Home » » VỀ THÀNH TỐ "VĂN MINH" TRONG MỤC TIÊU CHUNG CỦA TOÀN DÂN TỘC (Tiếp theo)

VỀ THÀNH TỐ "VĂN MINH" TRONG MỤC TIÊU CHUNG CỦA TOÀN DÂN TỘC (Tiếp theo)

Written By kinhtehoc on Thứ Tư, 16 tháng 11, 2011 | 01:14

Có thể nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là một trong những sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở nhiều nơi, nhiều lúc, khi có dịp, Người đều bày tỏ lòng mong muốn “kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”(35), “xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do, bình đẳng, một xã hội cần, kiệm, liêm, chính”(36). Mục đích của cách mạng Việt Nam là “xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh. Làm cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng một xã hội sung sướng vẻ vang”(37). “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lí. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”(38). Tự do, theo Ph.Ăngghen, là năng lực hành động trên cơ sở nắm được cái tất yếu, còn theo một tác giả khác thì tự do là có thể làm bất cứ điều gì không hại đến người khác, không vi phạm quyền tự do của người khác. Mức độ phức tạp của các quan niệm trên đây về tự do có thể khác nhau, nhưng những cách giải thích ấy ít nhiều người dân có thể hiểu được, có thể tiếp nhận được. Trong khi đó, khái niệm văn minh quá đa nghĩa. Vì vậy, theo chúng tôi, ta nên nghĩ đến phương án thay thành tố “văn minh” bằng thành tố “tự do”. Việc thay này sẽ giúp người dân dễ hiểu hơn và do đó dễ làm hơn. Và, việc thay thế này thực ra không phải là một việc gì quá mới vì ngay từ năm 1946, giữa lúc ở trong nước thù trong không ít mà giặc ngoài cũng nhiều, đang câu kết với nhau gây cho ta rất nhiều khó khăn, có những khó khăn tưởng như không thể vượt qua được, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa những quyền tự do ấy vào “Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” - văn bản pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất của Nhà nước ta - lúc bấy giờ. Còn hiện nay, thế và lực của ta mạnh nhiều gấp bội so với 64 năm trước.
Trong bản Hiến pháp đầu tiên ấy được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 9/11/1946 với  eq \f(240,242) phiếu tán thành, tại điều 10 đã ghi:
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
- Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và nước ngoài”.(35)
Trong “Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi)” đã được bổ sung, sửa đổi theo Nghị quyết số 51/2001/QH11 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 ghi rõ:
- “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” (Điều 3).
- “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội” (Trích điều 53).
- “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật” (Điều 54).
- “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật” (Điều 68).
- “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” (Điều 69).
- “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 70).
Như vậy, trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, ngay từ đầu những năm 20 của thế kỉ XX, khi đang ở Pháp, Hồ Chí Minh đã quyết định trở về nước, đi vào quần chúng, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh để giành tự dođộc lập. Gần 10 năm sau, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi mọi người bị áp bức, bóc lột hãy gia nhập Đảng và đi theo Đảng để “đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân”. Lại gần 10 năm sau nữa, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, trong Chương trình của mình, Việt Minh đã ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Đến cuối năm 1946, nghĩa là chỉ hơn 1 năm sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, trong “Hiến pháp” đầu tiên do Quốc hội thông qua đã ghi rõ các quyền tự do mà công dân Việt Nam có quyền được hưởng. Các quyền tự do ấy đã được mở rộng hơn trong “Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi)” được Quốc hội khóa X thông qua ngày 25/12/2001. Đặc biệt, khi đế quốc Mỹ điên cuồng leo thang ném bom miền Bắc hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của nhân dân ta, Hồ Chí Minh đã tuyên bố một cách đanh thép: “Nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Vâng! “Không có gì quý hơn độc lập tự do”! Đó là điều mà Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu suốt hàng trăm năm ròng để lật đổ ách thống trị của bọn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại tự do, độc lập cho nhân dân, làm cho giang sơn thu về một mối.
Từ những điều được trình bày trên đây, chúng tôi một lần nữa xin phép kiến nghị:
1. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục giữ “văn minh” như một thành tố trong mục tiêu chung của toàn dân tộc thì Đảng và Nhà nước ta nên có một văn bản chính thức xác định rõ nội hàm của khái niệm “văn minh” mà chúng ta đang phấn đấu để thực hiện là gì, gồm những đặc trưng hay tiêu chí nào, mức độ mỗi tiêu chí ấy ra sao?
2. Còn trong trường hợp những điều trình bày trên đây có chút gì hợp lý thì nên chăng, chúng ta nên nghĩ đến phương án thay thế thành tố "văn minh" bằng thành tố "tự do". Việc thay thế đó không những phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và với mục tiêu mà Hồ Chí Minh cùng toàn Đảng, toàn dân tộc ta đã kiên trì đấu tranh để thực hiện trong suốt mấy thế kỷ qua, đồng thời còn phù hợp với khẳng định được C.Mác và Ph.Ăngghen nêu ra trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản về chủ nghĩa cộng sản: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người(39) (chúng tôi nhấn mạnh - L.H.T.). q


 

(*) Giáo sư, tiến sĩ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.10. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.271.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Hà Nội, 1-1994, tr.79.
(3) Sau này, vào năm 2001, Đại hội IX bổ sung thêm thành tố “dân chủ” nữa và coi “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là mục tiêu chung của toàn dân tộc (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 85 – 86).
(4) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.21. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.53-54.
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.21, tr.45.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.21, tr.43.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen. Tuyển tập (gồm 6 tập), t.6. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr.45.
(8) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.21. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.258.
(9) Xem: Từ điển bách khoa về triết học (tiếng Nga). Nxb Bách khoa thư Xô viết, Mátxcơva, 1983, tr.765 - 766.
(10) Xem: Bách khoa thư triết học mới (gồm 4 tập), t.4 (tiếng Nga). Nxb Tư tưởng, Mátxcơva, 2001, tr.332.
(11) Hữu Ngọc. Lãng du trong văn hóa Việt Nam. Nxb Thanh niên, Tp. HCM, 2008, tr.672.
(12) Xem: S.Hungtington. Sự va chạm của các nền văn minh. Nxb Lao động, Hà Nội, 2003, tr.33-34.
(13) Xem: Bách khoa thư triết học mới (gồm 4 tập). Sđd., t. 4, tr.334.
(14) Xem: S.Hungtington. Sđd., tr.34.
(15) Xem: S.Hungtington. Sđd., tr.34.
(16) Vũ Dương Ninh (chủ biên). Lịch sử văn minh thế giới. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2008 (tái bản lần thứ 10), tr. 7-8.
(17) Bách khoa thư triết học mới (gồm 4 tập). Sđd., t.4, tr.332.
(18) Xem: Hữu Ngọc. Sđd., tr.671, 669.
(19) Xem: Vũ Khiêu, Phạm Xuân Nam, Hoàng Trinh (đồng chủ biên). Phương pháp luận và vai trò của văn hóa trong phát triển. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 237.
(20) Theo bản dịch của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam.
(21) Xem: S.Hungtington. Sđd., tr.477.
(22) Xem: S.Hungtington. Sđd., tr.39-40.
(23) Xem: Hữu Ngọc. Sđd., tr.673 - 675.
(24) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.192.
(25) Xem: Hồ Chí Minh. Sđd., t.3, tr.1-10.
(26) Hồ Chí Minh. Sđd., t.3, tr.583.
(27) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr.1.
(28) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr.448.
(29) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr.22.
(30) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr.56.
(31) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr.161.
(31) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr.161.
(32) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr.98.
(33) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr.483.
(34) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 12, tr.108
(35) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 6, tr.173.
(36) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 6, tr.494.
(37) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 7, tr.220.
(38) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 8, tr.216.
(39) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.628
Share this article :
 
Support : Creating Website | phuctriethoc | NGUYỄN VĂN PHÚC
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved
By Creating Website Published by KINH TẾ HỌC
Proudly powered by NGUYỄN VĂN PHÚC
NGUYỄN VĂN PHÚC : Website | Liên hệ | phuctriethoc@gmail.com
Proudly powered by Triết học kinh tế
Copyright © 2013. NGUYỄN VĂN PHÚC - All Rights Reserved