiên, mà chẳng bao lâu đôi
"người" đôi ngả, liệu sự việc ấy có nói lên gì
chăng?
Xét chung, trong mọi
quá trình chiêm nghiệm tâm linh, người Việt trước sau chưa hề chịu đi xa. Chúng
ta cũng tin vào cõi khác, vì cho chết là về
với tổ tiên. Nhưng cái cõi khác ấy mơ hồ, không định hình rõ rệt như trong các
tôn giáo lớn trên mặt địa cầu.
Dĩ nhiên, thế giới
siêu hình của người Việt xưa không hiếm "dân cư": nào Ông Trăng, Bà Trời, Bà
Sấm, Bà Sét, Bà Mây, Bà Mưa, Thần Núi, Thần Rừng, Thần Sông, Thần Cây, Thần Đá
v.v. Tuy nhiên, so với tình trạng "thần mãn" ở Ấn-độ, nơi thần thánh ngự trị đầy
đất chật trời [11], Bắc bộ có tương đối thưa thớt các
đấng thiêng liêng. Đã thua về "thần số", toàn bộ cõi khác
của ta lại kém về "thần chất". Phan Ngọc từng nhận xét: "Người Việt Nam nhìn thế
giới bên kia (...) theo cái khuôn mẫu làng xã (...) mờ mờ những vị thần không
phân biệt với nhau: như các hào mục trong làng."
[12]
Chốn thiên đình kém đồ sộ,
nguy nga, Ông kia Bà nọ không chói lọi bằng thần thánh trong các tôn giáo khác,
nguyên do hẳn ở sự thiếu vắng những ý niệm trừu tượng khái quát làm nền làm
khung làm hào quang.
Về tình trạng "sơ
khai" ấy, có
nhiều cách giải thích. Phổ biến một thời là chủ trương cho rằng ý niệm về
thế giới siêu hình của một dân tộc mà phong phú hơn, tỉ mỉ hơn thì văn hóa của
dân tộc ấy cũng cao hơn.
Ngẫm nghĩ, thấy chỗ
hơn kém ở đây không có liên hệ gì với chiều cao văn
hóa, mà cơ bản chỉ là kết quả của hai khuynh hướng đầu tư trí tuệ khác
nhau.
Dân tộc Việt Nam luôn hướng
mạnh về cuộc sống. Thái độ điển hình của người Việt đối với cư dân cõi bên kia
là cúng vái khi cảm thấy cần, như trường hợp thần linh, hoặc vì quan hệ, như
trường hợp ông bà tiên tổ, chứ ta không chịu bỏ thì giờ ra nghĩ ngợi viển
vông.
Không nghĩ nhiều, nghĩ lung,
thì cái "biết" khó đi đến chỗ hoàn chỉnh, hay chỗ cực đoan.
Trong tín ngưỡng phồn thực,
người Việt nhất định dừng lại ở ý nghĩa thiêng liêng của "dí", chứ không chịu
nhìn nhận lẽ huyền vi nằm ngay trong nõ, trong nường.
Kể, ta cũng có gọi cái
ấy là "thần", nhưng bằng một giọng khác hẳn giọng kính cẩn của người
Ấn-độ.
Ai chẳng biết câu ca
dao:
"Văn chương chữ nghĩa bề
bề...".
So với yoni nghiêm
trang xa cách, thần của ta hóm hỉnh thân mật hơn bao nhiêu, nhưng chửa chắc đã
kém thiêng!
7 -
2003
[1] - Will
Durant, Lịch sử văn minh Ấn-độ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê, nxb. T&T tái
bản ở Mỹ, 1989, tr. 285-286.
[2] - Phan Huy Lê, Trần
Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam,tập I, nxb.
Đại Học
và Trung Học Chuyên Nghiệp, Việt Nam, 1983, tr.
326.
[3] - Chu Quang Trứ,
Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, nxb. Mỹ Thuật,
Việt Nam, 2002, tr. 28-31, 109, 275-277, 560.
[4] - Nguyễn Đăng Thục,
Phật giáo Việt Nam, nxb. Mặt Đất in lần thứ nhất, Sài Gòn, 1974,
nxb. An Tiêm tái bản, Pháp và Mỹ, 2002, tr.
95-96.
[5] - Tạ Chí Đại Trường,
Thần, người và đất Việt, nxb. Văn
Học, California, Mỹ, 2000, tr. 174-176.
[6] - Nhiều tác giả,
Lễ hội cổ truyền, nxb. Khoa Học Xã Hội, Việt Nam, 1992, tr. 111-112,
322-355.
[7] - Hoàng Cầm - tác
phẩm, quyển một, Thơ, nxb. Hội Nhà Văn, Việt Nam,
2003.
[8] - Trần Quốc Vượng,
Trong cõi, nxb. Trăm Hoa, California, Mỹ, 1993, tr.
145-146.
[9] - Trần Quốc Vượng,
Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, nxb. Văn
Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 2000, tr. 69.
[10] - Trong Tìm
về bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. TPHCM, VN, 2001, Trần Ngọc Thêm cho rằng
"trong khi các dân tộc khác chỉ thờ sinh thực khí thì người Việt Nam (...) thờ
cả sinh thực khí lẫn hành vi giao phối" (tr. 241).
[11] - Theo Từ điển
bách khoa Britannica (2002), q. 26, tr. 549, thì có cả thảy
33,000,000 Hindu gods!
[12] - Phan Ngọc, Bản
sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa - Thông Tin, Việt Nam, 1998, tr.
292-293.